Nhàn dưỡng sinh
(Nguyên bản phần đã thất truyền
này của Thẩm Phục có tiêu đề là Đạo dưỡng sinh (Dưỡng sinh ký đạo), Túc bạn có
nhầm thành Nhàn dưỡng sinh (Dưỡng sinh ký tiêu))
Từ sau khi Vân đi xa, lúc nào
tôi cũng buồn bã không vui. Sáng xuân chiều thu, du sơn ngoạn thủy, mắt dõi
lòng đau, chẳng buồn thì hận. Các bạn đọc nỗi sầu trắc trở của tôi, hẳn có thể
thấy hết những nghịch cảnh mà tôi từng gặp phải vậy.
Tĩnh tâm nghĩ cách giải thoát,
tôi đã định rời nhà ra đi một nơi thật xa, mà tìm Xích Tùng Tử ở ngoài cõi đời
này. Nhưng sau có hai anh em Đạm An, Ấp Sơn khuyên giải, tôi bèn tạm ở đâu
trong ngôi chùa khổ gần đó, duy lấy cuốn Nam Hoa kinh để tiêu khiển. Mới hay,
Trang Chu khi vợ chết lại vỗ chậu mà hát, nhẽ đúng là vong tình thực chăng? Hay
chỉ là không thể làm sao được, mà làm ra vẻ thông đạt như thế? Tôi đọc sách ấy,
dần có điều sở ngộ. Đọc thiên Dưỡng sinh chủ mà ngộ ra kẻ sĩ có cái nhìn thông
đạt, chẳng khi nào không an, chẳng cảnh nào không thuận, giữa chốn u minh có thể
cùng tạo hóa là một, như vậy thì còn có gì là được mà có gì là mất, có ai là chết
mà có ai là sống đây? Cho nên, cứ mặc kệ những gì mình nhận được, mà buồn vui sẽ
chẳng có chỗ nào để bám víu vào được nữa. Lại đọc thiên Tiêu diêu du, mà ngộ ra
cái yếu chỉ của đạo dưỡng sinh, chính là ở điều thư nhàn buông bỏ không cầu chấp,
vui lòng với những gì mình có. Khi ấy mới thấy hối cho chuyện tình si của mình
thuở trước, há chẳng phải như con nhộng tự kéo kén quấn mình ru? Ấy chính là điều
khiến tôi viết ra thiên Nhàn dưỡng sinh này vậy. Hoặc cũng có chỗ thu lượm lời
nói của các bậc tiền hiền mà mở rộng thêm ra, để quét sạch muôn nỗi phiền não,
chỉ cốt sao có ích cho thân tâm, ấy cũng tức là yếu chỉ của Trang Chu vậy. Chỉ
mong có thể bảo toan được cuộc sống, mà tận hưởng tuổi trời.
Tôi tuổi mới tứ tuần, mà dần
đã thấy có dấu hiệu gia yếu, ấy cũng bởi trăm nỗi ưu sầu tàn phá, trải năm u uất,
nào sự gì chẳng khiến mình suy tổn. Đạm An khuyên tôi môi ngày nên tĩnh tọa hít
thở mấy lần, bắt chước như cách của Tô Tử Chiểm trong Dưỡng sinh tụng, tôi đều
tuân thủ theo đúng như vậy mà làm, Phép điều hòa hơi thở, chẳng nệ khi nào, thẳng
người ngồi ngay ngắn, chính như Tử Chiêm nói là giữ thân ngồi yên tựa như tượng
gỗ. Cởi áo, lỏng đai, cốt sao thấy thoải mái, cuốn lưỡi trong miệng mấy lần, rồi
nhẹ nhàng thở trọc khí ra, không để thành tiếng, sau đó mũi lại nhẹ nhàng hít
khí vào. Hoặc mười lăm hay mười bốn bận, có nước miếng thì nuốt xuống. Đánh hai
hàm răng vào nhau mấy lần, để lưỡi chạm lên vòm miệng, môi răng ngậm chặt hai mắt
nhắm hờ sao cho vẫn nhìn thấy mờ mờ phía trước Rồi lại dần dần điều chỉnh hơi
thở, không gấp, không mạnh đều đặn từ tốn. Hoặc đếm hơi thở ra, hoặc đếm hơi
hít vào từ một đến mười, từ mười đến trăm. Chú tâm mà đếm, chớ có tán loạn,
chính như Tử Chiêm nói là “yên lặng ngồi nghiêm cùng với hư không”. Khi tâm đã
nương vào hơi thở rồi, tạp niệm không sinh, thì dừng lại không đếm nữa, để mặc
theo tự nhiên thế, chính là chữ “Tùy” mà Tử Chiêm nói đến. Ngồi như vậy được
càng lâu càng tốt, nếu muốn đứng dậy, phải từ từ vươn duỗi chân tay, chớ bất ngờ
đứng lên. Nếu có thể chuyên cần thực hành, thì trong quang cảnh tĩnh lặng, sẽ
thấy muôn vàn kỳ diệu, như lời Tử Chiêm nói là: “Định năng sinh tuệ, Tự nhiên
minh ngộ”, tỷ như người mù mà bỗng nhiên mắt sáng, thậm chí có thể minh tâm kiến
tính, chứ chẳng phải chỉ có dưỡng thân toàn sinh mà thôi đâu. Từng hơi, từng
hơi thở ra hít vào, như còn như mất, thần khí nương nhau, ấy chính là chân khí
vậy. Từng hơi, từng hơi đều quay về gốc, tự nhiên có thể giành lấy quyền tạo
hóa của đất trời, là diệu đạo trường sinh bất tử vậy.
Người nói to, ta nói nhỏ. Người
nhiều phiền muộn, ta ít ưu sầu. Người hay sợ hãi, ta không tức giận. Bình thản
vô vi, thần khí tự đầy, đó chính là thứ thuốc trường sinh. Bài Thu thanh phú có
câu: “Biết làm sao, nghĩ sức mình có chỗ không đủ, lo trí mình có chỗ không
hay, nên nỗi má hồng mơn mởn hóa nên cây khô, tóc đen anh ánh thành ra bạc đốm.”
ấy cũng là cái bệnh chung của bọn sĩ đại phu vậy. Lại nói: “Trăm lo cảm hoào
tâm, muôn việc nhọc nào mình, trong lòng đã xung động, tất núng đến tinh thần.”
Người ta thường vướng vào lắm lo lắm nghĩ, khiến vừa mạnh liền lão, vừa lão liền
suy, như thế cũng nên biết phép trường sinh. Lụa múa quạt ca, chớp mắt thành ảo;
lầu xanh má phấn, lập tức hóa không. Cầm đuốc thiêng mà rọi tình mê, xách gươm
tuệ mà cắt ái dục, nhẽ không có cái đại dùng thì chẳng thể làm được. Song, tình
tất có chỗ gửi gắm, chi bằng gửi tình mình vào cỏ cây, gửi tình mình vào thư họa,
thì có khác gì so với mỹ nữ diễm trang đâu, mà lại bớt được biết bao phiền não.
Ông Phạm Văn Chính (Tức
Phạm Trọng Yêm) có nói: “Bao nhiêu bậc hiền nhân thiên cổ, nào ai
có thể tránh được chuyện sinh tử, nào ai có thể quản được việc về sau. Một thân
mình từ chỗ Không mà đến, rồi lại trở về chỗ Không, hỏi ai là thân sơ? Ai hay
chủ tế? Một khi đã chẳng làm sao được, thì cứ phóng tâm tiêu dao, mặc kệ lai
oãng, cứ như cậu mà đoạn hẳn. Tâm khí dần thuận, thì ngũ tạng cũng hòa, thuốc
thang hiệu quả, mà ăn uống cũng ngon. Ngay như người uốn an lạc, chợt có một việc
lo, liền đã không thể ăn uống nổi, chứ huống chi là người bốn bệnh đã lâu? Đã
lo thân phải chết, càng lo việc về sau, bèn thành ra sống trong lo sợ, thì sao
có thể ăn uống cho nổi? Xin hãy rộng lòng mà ngừng nghỉ...” Đó chính là thứ
mà ông gửi cho người anh thứ ba trong nhà. Tôi gần đây nhiều điều lo nghĩ,
chính nên đọc một đoạn này.
Phóng Ông (Tức Lục Du
(1125-1210), nhà chính trị, nhà văn thời Nam Tống) tấm lòng quảng đại,
vì cùng một niềm phóng khoáng, nhàn dật như Uyên Minh, Lạc Thiên Nghiêu Phu, Tử
Chiêm, nên đối với cái đạo dưỡng sinh, có thiên ngôn vạn ngữ, thực có thể gọi
là một kẻ sĩ có đạo. Từ đây về sau, nhẽ nên tìm đọc thơ của Lục Phóng Ông, thì
chính có thể chữa trị được căn bệnh cho tôi vậy.
Việc tắm rửa rất có ích. Gần
đây, tôi có làm một cái bồn lớn, đựng nước thật đầy, ngâm tắm xong, thấy cực kỳ
sảng khoái. Trong thơ Tô Đông Pha có câu: “Chậu sơn móng gỗ chứa hồ sông: Cáu bẩn
nào đâu, tắm nhẹ không”, có thể nói tôi đã lĩnh hội được một vài vậy. Chữa khi
có bệnh, chẳng bằng chữa ngay khi không bệnh, mà trị thân lại chẳng bằng trị
tâm, để người chữa trị cho mình, càng chẳng bằng tự mình chữa cho mình trước.
Thơ ông Lâm Giám Đường có câu: “Tự mình có bệnh, tự mình hay; Khởi niệm thì nên
trị niệm ngay. Chỉ bởi tâm sinh tâm tạo bệnh; Tâm an nào có bệnh chi đâu?” Ấy
là nói phương thuốc tự chữa cho mình, là để tâm vào hư tĩnh, hướng chí vào vi
diệu, gửi lo vào vô dục, quay về với vô vi, thì có thể mạnh khỏe sống lâu, còn
mãi cùng với đạo.
Sách Tiên kinh lấy tinh, khí,
thần làm Nội tam bảo (ba báu vật bên trong), tai, mắt, miệng làm Ngoại tam bảo
(ba báu vật bên ngoài), thường phải sao cho Nội tam bảo không bị dao động theo
ngoại vật, mà Ngoại tam bảo không được dẫn dụ nội tâm nhiễu loạn. Trùng Dương
(Tức Vương Trùng Dương, tổ sư phái Toàn Chân) tổ sư suốt mười hai giờ
trong một ngày, đi đứng ngồi nằm, tất cả mọi cử động, đều phải giữ tâm tựa Thái
Sơn, không chút dao động, giữ chắc bốn cửa: mắt, tai, mũi, miệng, không cho tà
khí nội nhập, chân khí ngoại xuất, đó gọi là “Dưỡng thọ khẩn yếu”.
Ngoài không có việc nhọc thân,
trong không có hoạn lo nghĩ, lấy điềm đạm vui vẻ làm cốt yếu, lấy tự đắc đã có
làm công nghiệp, thì thân thể không mệt mỏi, tinh thần không tán loạn. Ích Châu
lão nhân từng nói: Phàm muốn thân mình không bệnh, thì trước tiên cần phải
chính tâm, khiến tam không cầu loạn, tâm không nghĩ cuồng, chẳng tham điều ham
muốn, chẳng để bị mê hoặc, thì tâm thần tự nhiên an bình vậy. Tâm thần đã an
bình, thì thể xác hình hài dẫu có bệnh, cũng chẳng khó chữa trị. Còn chỉ cần một
tâm này động, tất sẽ mời trăm thứ bệnh đến, khi ấy dù có Biển Thước, Hoa Đà ở
bên, thì cũng chịu bó tay vậy. Lâm Giám Đường tiên sinh có sáu bài thơ An tâm
thi, thực là yếu quyết để trường sinh vậy. Thơ rằng:
Ta
có linh đan một viên nhỏ;
Khá
chữa quần mê khỏi bệnh khổ.
Thuốc này đã uống tất thân an;
Khiến được diên niên lại trường
thọ.
*
An tâm tâm pháp có ai hay;
Diệu dược mô hình ấy chính
bài.
Trị được tâm kia thời chẳng bệnh;
Chuyển mình vào cảnh thái như
ngay.
*
Tạp niệm vì chưng nghiệp chướng
nhiều;
Bời bời rối loạn biết làm sao?
Đuổi ma tự có lời vi diệu;
An Lạc, Nghiêu Phu lối dẫn
cào.
*
Người có nhị tâm mới sinh niệm;
Niệm chẳng nhị tâm mới thực
người.
Nhân tâm bất nhị thời không niệm;
Niệm dứt, Tam Thanh trước mắt
rồi.
*
Đây đã dứt thời kia ắt dứt;
Ồn ào rối rít đều tỏ hết.
Mây tan muôn dặm thảy phong
quang,
Vành mạnh giữa trời một vùng
nguyệt.
*
Dưỡng khí hao nhiên bốn bể
chơi;
Tâm liền nước biếc, nước liền
trời.
Bên kia tự có anh chài hỏi;
Trong động, hoa đào mãi thắm
tươi.
Thiền sư cùng trò chuyện với
tôi về phép dưỡng sinh, nói: “Tầm như tấm gương sáng, chớ nên để cho bụi bám vậy,
Lại như nước lắng, chớ nên để cho sóng gợn”. Câu ấy so với lời của Hối Am
(Tức Chu Hy (1130-1200), triết gia, nhà lý học nổi tiếng đời Tống) nói
rằng: “Kẻ học giả thường phải luôn nhắc nhở lòng mình, tỉnh táo không mê muội,
như vầng nhật giữa bầu trời, khiến muôn tà ám đều tan hết”, thì cái yếu chỉ
cũng giống nhau vậy. Lại nói: “Mắt chớ nhìn bừa, tại chợ nghe bừa, miệng chớ
nói bừa, tâm chớ động bừa, tham sân si ái, thị phi ta người, tất thảy buông bỏ.
Việc chưa xảy ra chớ nên đón sẵn, gặp việc đến rồi chớ nên rối loạn. Một khi việc
đã không thể níu kéo được, thì cứ để nó tự đến, ứng theo tự nhiên, tin rằng tự
hết, thì bao nhiêu phẫn hận sợ hãi, vui thích lo âu, đều được chính đính.” Ấy
là cái cốt yếu để dưỡng tâm vậy.
Vương Hoa Tử nói: “Trai, tức
là Tề. (Chữ Tề (齊) - chỉnh
tề, cũng được dùng làm chữ Trai (齋)
nghĩa là chay, trai giới) Chỉnh tề tâm mình mà giữ sạch thân
mình vậy, há lại chỉ là ăn chay mà thôi đâu! Nói chinh tề tâm mình, tức là nhạt
tình chí, ít mưu cầu, nhẹ được mất, năng tỉnh tâm, xa tửu nhục. Nói giữ sạch
thân mình, tức là không vào đường tà, không nhìn ác sắc, không nghe dâm thanh,
không bị vật dụ. Vào phòng khép cửa, đốt hương tĩnh tọa, mới có thể nói là
trai. Thực có thể như vậy, thì trong thân mình thần minh tự an, thắng giáng
không chướng ngại, có thể trừ bệnh, có thể trường sinh.”
Căn buồng nơi tôi ở, bốn bên đều
có cửa sổ, gió quá thì đóng gió hết thì mở. Căn buồng nơi tôi ở, trước có rèm,
sau bình phong, sáng quá thì hạ rèm, để em hòa với ánh sáng bên trong quá tối
thì cuốn rèm, để lấy thêm ánh sáng bên ngoài. Để trong thì tâm an, ngoài thì mắt
an. Tâm mắt đều an, thì thân tất an vậy.
Thiền sư nói hai câu với tôi rằng:
“Vị tử tiên học tử, Hữu sinh tức sát sinh” (Chưa chết học chết trước, Có sinh
liền sát sinh). “Có sinh”, tức là nói những tà niệm mới nảy sinh ra, còn “sát
sinh” tức là nói phải lập tức trừ bỏ nó đi ngay. Câu này, cũng công hiệu như
câu “Vật công cật trợ” (Chớ quên chớ giúp)(Câu này trong thiên Công Tôn Sửu
thượng sách Mạnh Tử, ý nói: giữ quên, nhưng cũng không cố giúp cho một việc gì,
mà để nó thuận tự nhiên) của Mạnh tử nói.
Tôn Chân nhân (Tức Tôn Tư
Mạc (550-691), người Kinh Triệu, là y sư, đạo sĩ nổi tiếng đời Đường) có
bài Vệ sinh ca rằng:
Dưỡng sinh phải biết rằn ba nhẽ;
Đại nộ, đại dục, cùng đại túy.
Trong ba thứ ấy mắc một điều;
Phải phòng tổn hại chân nguyên
khí.
Lại có bài rằng:
Người đời muốn biết Dưỡng sinh
đạo;
Phải thường vui vẻ, ít giận
cáu.
Chính tâm, thành ý, bớt lo buồn.
Thuận lẽ tu thân, bỏ phiền
não.
Lại có bài rằng:
Say còn cố uống, nó cố ăn;
Thời có khi nào chẳng bệnh
mang!
Ăn uống là cho mình khỏe mạnh;
Xin đừng quá độ ắt thân an.
Ông Sái Tây Sơn (Tức Sái
Nguyên Định (1135-1198), tự Quý Thông, hiệu Tây Sơn, người Phúc Kiến, là nhà địa
lý phong thủy, môn nhân của Chu Hy) lại có bài Vệ sinh ca rằng:
Nào phải nuốt ráng, uống tiên
dược;
Lầm tưởng sống lâu sánh rùa hạc.
Ẩm thực ham mê, duy chỉ cần;
Chớ nên quá độ tất an lạc.
Ăn xong bước chậm trăm bước
dư;
Hai tay xoa sườn cùng bụng, ngực.
Lại rằng:
No nằm, sau ngủ, đều vô ích;
Khát uống, đói ăn, nhớ giữ
gìn.
Ăn chớ muốn to cùng muốn
chóng,
Thà rằng ăn ít, đói thì thêm.
Nếu cho một bữa no căng bụng:
Tổn khí, thương tì, họa chuốc
liền.
Lại rằng:
Uống rượu chớ nên sau túy lúy;
Say quá tổn thần, hại tâm trí.
Thèm rượu uống nước với châm
trà;
Lưng, chân, từ đó thành trì trệ.
Lại rằng:
Đi, đứng, nghe nhìn, chớ lâu
quá,
Ngũ lao thất thương thảo từ
đó.
Tứ chi cũng muốn được luyện
rèn;
Lề cửa thường xoay không mục rữa.
Lại rằng:
Đạo gia đã có thuật Trường
sinh
Thứ nhất, khuyên ai bớt giận dữ.
Phàm mấy lời này, nếu có thể
tuân theo mà làm, thì thành công tốt đến trong sớm tối, chớ cho đó là những lời
hủ nho tầm thường nhàm chán.
Quét buồng sạch sẽ, mở cửa sổ
phía nam, cho tám song thông sáng, chớ bày biện nhiều đồ ngoạn khí, làm rối mắt
rối lòng. Chỉ để ghế dài phản rộng, mỗi thứ một cái, bút nghiên tề chỉnh, bên cạnh
để cái kỷ nhỏ, treo một bức chữ, thi thoảng lại thay đổi. Trên kỷ để một, hai bộ
sách đắc ý, một bản cổ thiếp, một cây cổ cầm. Trong tâm mục thường khiến chẳng
nhiễm một hạt bụi trần. Buổi sáng ra vườn, trồng trọt rau quả, nhổ cỏ tưới hoa,
ươm cây thảo dược. Xong việc về buồng, nhắm mắt định thần. Thường đọc những sách
khoái ý, để di dưỡng tính tình; ngâm những câu thơ hay, mà sướng phát tâm ý.
Lâm cổ thiếp, (Cổ thiếp: tức là bản mẫu các bức thư pháp của người xưa.
Lâm cổ thiếp, tức là lâm tập (học viết theo) thư pháp trong cổ thiếp) vỗ
cổ cầm, thấy mệt thì nghỉ. Bạn tri kỷ tụ tập chuyện trò, chớ nói đến chuyện thời
sự, chớ nói đến chuyện quyền thế, chớ khen chê nhân vật, chớ tranh biện thị
phi. Hoặc hẹn nhau nhàn dạo, không áo không giày, chẳng ép mình mệt nhọc theo
điều lễ tiết. Uống ít chớ say, hứng trí thì thôi. Nếu quả được như thế, cũng thậm
thích ý. Đem mà so với việc phải tra chân vào rọ, vươn cổ vào tròng, qua lại cửa
khanh tướng, chịu cái lụy đeo ngọc cài trâm, há chẳng khác xa một trời một vực
ru?
Thái cực quyền thực chẳng một
môn quyền thuật nào có thể sánh được. Hai chữ “Thái cực” đã bao quát hoàn toàn
ý nghĩa của môn quyền thuật này. Thái cực tức là một vòng tròn, Thái cực quyền
tức là một môn quyền thuật do vô số vòng tròn nối nhau mà thành. Bất luận là một
cái đưa tay, hay một cái đặt chân, đều không thể rời cái vòng tròn ấy. Rời khỏi
vòng tròn ấy, thì là trái với nguyên lý của Thái cực quyền. Tứ chi toàn thân,
không cử động thì thôi, nếu đã cử động thì đều không được thoát ly vòng tròn
này, mọi chỗ đều thành vòng tròn, tùy hư hay thực. Trước khi luyện tập, đầu
tiên cần phải tốn thần nạp khí, tĩnh tọa mấy khắc, đó chẳng phải là việc thủ
khiếu giữ chặt thất khiếu) của Đạo gia đâu, mà chỉ là nên dứt hẳn mọi tư lự,
sao cho muôn duyên đều tĩnh vậy. Lấy chậm rãi làm nguyên tắc, lấy việc không mảy
may dụng lực làm yếu nghĩa, từ đầu đến cuối, liên miên không dứt. Tương truyền
rằng, Trương Thông người Liêu Dương, đầu niên hiệu Hồng Vũ đời Minh, phụng chiếu
về kinh, trên đường đi đến núi Võ Đang thì bị ngăn lại, đêm nằm mộng thấy một dị
nhân, trao truyền cho môn quyền thuật này. Mấy năm gần đây, tôi cũng theo luyện
tập Thái cực quyền, quả thấy thân thể khỏe hơn, hàn thử không xâm, dùng đó mà
giữ gìn sức khỏe, thực là chỉ có ích mà không có hại gì vậy.
Bớt nói nhiều, bớt thư từ, bớt
giao du, bớt vọng tưởng, duy chỉ có cung kính dưỡng tâm là một giây một khắc
cũng không thể bớt mà thôi. Ông Dương Liêm Phu (Tức Dương Duy Trinh
(1296-1370) nhà văn, nhà thư họa nổi tiếng cuối Nguyên, đầu Minh) có
bài Lộ phùng tam tấu từ (Lời ba cụ già gặp khi đi đường), viết rằng:
Thượng tẩu bước lại bảo:
Đạo
lớn trời bao la.
Trung
tẩu bước lại bảo:
Nóng
lạnh bớt xông pha.
Hạ tẩu bước lại bảo:
Lẻ gối nửa đời qua.
Tôi từng thấy một bài trong Hậu
Sơn thi, (Tức Hậu Sơn thị chủ - một tập thơ do Trần Sự Đạo đời Tổng biên tập
chú giải) cũng có ý ấy, đó là bài thơ của từ Ứng Cừ.(Ứng Cừ
(190-252): nhà văn học thời Tào Ngụy - Tam Quốc) Thơ thế này:
Xưa có người đi đường:
Trông thấy ba ông cụ.
Ai nấy trăm tuổi dư;
Cùng nhau làm cỏ lúa.
Bước lại hỏi ba cụ;
Làm sao được trường thọ?
Một cụ đáp lời rằng:
Hiền nội thô lại xấu.
Cụ thứ hai đáp rằng:
Liệu bụng, ăn vừa đủ.
Cụ thứ ba đáp rằng:
Tối nằm ngay ngắn ngủ.
Lời ba cụ đúng thay!
Khá noi, để trường cửu.
Cổ nhân có câu rằng: “Trông
lên thì chẳng bằng ai, Trông xuống cũng chẳng có ai bằng mình”, đó cũng là một
cách tìm vui tuyệt diệu vậy. So với người đói khát, thì được no là vui sướng,
so với người rét mướt, thì được ấm là vui sướng, so với người vất vả, thì nhàn
nhã là vui sướng, so với người bệnh tật, thì khỏe mạnh là vui sướng, so với người
hoạn nạn, thì bình an là vui sướng, so với người tử vong, thì được sống là vui
sướng. Bạch Lạc Thiên có câu thơ rằng:
Trên mẩu sừng sên giành giật
mãi;
Chớp lòe lửa đá gửi thân này.
Giàu nghèo mặc kệ cứ hoan hỷ;
Chẳng thấy môi cười, ấy kẻ
ngây.
Thơ của người đời gần đây cũng
có câu rằng:
Đời người cõi thế là cơn mộng;
Trong mộng làm sao khổ vọng cầu?
Mộng ngắn mộng dài đều mộng cả;
Hốt nhiên tỉnh dậy mộng còn
đâu?
Có thể nói cùng một vẻ khoáng
đạt như Lạc Thiên vậy.
“Thế sự mênh mang, quang âm
hữu hạn, xem ra sao phải vội vàng? Nhân sinh khó nhọc, so đoản luận trường, sao
chẳng biết tươi khô có số, được mất khôn lường? Thấy đấy gió thu Kim Cốc, trăng
tối Ô Giang, A Phòng cung lạnh, Đồng Tước đài hoang. Vinh hoa cây đọng móc, phú
quý cỏ đeo sương. Một thân đượm thấu, muôn nỗi quên không. Khoe chỉ đó lầu rồng
gác phượng, Nói gì đây lợi tỏa danh cương. Thanh nhàn yên tĩnh, hãy đem thơ rượu
say cuồng. Hát một khúc: về thôi chửa muộn; Ca một điệu: hồ hải mênh mang. Đúng
thời gặp cảnh, hái biếc tìm hồng. Hẹn mấy bạn tri âm thân thiết, ra ngoài nội
bên sông, hoặc cầm kỳ tùy thích, hoặc thả chén xuôi dòng. Hoặc nói chuyện thiện
căn nhân quả, hoặc luận điều kim cổ hưng vong. Cành hoa nọ ngắm nên gấm vóc; Tiếng
chim kia nghe tựa cung thương. Mặc kệ ai nhân tình phản phục, thế thái viêm
lương. Cứ du nhàn qua tuế nguyệt, thỏa tiêu sái với thời quang.” Những câu
trên chẳng biết của người nào viết, mà tôi đọc lên chẳng khác nào chợt tỉnh cơn
đại mộng, thế giới lửa nung bỗng được làn gió mát mà tan biến hết vậy.
Trình Minh Đạo tiên sinh
(Tức Trình Hạo (1032-1085), triết gia, nhà giáo dục, nhà lý học nổi tiếng thời
Tống) nói: “Ta bẩm sinh khí chất yếu ớt, nên rất chú ý dưỡng sinh. Đến
ba mươi tuổi thì dần mạnh thịnh, bốn mươi, năm mươi mới dần vẹn toàn. Nay đã bảy
mươi hai tuổi, mà cân cốt xem ra chưa giảm sút chút nào so với thuở thịnh thời.
Người ta nếu đợi tới già mới dưỡng sinh, thì có khác chi đến lúc nghèo túng rồi
mới tích lũy, dẫu có chăm chỉ thế nào cũng chẳng thể đủ. Miệng thì ít lời, tâm
thì ít việc, bụng thì ít ăn, có ba cái ít này, có thể trường sinh đến cảnh thần
tiên. Rượu nên bớt uống, giận nên mau qua, ham muốn nên hết sức áp chế, dựa vào
ba cái nên này, thì bệnh tật tự khắc ít mắc. Bệnh tật có mười cách có thể phòng
ngừa: Tĩnh tọa quan không thấy được Tứ đại(Tứ đại hay Thân tứ đại, từ ngữ
Phật giáo, ý nói thân người do bốn yếu tố: Nước, Lửa, Gió, Đất hợp lại mà nên) đều
từ hư giả mà hợp lại, ấy là một; Những phiền não hiện tiền, thì lấy cái chết mà
tỉ dụ, ấy là hai; Thường lấy những người những việc chẳng được bằng mình mà
khéo léo tự khoan giải, ấy là ba; Tạo vật khiến cuộc đời ta khó nhọc, khi mắc bệnh
lại được chút nhàn, nhẽ nên vui mừng, ấy là bốn; Nghiệp xưa nay gặp, chẳng thể
trốn tránh được, nên vui vẻ mà đón nhận, ấy là năm; Gia đình hòa thuận, không
có tranh cãi to tiếng, ấy là sáu; Chúng sinh ai cũng có bệnh của mình, hãy thường
quan sát mà chữa trị, ấy là bảy; Cẩn trọng phong hàn, giảm bớt ham muốn, ấy là
tám; Ăn uống thà giảm bớt chứ không thêm nhiều, nhà ở cốt thư thái chớ nên miễn
cưỡng, ấy là chín; Tìm những bạn bè cao minh, nói những chuyện vui vẻ lánh đời,
ấy là mười.”
Thiệu Khang Tiết (Tức Thiệu
Ung, tự Nghiêu Phu, hiệu An Lạc tiên sinh, là nhà Dịch học, nhà tư tưởng đời Tống.
Sau khi ông mất được ban thụy là Khang Tiết, nên hậu nhân thường gọi là Thiệu
Khang Tiết) ở trong An Lạc Oa, thường tự ngâm rằng:
Tuổi cao thân thể muốn ôn tồn;
Trong An Lạc Oa riêng vẻ xuân.
Co duỗi tứ chi tùy thích tớ
Nghỉ ngơi muôn việc thảy lìa
tâm.
Đông hàn cạnh bếp chăn êm quấn;
Hạ nóng bên tre chiếu mát nằm.
Ngày đếm hoa rơi nghe tiếng sở;
Đêm mời trăng sáng dạo đàn cầm.
Khó tiêu phòng sẵn, đừng ăn
quá;
Đủ ấm thời thôi, chớ mặc thêm.
Ai nói sơn ông lo việc vụng?
Cũng hay điều dưỡng lấy chân
thân.
Cái đạo dưỡng sinh, chỉ ở bốn
chữ Thanh Tịnh Minh Liễu, bên trong thì hiểu rõ thân tâm là không, bên ngoài
thì hiểu rõ vạn vật là không, phá tan mọi vọng tưởng, không chấp trước vào một
cái gì, thì chính là: Thanh tịnh minh liễu. Cái mầm độc của muôn bệnh, đều từ
“say đắm” mà sinh ra: Say đắm thanh sắc, sinh ra bệnh hư khiếp; Say đắm lợi lộc,
sinh ra bệnh tham lam; Say đắm công danh, sinh ra bệnh kiểu cách; Say đắm danh
tiếng, sinh ra bệnh lập dị. Ôi chao! Say đắm là thứ mầm độc quá lắm vậy! Phan
Thượng Mặc tiên sinh chỉ lấy một vị thuốc mà giải đi được, ấy là “lạnh nhạt” vậy.
Mây trắng núi xanh, đá dừng nước chảy, hoa đón chim cười, tiều phu gọi khe núi
đáp, muôn cảnh tự nhàn, chỉ có lòng người náo động.
Cuối năm tôi đến thăm Đạm An,
thấy bụi bám đầy nhà, nhưng ông ấy vẫn thản nhiên như thường. Tôi than rằng:
“Nhà cửa phải quét dọn sạch sẽ, cho phòng ốc rộng rãi, bụi bặm chẳng nhiễm mà ở.
Trước nhà trồng xen các thứ cây hoa, để xem muôn vật sinh trưởng. Đêm khuya
tĩnh tọa, có khi mở cửa để ánh trăng vào, cho đến tận sáng, sẽ thấy thiên địa vạn
vật, thanh khí từ xa tới nơi, cho lòng này cùng giao hòa, không hề có chướng ngại
vậy. Nay trong buồng để bẩn thỉu không dọn dẹp, dẫu chẳng cho là phiền lòng,
nhưng cũng e là sẽ chẳng giúp được gì cho thần trí sảng khoái.”
Từ năm trước lại đây tôi tĩnh
tọa ở nơi am vắng, rất nhanh trừ bỏ hết những thói quen cũ. Có khi hát rống rừng
xa, có lúc ngâm dài hang vắng, lại khi bơi thuyền buông câu nơi lòng suối vụng
hồ, khép tai mắt, quên tâm trí, lâu dài tựa cũng có sở đắc. Trần Bạch Sa nói:
“Không lụy bởi ngoại vật, không lụy bởi tai mắt, không lụy bởi vội vã đảo điên.
Diều bay cá nhảy, cơ ấy ở mình. Những ai biết được điều này có thể nói là giỏi
học, mà nhẽ đó cũng là chân quyết để dưỡng thọ vậy.”
Bậc thánh hiền chẳng có lý gì
mà không vui. Khổng Tử nói: “Lạc tại kỳ trung” (Niềm vui ở trong đó). Nhan Tử
nói: “Bất cải kỳ lạc” (Không đổi sự vui thích). Mạnh Tử lấy “Không thẹn không tủi”
làm vui. Sách Luận ngữ mở đầu đã nói đến chữ “Lạc”, sách Trung dung thì nói:
“Chẳng người nào không có điều tự đắc”. Trình, Chu học tập tìm tòi cái lạc thú
của Khổng, Nhan, đều là ý ấy. Cái vui của thánh hiền, tôi làm sao dám mong? Chỉ
trộm muốn bắt chước theo cái vui “có một ông lão, râu trắng phất phơ, vợ con
hân hoan, gà chó nhởn nhơ” của Bạch Phó (Tức Bạch Cư Dị (772-846), nhà thơ
nổi tiếng đời Đường) mà thôi.
Mùa đông, mùa hạ đều nên dậy từ
khi mặt trời vừa mọc, mùa hạ càng thích hợp. Khí sớm mai trong lành của trời đất,
khiến tinh thần sảng khoái vô cùng, để mất nó thì thậm đáng tiếc. Tôi ở ngôi
chùa trong núi, tháng hè cứ mặt trời mọc là dậy, hít thở lấy khí trong lành
thơm mát của cỏ nước. Sen còn chúm chím chưa xòe cánh, trúc còn đọng sương mà
nhỏ giọt, có thể nói là sướng khoái rất mực. Ngày dài giờ lâu, ngủ trưa mấy khắc,
đốt hương buông mành, trải tấm chiếu đào, ngủ đủ thì dậy, thần khí khoan khoái,
thực chẳng kém gì bậc chân nhân bên trời vậy.
Sướng tức là khổ, khổ tức là
sướng, có một vài điều chưa đủ, đâu hay chẳng phải là phúc? Toàn gia việc việc
đều như ý, một thân sự sự thảy tùy lòng, quang cảnh náo nhiệt cũng tức là cái dự
triệu cho sự lạnh lùng. Thánh hiền cũng chẳng thể tránh khỏi ách nạn, tiên phật
cũng chẳng thể miễn khỏi kiếp hỏa, ách nạn là để hun đúc cho thánh hiền, kiếp hỏa
là để luyện rèn nên tiên phật.
Nhạn theo vừng nhật, trâu thở
dưới trăng, mà khiến thế gian bận rộn; Ong lượm hương hoa, ruồi tìm hơi uế,
cũng là sinh kế nhọc nhằn. Cõi đời hối hả, chỉ lợi cùng danh, trói buộc sớm
trưa, tất tả nóng lạnh, thôi thúc tử sinh, đều là bị lầm lỡ bởi hai chữ danh lợi
ấy. Lấy cái lửa danh mà đốt tâm, thì dịch của tâm khô cạn; lấy con ong lợi mà
chích tâm, thì thần của tâm phải tổn hao. Nay muốn an tâm mà khỏi bệnh, nếu chẳng
đem hai chữ danh lợi rửa cho sạch hết thì làm sao cho được?
Tôi đọc Nhàn tình phủ của Sài
Tang ông, (Sài Tang ông: tức Đào Tiềm cũng gọi Đào Uyên Minh. Vì ông là
người huyện Sài Tang, Tầm Dương, nên cũng gọi là Sài Tang ông. Nhàn tình phủ,
Quy khứ lai từ, Ngũ liễu tiên sinh truyện là những áng văn nổi tiếng của ông) mà
cảm thán vì nỗi chung tình, đọc Quy khứ lai từ mà cảm thán về nỗi vong tình, đọc
Ngũ liễu tiên sinh truyện mà cảm thán về nỗi chẳng phải hữu tình cũng chẳng phải
vô tình, chung tình đấy mà lại vong tình đấy, quả thực là vi diệu. Bạn tôi là Đạm
Công rất mến mộ Sài Tang ông, sách chẳng cầu hiểu mà có thể hiểu, rượu chẳng hẹn
say mà có thể say. Đạm Công từng nói với tôi rằng: “Thơ hà tất phải năm chữ,
quan hà tất phải năm đấu, con hà tất phải năm giai, nhà hà tất phải năm liễu.”
Có thể nói là nhàn dật vậy! Tôi trong khi ngủ mơ, có làm được câu liễn rằng:
“Năm trăm năm đày xuống bụi hồng, khá thành chơi giỡn; Ba ngàn dặm mở toang biển
biếc, ấy chính tiêu dao.” Tỉnh dậy thuật lại cho Trác Đường nghe, Trác Đường
cho là phiêu dật đáng ngâm vịnh. Nhưng hỏi ai có thể thấu hiểu ý tứ này?
Lương công ở Chân Định mỗi khi
nói chuyện với người khác, hay mỗi tối ở nhà, tất tìm chuyện vui cười mà chuyện
trò với khách, rồi vểnh râu cười ngất, để cởi bỏ hết những mệt nhọc buồn bực uất
kết trong ngày, ấy thực là có được yếu quyết dưỡng sinh vậy. Từng có người
trong làng sống đã hơn trăm tuổi, tôi đến hỏi thăm xem có thuật gì, người ấy chỉ
cười mà rằng: “Người làng quê chúng tôi, nào có biết gì, duy cả đời chỉ luôn
vui vẻ, chưa từng hay phiền não bao giờ.” Điều ấy, há những kẻ ở trong trường
danh lợi có thể làm được ư? Xưa, Vương hữu quân (Tức Vương Hi Chi
(303-361), nhà thư pháp nổi danh đời Tấn) nói: “Ta rất mê trồng cây
ăn quả, trong việc ấy có một niềm vui sướng rất mực. Cái cây ta trồng, nở một
bông hoa, đậu một cái trái, để chơi đã thấy thích thú, được ăn lại càng ngọt
ngào.” Hữu quân có thể nói là tự thấy niềm vui cho mình vậy. Phóng Ông nằm mộng
thấy đến nơi tiên quán, làm câu thơ rằng: “Hiên dài nhìn xuống ao sen biếc; Gác
nhỏ trông sang núi sắn xanh” mà coi đó là thắng cảnh tột bực vậy. Tôi ở nơi thiền
phòng, rất sẵn cảnh thắng như vậy, có thể ngạo được cả với Phóng Ông.
Khi trước tôi ở Lưu Cầu, ngày
thì đi dạo khắp các nơi đầm không, suối biếc, trúc rợp, tùng cao, tối thì khêu
đèn ngồi đọc những thơ của Bạch Hương Sơn, Lục Phóng Ông. Đốt hương, pha trà, mời
đôi ba người quân tử đến cùng ngồi trò chuyện đối ẩm với nhau, như thấy tâm hồn
rộng mở, nhiều khi muốn bỏ mọi việc mà theo cùng rong chơi, thì cũng là một điều
giúp cho thân tâm được vui sướng vậy.
Tôi từ năm bốn mươi nhăm tuổi
về sau, chỉ mong tìm phép giúp tâm mình được an, để trong khoảnh một tấc vuông,
hư vô trống rỗng, sáng láng rõ ràng, phàm những sự hỉ nộ ai lạc, lao khổ sợ
hãi, quyết không để cho vào. Canh phòng tựa như nắm giữ một tòa thành, đem cửa
thành nêm chặt, mà từng giờ từng khắc đều tăng cường phòng thủ, chỉ sợ mấy kẻ
nói trên lẻn vào. Gần đây, dần thấy rất ít khi chúng lẻn vào cho được, mà chủ
nhân ở trong thành ấy đã thấy có vẻ được thư thái an nhàn. Đạo dưỡng thân, một
là thận trọng ham muốn, hai là thận trọng ăn uống, ba là thận trọng nóng giận,
bốn là thận trọng nóng lạnh, năm là thận trọng nghĩ suy, sáu là thận trọng phiền
nhọc. Chỉ cần có một trong mấy điều ấy, cũng đủ để gây bệnh tật rồi, làm sao có
thể không luôn thường cẩn trọng cho được?
Trương Đôn Phục tiên sinh từng
nói: “Cổ nhân đọc Văn tuyển mà ngộ ra lẽ dưỡng sinh, đắc lực ở hai câu: ‘Đá giấu
ngọc mà sáng núi; Nước gìn châu mà đẹp sông. Đó thực là câu chí ngôn vậy. Từng
thấy nơi đài hoa huệ, lan, thược dược, tất có một giọt sương đọng, nếu như giọt
sương ấy bị kiến sâu cắn mất, thì hoa sẽ héo vậy. Lại xem, cây măng khi mới mọc
lên, mỗi sáng tất có mấy giọt sương đọng trên ngọn, đến khi mặt trời mọc thì
sương mới thu lại mà về gốc, đến tối mới lại lên. Điền Gian (Tức Tiền Trừng
Chi, tự Ẩm Quang, hiệu Điền Gian lão nhân - nhà văn học, chí sĩ yêu nước cuối đời
Minh) có câu thơ rằng: Tối xem hạt móc đến đầu cây, chính là nghĩa
như vậy. Nếu sáng sớm vào vườn, thấy trên cây măng không có sương móc đọng, thì
cây ấy tất không thành trúc, nên bẻ vào làm món ăn thôi. Trên cây lúa cũng có đọng
sương, chiều hiện mà sớm thu, nguyên khí của người ta cũng hệt như vậy. Cho
nên, hai câu trên trong Văn tuyển, không thể không luôn luôn thể nghiệm xem
xét. Có được yếu quyết đâu phải ở nhiều lời vậy.
Chỗ tôi ở, chật hẹp chỉ đủ để
duỗi được chân, lạnh thì quây các thứ hoa mà lấy ấm, nóng thì đối gốc hòe lớn
mà buông rèm, cái điều tự thích của mình ở giữa khoảng trời đất chỉ có vậy mà
thôi. Thế nhưng, lùi một bước mà nghĩ, những cái tôi được trời ban tặng cũng
nhiều lắm rồi, bởi thế mà tâm bình khí tĩnh, không có ham muốn gì, cũng không
oán trách gì nữa. Đó là niềm vui sướng tự đắc những năm cuối đời của tôi vậy.
Phố Ông nói: “Cái tâm con người
ta rất mực linh động, không thể để nó mệt nhọc quá, cũng không thể để nó nhàn dật
quá, duy đọc sách là có thể dưỡng được. Người nhàn thích vô sự, cả ngày không đọc
sách, thì ra vào sinh hoạt, thân tâm không có chỗ neo đậu, tai mắt không có chỗ
dừng nghỉ, thế tất khiến cho tâm ý điên đảo, vọng tưởng sinh ra sân hận, phải ở
vào nghịch cảnh thì không vui, mà được ở vào thuận cảnh cũng chẳng vui vậy. Cổ
nhân có câu: “Quét nhà, đốt hương; đã đủ thanh phúc. Những người có phúc, thì
giúp thêm cho cái việc đọc sách; Những người vô phúc, thì lại sinh ra những điều
vọng tưởng.” Lời ấy mới đúng làm sao! Vả những việc không như ý trước nay, cứ lấy
con mắt của những kẻ không đọc sách mà nhìn, thì những tao ngộ giống như tôi từng
gặp phải, sẽ khó mà kham nổi vô cùng. Chẳng biết rằng người xưa còn có những việc
không như ý gấp hàng trăm lần thế, chỉ là ta chẳng để tâm thể nghiệm mà thôi.
Ngay như Đông Pha tiên sinh, đương khi thủ hiếu tang cha, mà văn chương vừa viết,
lại bị kẻ gièm pha hủy báng, khiến phải khốn đốn bị biếm trích lăn lộn ở khoảng
Triều Châu, Huệ Châu, gặp thời chân đất lội sông, ở bên chuồng trâu, thì tình cảnh
khi ấy thế nào? Lại như Bạch Hương Sơn không có con trai nối dõi, Lục Phóng Ông
phải nhịn đói, những chuyện ấy đều có ghi chép trong sách vở, mà họ chẳng phải
vẫn là những người nổi danh ngàn năm đó ư? Thế mà đều gặp phải những chuyện như
vậy! Thực sự bình tâm lại mà nhìn nhận, thì những chuyện chẳng như ý ở nhân
gian, có thể tan sạch làu làu. Nếu như chẳng đọc sách, thì chỉ thấy những điều
mình gặp phải khổ sở quá, mà cái tâm càng oán trách sân hận vô cùng, thiêu đốt
không an, nỗi khổ lại ra thế nào nữa! Cho nên nói, đọc sách là việc di dưỡng đệ
nhất vậy.
Đất Ngô Hạ, có Thành nam lão ốc
(Ngôi nhà cũ ở phía nam thành) của Thạch Trác Đường tiên sinh, trong nhà có Ngũ
Liễu viên, có cả thắng cảnh đá suối rất đẹp. Trong chốn thành thị mà có cái
quan thưởng như nơi đồng nội, thực là chốn thắng địa để dưỡng thần. Có âm thanh
của thiên nhiên, bổng trầm đứt nối, miên man mãi bên tại tôi. Thị thoảng lại
vang lên tiếng đàn chim trong rừng ríu ra ríu rít, tiếng làn gió nhẹ lay động
lá cây xào xào xạc xạc, hòa cùng tiếng dòng suối chảy róc ra róc rách, tôi thảnh
thơi nằm ngửa trên thảm cỏ xanh rờn khả ái, mắt nhìn mãi lên bầu trời trong; vắt
thẳm xanh, đó thực là một bức tranh tuyệt diệu. Đem so với Chuyết Chính viên, một
đằng ồn ã, một đằng tĩnh lặng, đúng là hơn đứt rất xa.
Chúng ta nên ở trong sự chẳng
khoái lạc, mà tìm lấy một cách để mình được khoái lạc. Trước tiên nên nhận rõ
việc sinh ra khoái lạc với chẳng khoái lạc, cố nhiên là ở hoàn cảnh mà mình gặp
phải thế nào, thế nhưng cái căn nguyên chủ yếu, lại là sinh ra và lớn lên tự ở
tâm mình vậy. Cùng là một người, cùng ở một hoàn cảnh giống nhau, nhưng tên
Giáp có thể chiến thắng nghịch cảnh, mà tên Ất lại bị nghịch cảnh chế phục. Kẻ
có thể chiến thắng nghịch cảnh, nhìn kẻ bị nghịch cảnh chế phục, sẽ cảm thấy có
khoái lạc. Cho nên không cần phải hâm mộ cái phúc của kẻ khác, mà oán hận cái mệnh
của mình, nếu không thì có khác nào tuyết lạnh thêm sương, càng khiến cho toàn
bộ cuộc đời mình bị hủy diệt vậy. Bất luận ở trong hoàn cảnh nào, chớ nên buồn
bực, mà hãy nên từ trong buồn bực ấy, nảy sinh tinh thần hy vọng và khoái lạc.
Tôi ngẫu nhiên cùng Trác Đường nói đến điều này, Trác Đường cũng cho là phải.
Nhà như thu tàn, thân như bóng
xế, tình như khói thừa, tài như chớp lóe, tôi bất đắc dĩ mà rong chơi trong
tranh, mà bỡn cợt trong thơ, đưa bút vẫy mực, để tự kêu lên niềm vui của mình,
cũng giống như cây cỏ buồn tình, tự mình khoe hoa, con chim rảnh rỗi, tự mình
khoe giọng. Vào tháng Tiểu xuân, (Tức tháng Mười âm lịch)một khoảnh
ráng vừa tạnh, một ngọn núi vừa sáng, một tiếng chim vừa thanh, một nụ mai vừa
nảy, mà một bài thơ, một bức tranh vừa làm xong. Cùng vui với mai, cùng được với
chim, cùng đứng với núi, cùng ôm với ráng, tranh tuy vụng nhưng cũng vẫn thấy
là khéo, thơ tuy đắng nhưng cũng tự cho là ngọt. Bốn vách đã nghiêng, một bầu
đã rạn, mà chẳng gì có thể khiến cho niềm vui thích trong tâm hồn phải giảm sút
vậy. Phố Ông soạn một câu đối, định đem treo ở thảo đường rằng: “Giàu sang
nghèo hèn, rốt khó xứng ý, biết đủ mới là xứng ý; Sơn thủy hoa trúc, chẳng mãi
chủ nhân, được nhàn ấy chính chủ nhân.” Lời lẽ tuy dân dã, nhưng lại rất chí
lý. Những núi sông danh thắng, hoa trúc đẹp kỳ trong thiên hạ biết bao nhiêu mà
kể, đại khái kẻ phú quý thì mệt nhọc vì danh lợi, kẻ nghèo hèn thì mệt nhọc vì
cơ hàn, nhưng sau rốt ít ai lĩnh ngộ được điều ấy. Có thể biết đủ, có thể được
nhàn, thì ấy là tự có được niềm vui của mình, ấy là khéo biết nắm lấy cuộc sống
vậy.
Tâm không an định, thì trăm nỗi
nhiễm xâm, ngàn lo nhiễu loạn, như gió thổi nước, khiến thường luôn nổi sóng,
chẳng thể nào mà dưỡng thọ được. Đại khái việc thực hành tĩnh tọa, thì lúc mới
đầu đều chẳng thể buông bỏ hết mọi vọng niệm ngay được, nên chuyên chú vào một
niệm trước, rồi từ một niệm dần chuyển sang không còn bất cứ niệm nào nữa, như
mặt nước tĩnh lặng không còn gợn sóng. Sau khi tĩnh lặng nhập định, sẽ thấy một
ý vị điềm đạm vô hạn, nguyện được cùng chung với người đời. Dương Minh tiên
sinh(Tức Vương Thủ Nhân (1472-1529), tự Bá An, hiệu Dương Minh, người Thiệu
Hưng, Triết Giang là nhà tư tưởng, nhà văn học, triết học nổi danh đời Minh) nói:
“Chỉ cần lương tri chân thiết, thì tuy theo việc cử nghiệp, cũng không làm lụy
đến tâm mình. Ví như khi đọc sách, biết có cái tâm gượng nhớ suông là không phải,
lập tức bỏ đi; có cái tâm dục tốc là không phải, lập tức bỏ đi; có cái tâm khoe
nhiều tranh khéo là không phải, lập tức bỏ đi. Như vậy thì dẫu có đọc sách cũng
chỉ là trọn ngày cùng thể nghiệm đối thoại với thánh hiền, là cái tâm thuần
theo lẽ trời mà thôi. Bất kể đọc sách gì, cũng chỉ là điều nhiếp cái tâm này,
làm sao có mệt nhọc gì cho được?” Xin chép lại lời này coi như là phép tắc để đọc
sách.
Ông Thang Văn Chính(Tức
Thang Bân (1627-1687) tự Khổng Bá, hiệu Kinh Nghiên, người Hà Nam, là nhà lý học,
chính trị gia đời Thanh, làm quan đến Công bộ Thượng thư, khi mất được ban thụy
là Văn Chính) khi làm Tuần phủ ở đất Ngô, hàng ngày chỉ ăn cơm rau,
ngẫu nhiên có hôm con ông mua về một con gà, ông hay được bèn trách rằng: “Làm
gì có kẻ sĩ nào không ăn cuộng rau mà có thể làm được đại sự đâu!” Rồi lập tức
sai mang gà đi. Trong khi ấy, những kẻ ăn thịt (Ý nói những người làm quan
lớn) ở đời, chỉ ra sức vơ vét hết những món mỡ màng, để tọng vào miệng,
nuốt vào bụng mình, cho là phần của mình được hưởng như thế. Nào có biết rằng
những thứ ngọt thơm béo ngậy ấy chính là thuốc độc làm hư nát ruột gan mình vậy.
Đại khái căn nguyên của muôn bệnh,
tất đều do ăn uống không tiết chế mà ra. Kiệm là để dưỡng liêm, đạm là để quả dục,
cái đạo an bần là ở đó, cái phép trừ bệnh cũng là ở đó. Tôi thích ăn tỏi, mà vốn
không ăn những món thịt giết mổ, đồ ăn chỉ cốt ở tiết kiệm. Từ khi Vân nương
qua đời, cái hộp hoa mai cũng không dùng lại bao giờ nữa, nhẽ cũng không bị
Thang công mắng nhiếc chăng! Lưu hầu, Nghiệp hầu (Lưu hầu tức Trương Lương
người thời Tần Hán theo giúp Lưu Bang lập nên nhà Hán, rồi đi ẩn. Nghiệp hầu tức
Lý Bí người đời Đường, từng được Đường Huyền tông, Đường Túc tông trọng dụng,
nhưng đều bị quyền thần oán ghét, hai lần ẩn cư ở Hành sơn) ẩn cư
trong làng mây trắng; Lưu, Nguyễn, Đào, Lý ẩn cư ở chốn làng say; Tư Mã Trường
Khanh ẩn trong làng ôn nhu; Hy Di tiên sinh ẩn trong làng thụy mộng, ấy thảy đều
là cái cớ thác mà lánh đời vậy. Tôi cho, làng mây trắng thì gần như là mờ mịt,
làng say, làng ôn nhu, thì nhẽ chẳng thể tránh bệnh mà sống lâu, chỉ có làng thụy
mộng là hơn cả vậy. Vọng ngôn dừng hết, bèn làm nên cảnh tiêu dao; Yên ngủ mộng
lành, liền bước tới làng êm ngọt. Tôi thường luôn dừng lại thật lâu, mà nhấm
nháp mùi vị trong đó, nhưng chẳng theo đường Hàm Đan, mà mượn cái gối kê vàng của
đạo sĩ (Điển tích Hoàng lương mộng theo truyện truyền kỳ Chẩm trung ký) vậy.
Đạo dưỡng sinh, chẳng gì lớn bằng
ăn ngủ. Rễ rau tuy thô cứng, chỉ cần ăn thấy ngon ngọt thì còn hơn sơn hào hải
vị. Ngủ cũng chẳng phải ở nằm nhiều, chỉ cần thực sự được ngưng thần đẹp mộng,
thì khoảnh khắc cũng đủ dưỡng sinh vậy. Phóng Ông thường lấy ngủ ngon là sướng
thích, mà việc ngủ cũng có bí quyết. Tôn Chân nhân nói: “Lòng có thể ngơi, thời
mắt tự ngủ.” Sái Tây Sơn nói: “Trước ngủ tâm, sau ngủ mắt”, đó thực là diệu
pháp mà chưa ai nói ra được vậy. Thiền sư bảo tôi điều hòa hít thở, có ba cách
ngủ là: kiểu Bệnh long miên, thì nằm co gối; kiểu Hàn viên miên, thì tay ôm gối;
kiểu Quy hạc miên, thì hai gối để kề sát nhau vậy. Tôi thuở thiếu thời thấy cha
tôi sau khi ăn trưa đều nằm ngủ chốc lát, thì sau khi lên đèn có làm việc tinh
thần vẫn phấn chấn. Dạo gần đây tôi cũng nghĩ sẽ học theo cách ấy, sau mỗi bữa
trưa, lại ngả lưng một lúc trên chõng tre, đến tối quả nhiên thấy tinh thần sảng
khoái, nên càng tin những điều mà cha tôi làm, nhất nhất đều có thể học theo được.
Tôi không làm tăng, mà vẫn có
ý cảnh của tăng nhân. Từ sau khi Vân mất, hết thảy mùi vị trên đời đều thấy
chán ngán, hết thảy duyên phận trên đời đều thấy buồn thương, làm sao trước nỗi
đảo điên chẳng tự thấy vô cùng hối hận cho được! Gần đây, lại thường cùng sư
già trò chuyện về lẽ Vô sinh, mà được hiểu thêm về lẽ luân hồi. Khấu đầu trước
đấng Thế Tôn, sám hối những lỗi lầm khi trước, đem thơ hiến Phật, lấy họa cúng
tăng. Tính họa nên tĩnh lặng, tính thơ nên cô độc, thì dẫu là thơ với họa, tất
cũng ngộ được thiền cơ, mà tiến bước vào đường siêu thoát vậy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét