Phụ lục
Sách phong Lưu Cầu quốc ký lược
(Lấy
theo ghi chép trong Ký sự châu của Tiền Vịnh)
Năm Gia Khánh thứ 13,(Tức năm 1808) triều
đình có chỉ sách phong cho Quốc vương nước Lưu Cầu, Chánh sứ là Thái sử Tề Côn,(Tề
Côn (1770-1815), tự Trừng Tiêu, người Phúc Kiến, đậu tiến sĩ năm Gia Khánh thứ
6, làm Chánh sứ sang Lưu Cầu năm Gia Khánh thứ 13) Phó sứ là Thị ngự
Phí Tích Chương(Phí Tích Chương, tự Hoản Tra, người Triết Giang, đậu cử
nhân năm Càn Long thứ 49, làm quan đến Phủ doãn phủ Thuận Thiên). Có Thẩm
Phục tự Tam Bạch, người Ngô Môn cũng cùng đi theo lo việc bút mực cho quan Thái
sử. (Câu này có lẽ Tiền Vịnh đã đổi cách xưng hô trong câu văn gốc của Thẩm
Phục từ ngôi thứ nhất (tôi) sang ngôi thứ ba. Vì bản thân Tiền Vịnh chưa từng
theo sứ đoàn đến Lưu Cầu)
Ngày hăm tám tháng Hai, ra khỏi
kinh sư. Đến ngày mồng hai tháng Năm nhuận, mới bắt đầu từ tỉnh thành Phúc Kiến
lên thuyền khởi hành. Thuyền dài hơn tám trượng, rộng hơn hai trượng, thân thuyền
trang trí màu vàng, trên cắm rất nhiều cờ xí. Hôm sau, hai sứ sách phong phụng
phù tiết và chiếu thư đến, hộ tống có Phúc Châu Tả doanh phó tướng Ngô An Bang,
đem theo hai trăm hai mươi quân binh biền, chia ra chèo hai chiếc thuyền, đều
có đặt súng pháo. Sứ sách phong cùng các tòng khách cùng ngồi một thuyền, gọi
là “Đầu thuyền”, các tay chèo cùng binh dịch trên dưới tất cả là hơn bốn trăm
năm chục người, ai nấy đều có thẻ bài đeo bên hông để làm chứng.
Mỗi ngày, thuyền nương sóng
triều mà đi được một, hai chục dặm. Đến ngày mười một, mới ra khỏi cửa Ngũ Hổ,
nhằm hướng đông mà đi, dõi nhìn chỉ thấy một màu xanh ngắt không biết đâu là
cùng. Nước biển một màu lục sẫm, dần xa dần thành màu lam. Ngày mười một (xét,
có lẽ là ngày mười hai), thuyền qua Đạm Thủy. Giờ thìn ngày mười ba, đã thấy Điếu
Ngư đài, hình trạng tựa như cái giá gác bút. Trên thuyền lễ vọng Hắc Thủy Câu từ
xa, tôi bèn dập đầu cầu khấn Thiên hậu, bỗng thấy một con bạch yến lớn như chim
âu, lượn vòng quanh cột buồm mà bay. Hôm ấy lập tức chuyển gió. Sáng sớm ngày
mười bốn, thì thấp thoáng trông thấy núi Cô Mễ, bắt đầu vào địa giới Lưu Cầu.
Giờ ngọ ngày mười lăm, xa trông thấy núi non một dải, như hình trạng con cầu
long, tên xưa gọi là Lưu Cầu, là lấy theo hình trạng ấy vậy.
Còn cách độ ba, bốn chục dặm,
trên thuyền bèn bắn ba phát pháo hiệu, khoảnh khắc thấy những thuyền nhỏ như
đàn kiến, ước độ vài trăm cái, theo gió lướt sóng mà đến. Trước nhất có thuyền,
đến đưa danh thiếp tặng lễ vật, trên thuyền có cờ, đề hai chữ Tiếp phong (đón sứ
sách phong). Viên quan đứng đầu đoàn thuyền ra nghênh tiếp là một viên Tử cân đại
phu, dẫn theo những thuyền nhỏ, đều được làm bằng một cây gỗ, dài chưa đầy một
trượng, rộng độ hai thước, cứ hai thuyền kết lại với nhau làm một như con cá
bơn. Người ta dùng các mái chèo ngắn, chia làm hai hàng, cùng kéo chiếc thuyền
lớn bằng dây chão, trông hệt như râu tôm. Có một người đội mũ đỏ, cầm cờ, gõ
chiêng, chính là một vị Tú tài quan xung làm Lĩnh đội áp bang vậy. Chưa bao
lâu, lại có thuyền khua chiêng kéo tới, là đoàn tiếp sứ thứ hai của quan Pháp
ti, cũng đưa thiếp thỉnh an. Đoàn tiếp quan thứ ba do quốc cữu dẫn đầu, đem
theo quan thông sự cùng lên thuyền chào hỏi, sứ sách phong sai từ chối mà miễn
đi.
Đến cửa khẩu, gọi là cảng
Na Bá, phía nam có giăng như bình phong, phía bắc xây đê bằng đá dài như cầu vồng,
để chặn nước triều lên xuống. Đầu đê có núi nhỏ, như con hổ nằm phục, dựng pháo
đài ở trên. Thuyền sách phong sắp cập bến, thì đã nghe ba tiếng đại pháo vang rền,
rồi tiếng chiêng trống, tiếng kèn đồng, cùng hàng vạn người đã sắp hàng tề chỉnh.
Kịp tiến vào cảng, mới trông thấy nhạc đội bày ban, chia hai hàng tả hữu. Phía
trước cắm hai lá cờ nền vàng mép đỏ, viết hai chữ Kim cổ (chiêng trống) lớn,
phía sau có hai người thổi ống sáo, hai người thổi kèn, bốn người đánh trống bốn
người đánh thanh la. Chỉ thấy trong tiếng nhạc du dương thi thoảng vang lên những
tiếng cắc cắc thùng thùng lẫn vào. Hai bên bờ, những người ta kéo nhau ra xem,
đông kể có tới hàng vạn, chẳng biết đâu là nam là nữ.
Thuyền sách phong thân nặng
không thể vào sát bờ được, bèn để ngang những thuyền nhỏ, gác ván lên làm cầu
phao từ bờ cho tới thuyền. Trên bờ có ba gian nhà, biển ngạch đề là Khước kim
đình, Quốc vương ra đón sẵn ở đó, tự xưng là Thượng mỗ - Thế tôn nước Lưu Cầu,
cũng dùng hốt màu đỏ. Vương đội mũ ô sa, hai cánh chuồn gấp khúc hướng lên
trên, mặc áo long bào màu xanh đen, thắt đai vàng, đi hia đen, dung mạo gầy gò,
tuổi chỉ mới hăm hai, quỳ đón ở trong đình. Chánh sứ bưng phù tiết, Phó sứ bưng
chiếu thư, lại nghe ba tiếng pháo nổ, bèn lên bờ, phụng phù tiết cùng chiếu thư
tới kiệu long đình. Hai vị Thiên sứ đều ngồi kiệu tám người khiêng. Đi đến giữa
đường, lại có đình Nghênh Ân, Quốc vương cho bày nhang án, dẫn theo bá quan,
hành lễ ba quỳ chín khấu đầu mà tiếp chiếu. Lễ xong, vương đi trước dẫn đường tới
quán Thiên sứ. Chính sảnh có biển đề là Phu mệnh đường, đón chiếu sắc đưa vào để
an vị ở chính giữa, Thiên sứ đứng hai bên tả hữu, Quốc vương lại dẫn bá quan
hành lễ thỉnh thánh an, rồi sau đó mới theo lễ chủ khách tiếp Thiên sứ, mời ngồi
dâng ba tuần trà, rồi từ biệt trở ra. Thiên sứ tiễn đến dưới sân, vương khiêm
nhường bái tạ, rồi cũng ngồi kiệu tám người khiêng hồi cung.
Ngày mười sáu, đón Thiên hậu
vào Thiên hậu cung. Thiên sứ ra khỏi sứ quán, các miếu cùng đốt hương đáp bái
Quốc vương. Sứ giả trở về sứ quán, lên ngồi trên đại đường, quân võ biền hộ tống,
dẫn thủy binh mặc giáp sắp hàng vào tham kiến, để tỏ uy xa vậy.
Chế độ trong quán Thiên sứ thảy
đều mô phỏng lối Trung Hoa, phía trước dựng hai lá cờ, trên cờ có hai chữ Sách
phong lớn. Bên cạch dựng đình kèn trống, mỗi ngày đều tấu nhạc ba lần vào các
giờ thìn, ngọ, dậu, đứng sắp hàng ở đối diện cửa giữa. Thanh la, hiệu ốc, cũng
như nhạc hôm ra đón thuyền sứ, nhạc tấu xong, thì ai nấy cùng giải tán. Phía
ngoài hai cửa viên môn đông tây, đều rải cát trắng, sáng lóa như tuyết. Phía
trong nghi môn, tức là nhà Phu Mệnh đường. Phía sau nhà ấy, có nhà thông đến tận
lớp hậu đường thứ tư. Phía đông nhà, có lầu gọi là Trường Phong các, là chỗ
Chánh sứ ở, còn phía tây nhà thì là nơi Phó sứ ở. Lên lầu đều có thể nhìn được
ra rất xa. Hai bên giải vũ đông tây đều hai mươi gian, là chỗ ở của những người
tùy tòng. Tường vây xung quanh sứ quán dày lắm, đều xây bằng đá tảng, đá nhiều
hoa văn, lại có những lỗ nhỏ, trông hình tựa những cái đầu lâu. Trên tường trồng
loại cỏ, lá như lá rau diếp, chẳng cần đất cũng mọc, mùa thu, đông vẫn xanh tốt.
Đến ngày sóc tháng Bảy, sắp sửa
cử hành nghi lễ truy phong ngự tế. Lấy bốn viên tòng quan, một người bưng chiếu
thư, một người bưng phù tiết, một người tuyên chiếu, một người bưng lụa (Lụa
dùng làm lễ vật phúng điếu). Trước đó một ngày, quan thông sự trình nghi
chế, sắp kiệu ngựa, mời các tòng quan đến miếu tiên vương tập dượt nghi lễ. Kiệu
trông như cái lồng hạc, đan bằng nan tre, bên ngoài sơn đen, trong dán giấy trắng,
trên đỉnh có cái vòng lớn, lấy một đòn gỗ mà khiêng, cao cách mặt chỉ tầm năm tấc.
Mọi người đều theo cửa bên trái đi vào, khoanh gối mà ngồi. Cũng có sắp đủ gối
dựa, ống nhổ, tẩu thuốc trong đó. Ngựa chỉ như con ngựa câu bé, cắt bờm như lừa,
tính rất xấu, mỗi con ngựa phải cần một người dắt, yên đệm bàn đạp, cũng hơi
khác với Trung Quốc, bước đi chậm chạp, như ngựa Tiểu Xuyên vậy.
Giờ tỵ, ra cửa Đông Viên, qua
Thánh miếu, đi về phía đông nam chừng ba dặm, đến cầu An Lý, đường đi đều bằng
phẳng. Qua cầu vài bước, tức chỗ gọi là Tiên vương miếu, có núi non bao bọc, miếu
nằm ở giữa, bóng cây um tùm, lá tựa lá hồng mà sắc xanh sẫm, gọi là cây ba la mật
(mít). Hai phía đông tây có cổng chào sơn đỏ, ở giữa là cửa tam quan, đỉnh bằng
mà không có biển ngạch gì. Đi mười bậc thềm lên, thấy có tòa nhà ba gian, đặt
ghế ngồi cho Quốc vương và Thiên sứ ở giữa. Lại vào tới hậu đường, thì tức là
Tiên vương điện. Điện có năm gian, hai giải vũ hơn mười gian. Trước thần chủ để
trong điện bày ba ngự án, án ở giữa là phụng tiết án, án bên trái là phụng chiếu
án, án bên phải là phụng bạch án. Dưới mái hiên phía tây điện, đặt đài đọc quay
ra hướng đông nam.
Đến giờ thìn ngày hôm sau,
Thiên sứ ra khỏi sứ quán, đến các miếu đốt hương. Trở về, thì Tam pháp ti cùng
các ở đó chuẩn bị kiệu long đình, thái đình, cùng nghi trượng chiêng trống, tập
hợp ở ngoài cửa sứ quán. Đợi đến khi mở cửa, thì tấu nhạc, vào chào hỏi xong
xuôi, rồi rước long đình, thái đình vào. Chánh sứ bưng phù tiết, Phó sứ bưng
chiếu thư, đều mặc triều phục, các tòng quan cũng mặc mãng phục ngũ phẩm. Các
quan bản quốc cùng hướng về phía sứ giả cung kính tiếp đón phù tiết, chiếu thư,
tiền, lụa cùng an vị vào trong kiệu, rồi đứng hai bên tả hữu. Dưới thềm nổi nhạc,
quan dẫn lễ tuyên xướng, các quan bản quốc cùng quỳ, hành lễ chín lần khấu đầu.
Rồi nổi pháo hiệu, các quan bản quốc đi dẫn đường, sắp đủ cả nghi trượng, đều lấy
binh lính Trung Quốc làm việc ấy, số mặc đồng phục cưỡi ngựa, ước chừng hơn hai
trăm người. Theo sau là đồ lỗ bộ, rồi kiệu thái đình đi trước, kiệu long đình
đi sau. Các tòng quan, tá sứ đều che lọng đỏ, cưỡi ngựa theo sau long đình, hai
vị Thiên sứ đều được ngồi kiệu bát cống. Bên đường, trai gái tụ tập đứng xem, kẻ
đứng người ngồi, lớp lớp như vẩy cá, nhưng ai nấy trật tự im lặng, chỉ nghe thấy
tiếng vó ngựa lộp cộp gõ xuống mặt đường mà thôi.
Đến cầu An Lý, Quốc vương
mặc bào tía đội mũ sa đã đem bá quan quỳ đón ở bên trái đường. Long đình tạm dừng,
Quốc vương cùng các quan bình thân đứng dậy, hai sứ xuống kiệu bước tới trước,
chia ra đứng ở hai bên tả hữu long đình. Quan dẫn lễ xướng hô, Quốc vương cùng
các hành lễ ba quỳ chín khấu đầu mà tiếp chiếu. Lễ xong, Quốc vương và các quan
lại đi bộ trước dẫn đường. Đến cửa miếu, thì theo cửa cuốn phía đông đi vào, đứng
dưới sảnh. Thiên sứ ra, xuống kiệu, các tòng quan cũng xuống ngựa, đỡ long đình
theo cửa giữa mà vào. Đến giữa sân, viên quan bưng phù tiết trao phù tiết cho
Chánh sứ, viên quan bưng chiếu trao chiếu thư cho Phó sứ, rồi cùng theo vào điện
tiên vương, ai nấy phụng phù tiết, chiếu thư để lên ngự tọa đã được bày sẵn, rồi
lui xuống đứng ở thềm phía đông, quay mặt về phía tây. Viên quan tuyên chiếu đứng
ở dưới đài đọc chiếu, mặt quay về phía đông. Hai bên giải vũ cùng tấu nhạc,
quan dẫn lễ đưa Quốc vương, từ thềm phía đông bước tới trước hương án, quy mặt
về phía bắc. Người châm hương quỳ mà dâng hương lên cho Quốc vương. Quốc vương
cũng quỳ, dâng hương ba lần, xong lại được dẫn xuống dưới thềm. Vương cùng các
quan ai nấy vào đúng vị trí quỳ bái, hành lễ ba quỳ chín khấu đầu bái chiếu
thư. Lễ xong, nhạc ngưng, lại lui xuống đứng ở giải vũ phía đông, trước chỗ thần
vị Thế tử, quay mặt về hướng tây. Nhạc lại nổi lên, Thiên sứ bưng tiết, chiếu đứng
ở chính giữa. Quan bưng chiếu từ thềm phía đông tiến lại nhận lấy chiếu thư, rồi
lập tức nâng cao, rồi theo cửa giữa xuống thềm, có lọng vàng che, bước lên đài
đọc chiếu. Quan tuyên chiếu cũng cùng đi theo đến dưới hương án trên đài. Nhạc
ngưng. Quan dẫn lễ hô “Quỳ!”, Quốc vương cùng các quan đều quay về phía bắc mà
quỳ, phủ phục dưới chỗ thần vị của Thế tử. Quan dẫn lễ hô “Mở đọc!”, quan tuyên
chiếu bèn bước đến chính giữa hương án tuyên đọc to chiếu thư. Tuyên đọc xong,
lại bưng chiếu xuống đài, che lọng vàng, theo cửa giữa đi vào, trao cho Phó sứ
để yên lại trên ngự tọa. Quan dẫn lễ đưa Quốc vương và các quan ai nấy lại vào
vị trí quỳ bái, hành lễ ba quỳ chín khấu đầu tạ ơn truy phong. Quan dẫn lễ hộ:
“Thoái ban!”, Quốc vương mới vào trong miếu, mời sứ giả tạm nghỉ, thay áo, rồi
dâng trà lên.
Xong lễ truy phong, Quốc vương
thay áo bào đen, đai sừng, đến trước thần vị của tiên vương. Sứ giả lại chia ra
đứng hai bên ngự án theo như nghi thức trước. Quan Pháp ty thỉnh chiếu thư, tế
văn, để thờ cúng ở trong miếu. Thiên sứ bèn đến trước thần vị tiên vương, hành
lễ một quỳ ba khấu đầu, Quốc vương và các quan đều phủ phục ở bên cạnh thần vị.
Lễ xong, quan dẫn lễ xướng “Thoái ban!”, Quốc vương bèn bưng thần chủ tiên
vương, theo thềm phía đông vào điện, cúng phụng xong, lại hành lễ tạ phong một
quỳ ba khấu đầu với sứ giả, sứ giả cũng đáp bái lại.
Xong lễ ngự tế, Quốc vương lại
thay triều phục, sứ giả cũng thay áo, rồi cùng đến tiền đường, hành lễ gặp mặt
an tọa. Thiên sứ ngồi giữa quay mặt hướng nam, Quốc vương ngồi phía tây, quay mặt
về hướng đông bắc. Không sắp nhạc đội, trà rượu đều đích thân dâng lên. Sứ giả
từ tạ, quan Tử cân đại phu dâng mời thay. Thiên sứ dâng đáp lại, Quốc vương
cũng đứng dậy từ tạ. Rồi ai nấy cùng vào bàn dự yến. Các tòng quan thì dự yến ở
giải vũ phía tây. Rượu cùng món ăn đều do Tú tài quan quỳ mà dâng lên. Pháp ty
quan thì đứng bên cạnh tiệc làm bồi yến. Yến tiệc xong xuôi, Quốc vương đi trước
dẫn đường, lại đến trước ngự án, Chánh sứ phụng phù tiết trao cho quan bưng phù
tiết đặt vào trong long đình. Sứ giả đi xuống dưới thềm, cùng bái chào từ biệt
Quốc vương, các tòng quan cũng cùng Pháp ty quan bái biệt. Ra cửa miếu, Quốc
vương và bá quan đã đi trước, đến dưới cầu An Lý, đợi long đình tới, thì cùng
quỳ tiễn, Thiên sứ cũng xuống kiệu bái chào, rồi về sứ quán.
Tối ấy, Quốc vương sai quan đến
thăm hỏi cảm tạ. Hôm sau, Thiên sứ cũng sai Tuần bổ quan vào vương phủ đáp tạ.
Đến ngày hai mươi sáu tháng Bảy,
mới làm đại lễ sách phong. Cách một hôm, các tòng quan đến vương phủ để tập dượt
lễ nghi trước, từ miếu tiên vương qua hai dãy núi nhỏ phía đông, đi trên lưng
núi, đường cũng rất bằng phẳng. Dân chúng sống ở dưới núi, ruộng vườn như gấm,
tre trúc um tùm. Đi được ba, bốn dặm, mới thấy một cổng chào cao, trên viết hai
chữ Trung Sơn lớn. Qua hơn trăm bước, lại có một cổng chào, viết hai chữ Thủ Lễ.
Chính giữa đường, xây một đài vuông bằng đá, trên trồng một khóm vạn tuế, để
làm lai long (Thuật ngữ phong thủy, chỉ long mạch chầu vào). Tiếp đến, thấy muôn cây che rợp, tường lũy dựng dày, trên
chỗ cao nhất cung điện nguy nga, đã đến nơi vương phủ Trung Sơn vậy.
Cửa
phủ hướng tây, trên có địch lâu. (Địch lâu : lầu trên cổng thành, dùng làm
đài quan sát giúp canh phòng giặc) Vào cửa, rẽ sang hướng nam, dần
lên cao mấy bậc, có một cửa quay hướng bắc. Bên cạnh có một con suối,
tạc một hình đầu rồng vào đá, để cho nước suối từ miệng rồng phun ra. Đó là mạch
nước tốt lành của Trung Sơn, nên gọi tên là Thụy Tuyền. Phía trên có cửa, gọi
tên là cửa Thụy Tuyền. Trên cửa có đài đồng hồ. Lại ngoặt sang phía đông đi vào
cửa thứ ba, thấy sân phẳng rộng rãi, đặt ba cửa xếp thành hàng, hướng nam, thế
rất hùng tráng. Vào cửa, tức là vương điện, có một đường đi thông ở giữa rất rộng,
lát bằng những phiến đá vuông sắc tía lớn. Lại đi vào, là chính điện năm gian,
thềm rộng hơn một trượng, ước cao độ năm thước, vây quanh bằng lan can đá trắng,
chia làm ba lối bậc lên xuống, hai bên chỗ bậc lên xuống ở giữa dựng một đôi thạch
trụ có hình rồng quấn quanh. Trong điện không có bảo tọa, mà có một đài, chỉ
cao tầm một thước, gọi là đài Lâm Chính, có lan can sơn son vậy quanh, cũng trải
đệm bông, tựa như cư thất của thứ dân. Phía sau đặt một bình phong vàng, phía
trên là Ngự Thư lâu, phàm những biển ngạch của các đời hoàng đế Trung Quốc ban
tặng đều treo ở đó. Hai bên đông tây là hai dãy buồng tiện điện (Tiện điện:
cung điện riêng dành cho người có việc tư chầu vua) với hành lang, mỗi
bên có ba gian, dùng làm nơi cho Thiên sứ yến ẩm, cũng đem những biển ngạch mà
sứ sách phong xưa nay tặng, treo ở hai bên. Mở cửa sổ phía sau ra xem, có thể
ngắm được biển, cột son kèo vẽ, đơn giản mà màu mè. Trên thềm, lại đặt ba ngự
án. Đầu phía đông, quay về hướng tây đặt đài Khai Độc, cao hơn một trượng. Trên
đường thông đạo, chỉ đặt chiếu cỏ bốn bên cạp điều làm chỗ quỳ bái cho Quốc
vương mà thôi.
Ngày hôm sau, sứ giả theo các
quan văn võ cùng tùy tòng đến phủ, cũng như nghi thức truy phong lần trước.
Vương làm lễ chín khấu đầu xong, yến hội Thiên sứ ở tiện điện phía tây, còn
tòng quan và tân khách thì ăn yến ở tiện điện phía đông, dâng trà, dâng rượu
cũng như nghi thức trước, chỉ có số người đến xem là đông hơn nhiều, vì có thêm
quyến thuộc của quan viên văn võ nước ấy dựng lán rạp ở hai bên đường. Lại có
những kẻ dắt già đỡ trẻ, kể tới hàng mấy vạn người, thực là một đại cảnh quan vậy.
Hôm sau, vương lại thay áo mũ,
như kiểu áo mũ của quan Hoàng môn đời Hán, ngồi kiệu rồng, trong đặt chỗ ngồi
sơn son vẽ vàng, dùng bốn đòn cáng, trước sau là mười sáu người khiêng. Kiệu ấy
' cao ngang mái hiên, nghi trượng thì dùng bốn đôi cờ vuông lớn làm tiền đạo, kế
đến là sáu đôi trường đao, sáu đôi trường thương. Lại có hơn chục đôi các thứ
như phủ việt, (Phủ việt: rìu và búa lớn, hai loại vũ khí thời cổ) họa
kích, giáo nanh sói, đều cán dài hơn trượng. Lại có một cái lọng đỏ, viền rủ ba
lớp, cùng hai đội nhạc chiêng trống xen vào giữa. Gần ngay bên kiệu, thì đôi quạt
lông gà cán dài, một quạt lông công, một đôi quạt tròn, một cái quạt tán, hai
đôi lò xách tay. Theo phù cùng kiệu Quốc vương, đều là các Tử kim đại phu và Đô
thông sự quan đi bộ theo sau. Lại có bọn đồng tử hơn chục tên, ăn vận như phường
hát, tên nào tên nấy cùng cầm phất trần, quạt tròn, cùng đi phù giá. Vương đến
sứ quán bái tạ, cũng như lần trước. Dọc đường đi, điểm xuyết từng đoạn lại có
trang trí, hoặc đan dậu thấp mà bày chậu hoa, hoặc xếp giả sơn mà trồng tùng
bách, đặt tượng hươu, hạc, cắt giấy làm hoa, mắt trông chẳng xuể.
Lệ cũ, hàng tháng mỗi khi đến
ngày năm thì Quốc vương lại sai quan tới thỉnh an, đến ngày mười thì tự mình tới
thăm. Sứ giả từ tạ mấy lần, bèn mỗi khi gặp ngày mười thì sai Quốc tướng tới
thăm. Nghi thức là: sứ giả đặt ngai ở sảnh đường, Quốc tướng, Tam pháp ty hành
lễ, sứ giả ra khỏi chỗ đứng bên cạnh chắp tay. Tử kim đại phu thì đứng nghiêm,
còn lại đều ngồi ngay ngắn, cho họ khấu xong thì lui. Các tòng quan khi gặp gỡ
thì chỉ cùng vái một vái dài mà thôi.
Xét, Lưu Cầu quốc truyện, từ đời
Thiên Tôn thị thời Hán đến nay, đều là họ Thượng, tận tới đầu niên hiệu Hồng Vũ
đời Minh, mới theo lịch chính sóc của Trung Quốc. Nước ấy vốn có ba vương Nam,
Bắc, Trung, đến đầu bản triều mới gộp lại là một. Đất ấy thảy đều là núi mà
không có ngọn cao, cũng không có thành quách. Địa giới nước ấy rộng chừng vài
trăm dặm, chia làm ba phủ. Chỗ Quốc vương ở gọi là Thủ Lý phủ, cũng có tên là
Thủ Lễ phủ, các đại thần giữ việc nước phần đa ở đó. Thứ đến là Cửu Mễ phủ, khoảng
niên hiệu Vĩnh Lạc (nhà Minh) có dời người Trung Hoa đến đó, dạy cho họ biết
văn học, có hai mươi tư họ, nối đời ở đó, nắm việc văn tự giấy tờ, cũng tựa như
Hàn lâm viện của Trung Quốc vậy. Thứ ba là Na Bá phủ, các nhà buôn bán đều ở
đó. Những nhà sĩ hoạn trong nước đều là nối đời làm quan, nối đời ăn lộc, tuy
theo chế độ nhà Đường, lấy thơ chọn kẻ sĩ, nhưng ứng khảo đều là con em nhà mũ
áo vậy.
Tiền tiêu dụng của nước ấy đúc
gọi là tiền Khoan Vĩnh, bạc một lạng có thể đổi được một ngàn sáu trăm đồng tiền.
Hình phạt không có trảm (chém), giảo (treo cổ), già hiệu (gông và bêu tội trạng).
Có người phạm tội thì đưa đến Tam pháp ty xem xét trừng trị. Nhẹ thì đánh roi,
nếu tội nặng thì cho một chiếc thuyền độc mộc nhỏ, đuổi ra ngoài biển, đi đâu
tùy ý, rồi chiếu sung quân. Nặng hơn nữa, thì mổ bụng mà ném xuống biển.
Dân chúng ở đó đều ăn khoai
lang, một năm ba vụ, mỗi gánh giá không quá một trăm đồng. Cũng trồng kê, mạch,
lúa, đậu, nhưng người ở đó không dám ăn no, chỉ dành để khi cần đãi khách mà
thôi. Dân chúng phần lớn mặc áo vải thô, không chuộng việc tằm tang.
Nước ấy sở thuộc gồm có ba
mươi sáu đảo, hoặc xa hoặc gần nhưng đều cách trùng dương. Các thứ chim thú
cũng giống như Trung Quốc, duy loài có vảy thì quá nửa là cá biển, có thứ tôm lớn
như cái thăng cái đấu, cua lớn như cái nón lá. Cá thì hoặc màu lam hoặc màu hồng,
chẳng thể biết hết tên được, mùi vị rất tanh, mà họ cũng không phân biệt ngon dở
gì cả. Rượu thì có rượu nóng, có rượu ngọt, cũng có cả rượu trắng hơi đặc như
tương, do đàn bà con gái trong nước nhai cơm rồi ủ thành, có vị ngọt, chỉ có
chút hơi men vậy.
Người cả nước ấy tầm vóc đều
không có ai cao lớn, dân an vật thịnh, chưa từng nghe có chuyện trộm đạo bao giờ.
Chợ không có hàng quán, cũng không có quán trà, quán rượu. Nhà cửa phần đa bốn
mặt đều có mái đổ nước, và không rộng lớn cho lắm, cũng không có cái nào để
thông ba gian, chung quanh bưng ván. Trong buồng đều lát ván gỗ, sàn cao hơn mặt
đất độ hai thước, trên mặt sàn trải chiếu nệm cạp vải, gọi là Đạp cước miên.
Nam nữ đều ngồi trên mặt sàn. Cửa lớn cửa sổ đều soi hai rãnh, để lắp cửa đẩy
ngang mà đóng mở, vì thế cột phần lớn là cột vuông, chất gỗ như gỗ hoàng dương,
được mài đánh rất bóng. Trước sân cũng có giả sơn, phần lớn đục chạm tinh xảo,
mặt đất thì đổ cát trắng, màu hoa sắc lá soi bóng thanh u. Hoặc ken trúc làm dậu,
nhà ở ẩn bóng dưới tán lá xanh um tùm trong đó. Người đi lại trên đường rất ít,
cả ngày đều tĩnh mịch, cũng không nghe thấy chuyện đánh nhau cãi cọ, chỉ thỉnh
thoảng nghe thấy tiếng đàn hát mà thôi.
Phía tây sứ quán có khu chợ của
đàn bà, tất cả những đồ khí dụng, thực phẩm, vải vóc, áo cũ, giày mới, đều được
những người đàn bà đội trên đầu mang đến, rồi ngồi xuống đất mà bán, những người
đàn bà ấy đều gọi nhau là “ái di” (dì yêu). Chỉ có đàn ông mới dùng vai gánh,
còn đàn bà thì dùng đầu đội. Bất luận là lúa, gạo, dầu rượu, bao túi, giỏ
rương, dẫu nặng hàng trăm cân cũng đều đội trên đầu cả, trước nay chưa thấy có
ai bị rơi đổ bao giờ.
Tục ở đó, có thày thuốc, nhưng
không có thầy bói toán, chiêm tinh xem tướng. Có sư, mà không có đạo sĩ, cũng
không có ni cô.
Có ngôi chùa tên là Lạc Thiện ở
phía sau sứ quán, rào tre nhà thấp, không sơn vẽ gì, hành lang quanh co, bóng
cây che rợp. Ngoài sân đào một hồ nhỏ, cá vàng bơi lội. Chùa không có tiếng
chuông khánh, càng thêm vẻ u tịch. Chùa Định Hải, ở trong đê Trường Hồng của Na
Bá, phía bắc nhìn ra bể lớn, trông mênh mang không biết đâu là cùng. Tại đó
cũng có Thánh miếu, ở cách phía đông sứ quán chừng nửa dặm, hình thức cũng giống
như Trung Quốc, nhưng điện đình thấp nhỏ, sai các ông Tú tài luân phiên nhau
trông giữ.
Chế độ mũ áo, con trai từ mười
sáu tuổi thì cạo chỏm tóc chính giữa đầu, để lại tóc mai bốn xung quanh, buộc
thành một búi, cài cây trâm hoa mai độ ba tấc. Vương cùng Quốc tướng, Pháp ty
quan thì dùng trâm bằng vàng ròng, Tử cân đại phu thì dùng trâm cuống vàng, mũi
bạc, còn các quan khác đều dùng trâm bạc, thứ dân thì dùng trâm đồng. Kiểu mũ
thì dài, tròn, đỉnh bằng (bình đính) như mũ tăng ni, mà trước sau có hoa văn gấp
khúc màu đen. Những người có chức sắc thì dùng khăn lụa hồng, đại phu thì khăn
lụa vàng, từ Tử kim quan trở lên thì đều dùng khăn lụa tía. Quốc tướng, quốc cữu
thì dùng khăn gấm tía. Thứ dân thì đội khăn lá sen màu xanh sẫm, chức dịch thì
dùng khăn lụa xanh. Áo mặc giống kiểu áo đạo sĩ, cổ áo dài, tay áo rộng tới một
thước bốn năm tấc, màu sắc thì chuộng xanh, đỏ. Thường phục thì tùy màu sắc. Thắt
lưng to bản, ước rộng tới bốn tấc. Từ Quốc tướng cho tới thứ dân đều đi dép cỏ,
gọi là Tát bá, hình thức như hài cỏ của Trung Quốc, khoảng giữa đế lắp một quay
ngang, rồi cắm một chốt cao chừng nửa thốn nối với quai ấy, khi đi thì xỏ bàn
chân vào quai, rồi kẹp chốt vào khe ngón chân cái (Đây tức một loại dép xỏ
ngón). Vì thế, đầu tất chân phải, chân trái đều để một chẽ riêng ngón
cái, không dùng lẫn được. Tất rất ngắn, chỉ đến mắt cá chân thôi, phải dùng dây
buộc, nam nữ đều như thế.
Con gái ở đó không bó chân,
không cạo mặt, không xỏ lỗ tai, tóc không buộc, mà dùng dầu sáp trát lên, rồi
kéo hết lên giữa đỉnh đầu, trông như bông hoa mẫu đơn, tức chính như người ta vẫn
nói là mẫu đơn đầu vậy, sắc bóng như sơn. Trâm dài bảy tấc, to như ngón tay út,
làm thành hình bát giác. Cuống trâm như cái thìa canh, cắm nghiêng về phía trước,
chất vàng bạc cũng tùy hạng người mà có phân biệt, theo như phẩm cấp của chồng
vậy. Vợ dân thường thì dùng trâm sừng hoặc đồi mồi. Áo cũng như đàn ông, nhưng
dài chấm đất, không thắt đai, không có nút, lấy cái vạt áo trong bỏ vào trong cạp
quần, rồi tay phải giữ vạt áo ngoài mà đi. Những người chưa lấy chồng thì buộc
cái khăn tay ra ngoài để mà phân biệt. Tay áo có cái rộng tới hơn hai thước.
Đàn bà tuổi quá ba mươi, thì trên mu bàn tay xăm thành một đốm đen, tuổi càng
cao, đốm xăm càng nhiều, tới già thì bàn tay đen hết cả, chuyện này không thể
hiểu ra làm sao.
Việc giao tế với nhau, khi
khách đến, thì cởi tát bá để ở cửa, vào nhà ngồi bệt xuống sàn. Chủ nhân ra, ai
nấy cùng cúi mình gật đầu làm lễ chào nhau. Tiểu đồng cầm bình trà trông như quả
đào, rót một nửa chén trà, chủ nhân nâng lên mà mời khách. Khách nhận lấy, rồi
nâng lên cao ngang trán, sau đó mới uống, để tỏ ý tôn kính. Các thứ khác cũng
tương tự thế. Người ở đó cũng hút thuốc, mỗi người trước chỗ ngồi đều đặt một ống
điếu, một hỏa lò, một ống nhổ, gọi chung cả bộ đồ ấy là đả ba cổ bằng. Ấy là vì
thuốc thì họ gọi là đả ba cổ, còn khay đèn thì gọi là bằng vậy. Ống điếu dài chỉ
độ một thước, thuốc hút rất cay. Sau khi ngồi đối diện với nhau, họ hoặc chuyện
trò, hoặc đánh cờ, mệt thì nghiêng mình xuống mà nằm.
Mỗi khi yến hội, họ đều rất tiết
kiệm, đồ ăn không quá bốn món, dùng một mâm sơn đen chia ô ra mà đựng. Rượu thì
chỉ một chén nhỏ, để trong mâm nhỏ sơn son, cũng chuyền nhau mà uống. Rượu say
rồi thì ngồi nằm hát hò làm vui. Cơm thì nói là Ốc mãn, cháo thì nói là Ốc cai,
ăn thì nói là Tam tiểu lý, cá thì nói là Du, thịt thì nói là Hí, vịt nói là Áp
phi lạp, trứng nói là Khoa giáp, mèo nói Mạt nha, dầu nói là Ám đạm, gạo nói là
Liệu, đi nói là Nhất quýnh, hôm Sơ, ngày mai nói là A tước, đi chơi nói là A hi
tì, cầm lại nói là Mạc cấp liệu, tốt nói là Thu lạt sa, không chịu, không được,
không thích đều nói là Một ba yết, không hiểu thì nói là Tất các lãng. Một nói
là Để kỷ, hai nói là Đả kỷ, ba nói là Mễ kỷ, bốn nói là Hựu kỷ, năm nói là Nhất
kỷ kỷ, sáu nói là Vinh kỷ, bảy nói là Nại nại kỷ, tám nói là Nha kỷ, chín nói
là Cốc cốc nô kỷ, mười nói là Đà kỷ. Duy có trà vẫn nói là Trà, giá áo vẫn nói
là Giá áo, áo nói là Khâm sách. Mì thì nói là Sách miến, cũng lại nói là Mộc
cát lợi quả. (Chỗ này tác giả ghi phiên âm tiếng nói của người Lưu Cầu, có
thể thấy trong đó nhiều từ tương tự trong tiếng Nhật hiện đại vẫn dùng. Ví dụ:
Cháo, tiếng Nhật hiện vẫn đọc là Okayu...) Ba thứ này đại khái xuất
xứ từ Trung Quốc, cho nên vẫn gọi theo tên như cũ. Các giống cây hoa cỏ rất nhiều,
chẳng thể nào kể lại hết được. Cách gọi tên các vật khác, tựa như đều có âm mà
không có chữ vậy.
Nước Lưu Cầu cũng có diễn kịch.
Thiên sứ sang, thì dựng một sân khấu ở trước tiện điện, cao ngang thềm, rộng chừng
ba trượng. Phía sau sân khấu có một gốc tùng lớn, cành vươn ra tận ngoài hiên,
có kết lụa nhưng không có đèn, những người ca múa không phải là con hát, mà đều
là con em những nhà áo mũ trong nước đảm đương, tuổi đều mười sáu, mười bảy,
không có người già. Lúc mở màn, không có trống chiêng gì, chỉ nghe sau sân khấu
liên tục gõ phách tre, rồi liền thấy một lão nhân đội khăn lá sen, khoác chiếc
áo choàng màu vàng sậm, tựa như áo choàng lông hạc, thắt lưng đai xanh, tay cầm
gậy song, râu trắng phất phơ, dẫn theo tám tên nam tử, đầu tóc búi cao, mình mặc
áo hoa trắng nền đỏ, lưng thắt đai đen, ai nấy trên tay cầm một cành hoa đi
quanh sân khấu mà múa, như bộ dạng dâng hoa. Lại có đồng tử rung trống mà chạy
quanh xuyên qua trong đó. Tiếng hát thì từ sau sân khấu vọng ra. Họ không thổi
sênh thổi sáo, chỉ dùng đàn dây hòa theo. Kịch bắt đầu, chỉ chia ra các màn, và
nói mà thôi. Đó là câu chuyện kể về họ Thiên Tôn mở mang đất Lưu Cầu, mà ca múa
thái bình, gọi tên là Tam chúc vũ.
Lại nghe tiếng phách trúc vang
lên, người diễn đóng làm bốn đồng nữ đi ra, mái tóc cài hoa Kim phượng, trên
trán buộc cái khăn lụa tía, mặc áo choàng đỏ, dài quét đất, ngoài quấn một tấm
đỡ che lưng bằng sa xanh sẫm dát vàng, ai nấy cầm trên tay hai cái quạt giấy, nối
nhau thành hàng mà ra, ca múa xong thì lui, đó gọi là múa quạt.
Cuối cùng diễn một đoạn truyền
kỳ, tên là: Thiên duyên kỳ ngộ, con cái vui vầy. Đầu tiên có vai kép, đóng làm
một tiểu phu, áo xanh mũ đen, tên gọi là Minh Ngải Tử. Tiếp đến có một vai đào
ra, đẹp lắm, đầu tóc chải búi cao, tóc phía sau còn buông xuống vai, mình khoác
một áo choàng dài quét đất bằng lụa trắng in hoa năm màu, bên trong có áo ngắn
màu đỏ, trên vai quấn một dải lụa đỏ phất phơ, đóng làm tiên nữ, từ trên cây
tùng bước xuống giữa sân khấu, lập tức cởi dải lụa đỏ đem treo lên cành cây, tựa
như làm ra vẻ xuống tắm. Minh Ngải Tử bèn lấy trộm dải lụa ấy giấu đi. Tiên nữ
bị mất dải lụa, sợ hãi không thể bay về trời được, cùng Minh Ngải Tử hỏi thăm
chuyện trò hồi lâu, bèn thành vợ chồng. Hai người sinh được một con gái tên là
Chân Hạc, tuổi vừa lên chín, lại có một con trai tên là Tư Quy, năm tuổi. Cả
hai đều do bọn trẻ con bảy, tám tuổi đóng, môi đỏ răng trắng, ăn vận giống lắm.
Bấy giờ, tiên nữ ru cho hai con ngủ ngoan trên giường xong, bỗng nhiên tìm thấy
dải lụa, bèn dần dà lên trên ngọn tùng. Chuẩn bị bay về trời, nàng tiên nhìn xuống
con trai, con gái, diễn ra vẻ thương khóc. Hai đứa con chợt giật mình tỉnh dậy,
cùng kêu gọi dưới cây. Tiên nữ đã lên đến đỉnh ngọn tùng, bỗng có đám mây trắng
từ trên sà xuống, để làm khuất lối diễn viên đi. Đám mây ấy làm bằng bông trắng.
Minh Ngải Tử cũng truy tìm đến dưới cây tùng cùng con trai, con gái trông gốc
cây mà khóc lớn. Bỗng có một vị Đại phu đi ra hỏi chuyện Minh Ngải Tử, quay về
tâu lại cho Quốc vương biết. Vương bèn vời cha con họ đến ban cho tước lộc, và
nhận đứa con gái vào cung nuôi dưỡng. Ấy là câu chuyện từ hồi mới mở nước, cây
tùng phía sau sân khấu được trồng chuyên chỉ để diễn cho tích này. Cây ấy cao lắm,
phải đến hàng trăm năm tuổi vậy.
Lại nghe tiếng phách tre vang
lên lần nữa, có bốn đào nhỏ đóng làm bốn người con gái, trang phục cũng như
tiên nữ nhưng không có dải lụa, đầu đội cái nón năm sắc, đàn hát chậm rãi mà đi
lên. Múa một lúc, thì ai nấy bỏ nón, lên xuống đi quanh rồi vào, gọi là múa
nón.
Lại diễn một đoạn truyền kỳ,
tên là Tôi chúa quên mình cứu nạn rửa hờn. Một vai kép, hai bên trán bôi son, vẻ
mặt trẻ nhỏ nhưng tóc bạc phơ, đội nón gió bằng gấm đoạn dát vàng, mình mặc áo
gấm đoạn màu đồng hun, bên ngoài có bối tâm màu thanh thiên có hình rồng vây
vàng, lưng đeo bảo đao, tay cầm mũ đâu mâu gắn quạt, tự xưng là Án ty, tên là
Bát Trọng Lại. Án ty, dường như là cách gọi chư hầu của nước ấy vậy. Trên đường
đi, gặp Ngọc Thôn Án ty, có phu nhân rất xinh đẹp, Bát Trọng Lại bèn giết Ngọc
Thôn mà cướp vợ. Người vợ không chịu theo, tuẫn tiết mà chết. Người con trai của
họ trốn tránh đến nhà ông chủ lớn Bình An. Bát Trọng Lại muốn đi lùng bắt mà giết
đi cho khỏi di hại. Con trai một gia nhân của Ngọc Thôn tên là Quy Thọ, mới từ
biệt mẹ đến nhà ông chủ Bình An, gặp cậu chủ của mình, xin lấy thân mình đóng
giả cậu chủ, để mọi người đem ra dâng cho Bát Trọng Lại mà chết thay. Cậu chủ
không nghe, tựa như chuyện thay giam đổi chết trong Nhất phủng tuyết (Tên
vở kịch do Lý Ngọc - người cuối Minh, đầu Thanh soạn. Trong đó, có kể người đầy
tớ nhà họ Mạc là Mạc Thành thay chủ chịu chết) vậy. Rồi đó, cậu chủ
mới bằng lòng. Ông chủ Bình An có người gia tướng, tên gọi Cát Do, vờ trói Quy
Thọ giả làm con Ngọc Thôn, đem nộp cho Bát Trọng Lại. Bát Trọng Lại bèn lệnh
cho giam lại, bắt chịu đủ cực hình rồi định giết chết. Cát Do giả hàng xin vào
dưới trướng. Lại có đại thần của Ngọc Thôn tên là Ba Bình khởi nghĩa, cùng hợp
binh với ông chủ Bình An, tôn con trai của Ngọc Thôn lên làm Tiểu án ty báo thù
cho cha, phá cửa quan mà tiến vào, giết Bát Trọng Lại dưới trướng, cứu được Quy
Thọ ra, và lại lập con trai Ngọc Thôn làm Án ty. Đây là câu chuyện vào cuối thời
Minh, khi nước ấy chia làm ba vương nam, bắc, trung vậy. Tiểu án ty do một thiếu
niên tuấn tú, tuổi chừng mười hai, mười ba đóng, ăn vận như Tiểu Thanh trong
màn kịch Thủy đấu, (Tức một màn trong vở Bạch xà truyện) chỉ
không mặc váy. Phàm có những cảnh chiến đấu, đều không diễn ngoài sân khấu, mà
vào trong hậu trường chỉ làm ra tiếng trống phách quát hét mà thôi.
Lại thấy tiếng phách tre vang
lên, thấy có bốn tên nam tử đầu đội khăn hồng, mình mặc áo hoa, lưng thắt đai rộng,
đùi quấn lụa xanh, tay giữ trống bồng, vỗ kêu long bong. Lại có bốn đứa nhỏ, ăn
vận cũng như thế, nhưng tay cầm đoạn tre ngắn, gõ kêu lách cách, nhún nhảy khắp
sân khấu, vừa gõ vừa nhảy, gọi là múa trống bồng.
Lại diễn một đoạn truyền kỳ,
tên gọi: Dâm nữ thành ma, nghĩa sĩ toàn thân. Một kép trẻ ra sân khấu, tuổi chừng
mười lăm, mười sáu, đóng làm một hậu duệ người Hán ở Cửu Mễ phủ, tên là Đào
Tùng Thụy, đầu đội nón lá nhỏ, kiểu cách như ruột nón che nắng ở Trung Quốc, mà
lớn chừng cái nồi gang nhỏ, mặc áo lụa trắng, tay cầm gậy ngắn, đến Thủ Lễ phủ
thăm người thân. Trời tối, anh ta lạc đường, trông thấy dưới núi có ánh đèn,
bèn đến đó xin nghỉ trọ. Tiếp theo có một đào, đóng vai một thôn nữ đi ra, giữ
Tùng Thụy ở nghỉ lại nhà mình, tự nói rằng mẹ đã mất, cha đang đi vắng, chỉ có
một mình ở trông nhà, rồi muốn hầu chăn gối. Tùng Thụy lấy điều nam nữ thụ thụ
bất thân ra mà răn. Người con gái ấy vẫn không nghe, cứ gượng bức, Tùng Thụy phải
thoát thân trốn chạy. Người con gái thẹn quá hóa giận, định đuổi theo mà giết,
khiến Tùng Thụy phải trốn vào chùa Vạn Thọ. Trong chùa có lão tăng tên là Phổ Đức,
đem giấu Tùng Thụy vào trong cái chuông, lại có một cái chuông nữa giống hệt
như thế. Người con gái đuổi theo, không thấy tung tích đâu, bèn ngửa mặt lên trời
khóc lớn, phát cuồng mà đi. Tùng Thụy ra khỏi chuông, thì cô ta lại đến, chui
vào trong chuông, bỗng nhiên hóa ra bộ dạng ma quỷ, trên đầu mọc hai cái sừng,
vẻ mặt vô cùng dữ tợn, tay cầm hai lưỡi búa, thế sắp động võ đến nơi. Phổ Đức
bèn chắp tay niệm chú, con ma bèn bị cơn gió cuốn biến đi, Tùng Thụy được toàn
thân trở về. Đó là câu chuyện đời gần đây ở nước này vậy.
Bỗng thấy đóng làm hai con sư
tử một lớn một nhỏ, nhảy nhót xung quanh rồi hạ màn. Ca múa từ đó dừng hẳn, tức
cũng như kịch Trung Quốc nói là đoàn viên hoàn mãn vậy.
Lưu Cầu cũng có kĩ nữ, gọi là
Hồng y nhân, chỗ họ ở gọi là Hồng y quán. Lệ trước đây, mỗi khi có Thiên sứ đến
nước ấy sách phong, vẫn cho phép các kĩ nữ vào sứ quán mà hầu hạ. Từ năm Gia
Khánh thứ 5, khi ông Điện soạn Triệu Giới Sơn đến Lưu Cầu sách phong, mới truyền
dụ không cho phép kĩ nữ vào sứ quán, liền lấy đó làm định lệ. Các quan từ Quốc
tướng trở xuống đều có kĩ nữ ưng ý của mình, tiền son phấn chu cấp cho họ hàng
tháng, chẳng qua chỉ bốn, năm, sáu lạng bạc mà thôi.
Nếu Thiên sứ đến Hồng y quán,
thì sẽ không cho phép người trong nước vào quán nữa, vì e rằng sẽ phát sinh sự
đoan vậy. Người Trung Hoa mỗi khi đến Hồng y quán, nếu ưng ý ai thì thanh giá
người ấy sẽ tăng gấp mười, sau khi định tình hợp ý, tất sẽ tặng cho người ấy một
cây trâm bạc, để cài đầu mà lấy làm vinh hạnh. Vì rằng, dân chúng thủy chỉ đều
dùng trâm sừng, duy những kĩ nữ được người Trung Hoa tặng thưởng mới cho phép
được cài trâm bạc. Hình thức cây trâm tựa như cánh hoa sen mà cuống dài, mỗi
cây nặng năm lạng. Ăn mặc của Hồng y nhân thì muôn hình muôn vẻ, không có nhất
định thế nào. Có người mặc áo nền trắng hoa xanh, hơi để lộ sắc yếm đỏ phía
trong. Có người mặc áo năm sắc in hoa, thắt lưng khăn vải sa chun màu tía. Có
người mặc áo nền xanh hoa trắng năm màu, thắt lưng đại vải tơ đỏ có hoa văn. Tất
cả đều nhạt thoa son phấn, đầy đặn tự nhiên, khiến ai cũng phải tiêu hồn. Họ
cũng rất giỏi ca múa, hoặc chơi đàn tam huyền, hoặc chơi đàn cổ sắt, hoặc ngồi
mà hát, hoặc đứng mà múa.
Phàm đã là Hồng y nhân thì thảy
đều không có con. Từ năm tám, chín tuổi đã bán mình vào quán, được dạy cho biết
hát. Sau khi tiếp khách rồi, họ tích lũy tiền của chuộc mình ra, rồi mua lấy một
đứa hầu đẹp, tự mở quán của mình. Khi tuổi tác đã cao rồi, thì ai nấy đều có chỗ
giao du cũ, vì thế không có cái lệ hoàn lương bao giờ.
Phòng ở của họ đều hướng nam,
phía trước để trống một sàn để làm hiện và hành lang, ba sàn phía sau làm buồng
ngủ, ba mặt đều bưng ván, phía trên đóng trần, phía dưới trải đệm cước đạp
miên, sạch sẽ mềm mại, hệt như bước lên cái giường lớn. Trong nhà cũng có rương
giỏ, giá áo, thư họa, bầy biện đồ đồng cổ, bình sứ, hồ rượu, chén, bát, đồ uống
trà, uống rượu... Dưới hiên cũng đào hồ nhỏ, nuôi mấy con cá chép vàng, trồng
chuối và vạn tuế dưới tường. Có một loại hoa gọi là hoa dâm bụt, lá tựa như lá
dâu mà hoa như hoa thục quỳ, nhiều cánh, đủ cả năm màu, có cả thứ màu đỏ sẫm.
Ở đây, đàn ông thì dùng quạt
tròn, đàn bà thì dùng quạt bán nguyệt. Tối ngủ thì lấy chiếu lớn trải ra trong
buồng, phía trên buông màn rộng, lại có đủ các đồ chăn, gối. Cũng có đèn đuốc,
hình thức tựa như cái đèn lồng mà cao, ngoài dán giấy trắng, trong đốt bằng dầu,
phía trên có một thanh gỗ ngang, có thể cầm theo, cũng có thể tùy chỗ mà để tùy
nơi mà cắm. Nến thì đều là sáp nguyên, có thể đốt suốt đêm. Những chuyện ăn uống
sinh hoạt khác đều không khác gì Trung Quốc vậy.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét