Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

3. Sầu trắc trở

 

Sầu trắc trở

 

Những trắc trở trong đời từ đâu mà ra? Thường thường đều là tự mình gây ra mối nghiệt vậy. Tôi thì không thế, đa tình nhưng trong lời hứa, thẳng thắn mà không câu nệ, song cũng vì vậy mà hóa ra mang lụy. Huống chi, Giá Phu công - cha tôi, lại khảng khái hào hiệp, thường cứu nạn giúp người, thành việc cho người, gả con gái hộ người, nuôi con trai thay người, chẳng đếm xuể được, coi tiền của nhà đất, phần nhiều là vì người khác. Vợ chồng tôi ở nhà, ngẫu nhiên có việc cần chi dùng, thường chẳng tránh được việc phải cầm cố thứ này thứ khác. Mới đầu còn giật gấu vá vai, kế đến thì che bên phải, hở bên trái. Ngạn ngữ có câu: “Ăn ở trong nhà, Không tiền chẳng xong.” Mới đầu thì người ăn kẻ ở bàn ra tán vào, rồi dần đến lượt người nhà chê trách. Câu “con gái không tài chính là đức”, thật là câu danh ngôn thiên cổ vậy!

Tôi tuy là con trưởng, nhưng đứng hàng thứ ba (Tục Trung Quốc xưa, những anh em con chú bác ruột (tức cùng chung ông nội) thì tính là cùng hàng với nhau, tính hàng từ lớn đến nhỏ, không phân biệt con chú, con bác), vì vậy trên dưới trong nhà đều gọi Vân là “mợ ba”. Về sau, bỗng thấy gọi là “bà ba”, mới đầu chỉ là gọi đùa, sau rồi thành quen, thậm chí đến cả những người lớn bé trẻ già cũng đều lấy cái danh “bà ba” mà gọi, nhẽ đó là cái cơ có biến trong nhà chăng?

Năm Ất Tỵ, niên hiệu Càn Long (Tức năm 1785), tôi theo hầu cha tại nơi làm quan ở Hải Ninh. Vân có gửi kèm theo thư nhà cho tôi một bức thư nhỏ. Cha tôi liền bảo: “Vợ mày đã giỏi bút mực như thế, thì thư từ trong nhà của mẹ mày nên giao cho nó lo.” Về sau, trong nhà ngẫu nhiên có chuyện nọ chuyện kia bàn tán, mẹ tôi ngờ rằng Vân đã ngồi lê đôi mách, bèn không cho viết thư hộ nữa. Cha tôi thấy thư không phải chữ Vẫn viết, hỏi tôi rằng: “Vợ mày ốm ư?” Tôi lập tức viết thư về hỏi, nhưng cũng không có hồi âm. Lâu sau, cha tôi giận bảo: “Chắc vợ mày không thèm viết hộ thư nữa rồi!” Đến khi tôi về nhà, hỏi rõ được cơ sự, định sẽ lựa lời giải thích, thì Vân vội ngăn lại bảo: “Thiếp thà chịu để cho trách mắng, chứ không muốn mất lòng mẹ” Rốt cuộc không cho tôi nói.

Xuân năm Canh Tuất (Tức năm 1790), tôi lại theo hầu cho đến mạc phủ Hàn Giang (Hàn Giang: tên sông, cũng gọi Hàn Câu, là dòng vận hà nằm trong địa phận tỉnh Giang Tô, chảy từ tây bắc thành phố Dương Châu đến phía bắc huyện Hoài An, đồ vào sông Hoài). Có viên đồng sự là Du Phu Đình, đưa gia quyến đến ở đó. Cha tôi nói với Phu Đình: “Tôi một đời vất vả, thường phải ở nơi đất khách, cũng muốn tìm một người hầu hạ quét tước cho mà không được. Con cái nếu quả có thể thể lượng ý cha, thì nên tìm lấy một người ở quê nhà đưa tới, cho tiếng nói nghe quen vậy.” Phu Đình nói lại với tôi, tôi bèn bí mật viết thư cho Vân, nhờ mai mối tìm người thích hợp, cuối cùng tìm được con gái nhà họ Diệu. Vân vì chưa biết rõ việc có thành hay không, nên chưa dám bẩm ngay cho mẹ tôi biết. Khi người ấy tới nhà, Van bèn nói thác với mẹ tôi rằng, đó là người con gái hàng xóm cùng chơi với mình. Kịp tới khi cha sai tôi đón cô ta đưa đến phủ, Vân lại nghe ý người ngoài xúi, nói thác rằng ấy là người mà cha tôi vốn hợp ý. Lúc mẹ tôi gặp mặt nhận ra, bèn bảo: “Đây là cô hàng xóm cùng chơi đó thôi, làm sao lấy được?” Vân vì vậy bèn mất lòng với mẹ.

 

Mùa xuân năm Nhâm Tý, tôi đang ở Chân Châu. Cha tôi bị bệnh ở Hàn Giang, tôi tới thăm, cũng lại bị ốm. Em tôi là Khải Đường bấy giờ cũng theo hầu ở đó. Vân gửi thư tới, nói: “Chú Khải Đường từng vay nợ bà hàng xóm, nhờ Vân đứng ra bảo lãnh cho, nay bà ấy đang đòi rát lắm.” Tôi hỏi Khải Đường, Khải Đường lại quay ra cho rằng chị dâu nhiều chuyện. Tôi bèn biển vào cuối thư rằng: “Mấy cha con đều bị bệnh, chưa có tiền trả, đợi đến khi chú Khải về sẽ tự tính toán là được.”

Chưa bao lâu, mọi người đều đã khỏi ốm, tôi lại về Chân Châu. Vân phục thư gửi tới, cha tôi bóc ra xem, trong thư có thuật chuyện Khải vay tiền hàng xóm, lại nói: “Mẹ chàng cho rằng bệnh của ông cụ đều là do cô Diêu mà ra. Nay bệnh của cha đã hơi khỏi, nên bí mật bảo cô Diêu nói thác là nhớ nhà, thiếp sẽ bảo cha mẹ cô ấy đến Dương Châu đón. Đó thực là kế để khỏi bị đội bên trách cứ vậy.”

Cha tôi đọc thư, giận lắm, hỏi Khải Đường chuyện vay nợ hàng xóm thế nào, Khải Đường đáp rằng không hề biết. Cha tôi bèn gửi thư tới ra lệnh cho tôi rằng: “Vợ mày dối chồng vay nợ, rồi vu bậy cho em chồng. Lại còn gọi mẹ chồng là “mẹ chàng” (Nguyên văn “lênh đường”: là cách gọi khách sáo với mẹ người ngoài, không thân thiết) gọi cho chồng là “ông cụ”, hỗn hào quá lắm! Ta đã sai người mang thư về Tô Châu đuổi đi rồi. Nếu mày có chút nhân tâm, cũng nên biết lỗi của mình!” Tôi nhận được thư mà như nghe sấm nổ giữa trời xanh, lập tức viết thư hồi âm kính cẩn nhận lỗi, rồi tìm ngựa vội vàng chạy về nhà, sợ rằng Vân sẽ nghĩ quẩn. Về đến nhà, tôi nói lại hết đầu đuôi, nhưng người nhà đã mang thư đuổi về tới nơi, trong thư nghiêm trách nhiều tội lỗi, lời lẽ quyết tuyệt vô cùng.

Vân khóc nói: “Thiếp cố nhiên không nên nói bừa thế, nhưng cũng xin cha thứ cho phận gái vô tri.” Qua mấy hôm, cha tôi lại có thủ dụ đến, nói: “Ta cũng không muốn làm quá chuyện này, mày hãy đưa vợ đến chỗ khác ở, đừng để ta thấy mà bực mình là được rồi.” Tôi bèn gửi Vân sang nhà ngoại, nhưng Vân vì cớ mẹ đã mất, em trai lại bỏ đi, không muốn về nương tựa vào người trong họ. May mắn, có bạn tôi là Lỗ Bán Phảng hay chuyện thương tình, mời vợ chồng tôi đến ở lầu Tiêu Sảng.

Qua hai năm, cha tôi dần biết đầu đuôi, vừa khi ấy tôi từ Lĩnh Nam về, ông mới tự mình tới lầu Tiêu Sảng, bảo Vân rằng: “Chuyện trước đây ta đã biết hết cả rồi, các con hãy về nhà được không?” Vợ chồng tôi mừng rỡ, lại quay về nhà cũ, cốt nhục đoàn viên. Đâu có ngờ rằng lại có cái nghiệp chướng Hàm Viên nữa!

Vân vốn có bệnh về khí huyết, ấy là vì người em là Khắc Xương bỏ nhà đi không về, mẹ là Kim thị lại nhớ thương con trai đến nỗi bị bệnh mà chết, khiến nàng bị thương quá đỗi mà ra như thế. Từ khi quen biết Hàm Viên, hơn một năm liền bệnh không tái phát, tôi đã lấy làm may mắn vì có được phương thuốc hay. Đến khi, Hàm Viên bị kẻ có thế lực đoạt mất, đưa ngàn vàng làm sính lễ, và hứa nuôi dưỡng mẫu thân cho. Vậy là “giai nhân đã thuộc Sa Tra Lợi” (Điển cố theo Liễu thị truyện: Hàn Hoành và vợ là Liễu thị vì loạn lạc phải xa nhau. Sau, Hàn Hoành về tìm thì vợ đã bị kiêu tướng là Sa Tra Lợi cướp mất. Về sau, nhờ Hứa Tuấn mà Hàn Hoành lại giành được tiêu thị về với mình). Tôi biết chuyện nhưng cũng chưa dám nói gì.

Kịp tới khi Vân tới thăm mới biết, lúc về cứ nức nở mãi, mà bảo tôi rằng: “Thiếp đâu có ngờ Hàm lại bạc tình đến thế!” Tôi bảo: “Ấy là nàng tự tình si vậy. Những người trong giới ấy, làm gì có cái gọi là tình chứ? Huống chi, kẻ ăn ngọc mặc gấm, vị tất có thể chịu yên phận váy sồi thoa gai. So với việc sau này phải hối hận, thì chi bằng chẳng thành là hơn.” Nhân lại yên ủi mấy bận, nhưng vẫn rất vẫn oán hận vì việc bị lừa, bệnh khí huyết phát ra, phải nằm bệt trên giường, thuốc thang vô hiệu, khi phát khi lui, gầy mòn tiều tụy. Chưa được mấy năm mà nợ nần ngày một nhiều, điều tiếng ngày một lắm. Cha mẹ già lại vì chuyện hẹn ước với kĩ nữ, mà ngày càng thêm ghét. Tôi phải đứng giữa điều đình, tưởng đã chẳng còn được ở nơi dương thế nữa vậy.

Vân sinh được một trai một gái. Con gái tên là Thanh Quân, khi ấy mới mười bốn tuổi, rất hiểu sách vở, lại rất hiền hậu giỏi giang, cầm thoa gán áo, may nhờ nó chịu vất vả. Con trai tên là Phùng Sâm, khi ấy mười hai tuổi, cũng đang theo thầy học chữ.

Tôi liền mấy năm không có nơi mời làm, mở một gian hàng thư họa trong cửa nhà, tiền kiếm được ba ngày chẳng đủ dùng một bữa, vất vả khốn khó, kiệt quệ luôn luôn. Ngày đông tháng giá không có áo ấm, chỉ còn biết ưỡn ngực bước qua. Thanh Quân cũng áo mỏng chân run, nhưng vẫn gượng bảo “không rét”. Vì thế, Vân thề không thuốc thang gì nữa. Ngẫu nhiên hôm ấy dậy được khỏi giường, vừa gặp khi tôi có người bạn là Châu Xuân Hú từ mạc phủ của Phúc quận vương về, muốn thuê người thêu một bản Tâm kinh. Vân nghĩ thêu kinh Phật có thể tiêu tại giáng phúc, vả lại được tiền công cũng hậu, bèn nhận thêu cho. Nhưng Xuân Hú thời gian vội vã, không thể đợi lâu được, mười ngày là phải thêu xong. Vân đang yếu sẵn, lại phải chịu lao nhọc, khiến mắc thêm chứng đau lưng chóng mặt. Đâu có biết rằng người bạc mệnh, Phật cũng chẳng thể phát tâm từ bi mà cứu được vậy! Sau khi thêu kinh, bệnh Vân thêm nặng, gọi nước lấy thuốc, mà chỉ nâng lên đặt xuống không nuốt được nổi.

Có ông Tây thuê nhà ở bên trái quán thư họa của tôi, chuyên làm nghề cho vay lãi, thi thoảng thuê tôi vẽ tranh cho, nên thành quen. Có người bạn tôi đến vay hắn năm mươi đồng vàng, xin tôi đứng ra bảo lãnh cho. Tôi nể tình. không thể từ chối được, bèn bằng lòng, nhưng rốt cuộc bạn lại ẵm tiền trốn biệt đi xa. Ông Tây cứ nhè kẻ bảo lãnh mà đòi, thi thoảng lại đến làm ầm lên. Mới đầu tôi còn có thể đem tranh, chữ ra gán được ít nhiều, rồi sau chả có gì để mà trả cho hắn nữa. Cuối năm, cha tôi ở nhà, ông Tây lại đến đòi nợ, ầmingoài cửa. Cha tôi nghe được, gọi tôi vào trách hỏi: “Chúng ta là nhà áo mũ, ai cho mày vay nợ thứ tiểu nhân ấy?”

Tôi còn đang phân trần, thì đúng lúc có người chị kết nghĩa từ nhỏ của Vân là Hoa thị ở Tích Sơn, hay tin Vân ốm, sai người tới thăm. Cha tôi lầm tưởng là người của Hàm Viên sai đến, lại càng giận, nói: “Vợ mày không giữ nết phòng khuê, kết nghĩa với bọn kĩ nữ. Mày cũng không nghĩ đến việc tiến thủ, chơi bời bừa bãi với lũ tiểu nhân. Nếu bắt mày vào chỗ chết, thì ta cũng không nỡ lòng nào. Nay tạm khoan hạn cho mày ba ngày, mau mau mà liệu tính đi, nếu chậm thì tao sẽ đi các quan tội nghịch của mày!”

Vân nghe thấy thế khác nói: “Cha mẹ tức giận như thế, đều là tội nghiệt của thiếp. Thiếp chết trên đường chàng đi, chàng tất không nỡ lòng. Mà thiếp ở lại, một mình chàng đi, chàng tất không bỏ được. Hay là chàng bí mật cho gọi người nhà họ Hoa vào đây, thiếp sẽ gượng hỏi chuyện xem.”

Nói rồi bèn sai Thanh Quân đỡ ra nhà ngoài, gọi người mà họ Hoa sai sang vào, hỏi: “Là bà chủ bên ấy sai bác sang, hay là bác tiện đường mà vào đây?” Người ấy đáp: “Bà chủ tôi bấy lâu nghe tin phu nhân nằm bệnh, vốn muốn đích thân sang thăm, nhưng trước nay chưa từng tới nhà, nên không dám đường đột. Lúc tôi đi, bà chủ còn dặn rằng: Nếu phu nhân không chỉ ở chốn thôn quê giản lậu, thì xin mời phu nhân về làng điều dưỡng, thể theo như những lời đã nói dưới đèn thuở trước.” Ấy là vì khi xưa, lúc Vân với Hoa thị còn cùng ở buồng thêu, hai người đã có lời thề khi bệnh tật thì giúp đỡ lẫn nhau vậy. Vân nhân bảo người ấy: “Phiền bác nhanh chóng trở về, bẩm lại với bà chủ, trong hai ngày nữa, bí mật cho thuyền tới đây.”

Người ấy đi rồi, Vân nói với tôi: “Chị kết nghĩa họ Hoa tình cảm còn hơn cốt nhục, nếu chàng chịu đến nhà chị ấy, thì cứ đi với thiếp không ngại, nhưng đưa theo các con cùng đi thì cũng bất tiện, mà để lại làm lụy song thân cũng không được, tất phải sắp xếp ổn thỏa trong hai ngày tới.” Bấy giờ, có người anh bên ngoại tôi là Vương Tẫn Thần, có đứa con trai tên là Uẩn Thạch, muốn đón Thanh Quân về làm dâu. Vân nói: “Nghe nói cậu Vương nhu nhược bất tài, chẳng qua chỉ là đứa ăn không của nhà thôi, nhà họ Vương thì lại chả có gì mà cho ăn không cả. Nhưng may cũng là nhà thi lễ, vả lại là con một, thôi gả cho cũng được.” Tôi bảo với Tân Thần: “Cha tôi với anh vốn có cái nghĩa Vị Dương (Chỉ quan hệ cậu cháu. Thơ Vị Dương trong Tân Phong, Kinh Thi có câu: “Ngã tống cứu thị; Viết chỉ Vị Dương” (Tôi tiễn ông cậu; Rằng đến Vị Dương)), anh muốn xin hỏi Thanh Quân về làm dâu, thì cũng chẳng có gì là không được. Nhưng đợi đến lớn mới gả, tình thế bây giờ không thể được. Sau khi vợ chồng tôi đến Tích Sơn rồi, anh hãy bấm ngay với song thân tôi, xin đưa cháu về làm dâu từ bé, anh thấy thế nào? Tấn Thần mừng bảo: “Xin kính cẩn theo lời.” Còn Phùng Sâm, tôi cũng nhờ người bạn là Hạ Áp Sơn giới thiệu cho đi học việc buôn bán.

Sắp đặt đâu đấy rồi thì thuyền nhà họ Hoa vừa tới, hôm ấy là ngày hăm nhăm tháng Chạp năm Canh Thân (Tức năm 1800). Vân nói: “Lủi thủi ra đi, chẳng những sẽ khiến làng xóm cười chê, mà món nợ ông Tây chưa trả được, e là cũng chẳng tha cho. Trống canh năm ngày mai chúng ta tất phải lẳng lặng mà đi sớm mới được.” Tôi nói: “Mình đang ốm như thế, có nhẽ nào đội rét mướt tinh sương mà đi được ư?” Vân bảo: “Sống chết có mệnh, chàng chớ lo lắng nhiều làm gì.” Tôi mật bẩm với cha, ông cũng cho là nên như thế.

Tối ấy, tôi cho đem nửa gánh hành lý xuống thuyền trước, bảo Phùng Sâm ngủ sớm, Thanh Quân thì ngồi bên mẹ mà khóc. Vân dặn bảo: “Mẹ con số khổ, lại sẵn tình si, đến nỗi phải truân chuyên thế này. May là cha có hậu tình với mẹ, nên lần này đi nhẽ cũng chẳng có gì phải lo. Trong vòng đôi ba năm, tất sẽ sắp đặt để lại đoàn viên. Con về nhà chồng rồi, nên trọn đạo làm vợ, chớ giống như mẹ. Cha mẹ chồng con vẫn lấy làm may vì hỏi được con về làm dâu, nên tất sẽ đối xử tốt với con. Những đồ tạp vật mẹ để lại trong rương hòm, cho hết con đem đi theo. Em con còn nhỏ tuổi, nên chửa cho nó biết làm gì, chia tay rồi cứ bảo là mẹ đi chữa bệnh, mấy hôm thì về. Đợi mẹ đi xa rồi, hãy nói cho nó biết duyên do, và bẩm với ông nội con hay là được.”

Cạnh nhà có bà lão quen biết từ lâu, tức là bà lão tôi đến thuê nhà tránh nóng khi trước đã kể, xin đi tiễn chân đến tận làng, nên khi ấy cũng ngồi bên, cứ lau nước mắt mãi không thôi. Sắp đến canh năm, cùng ăn chút cháo nóng lót dạ. Vân gượng cười bảo: “Xưa, một chén cháo mà tụ hội, nay một chén cháo mà chia ly, nếu viết thành câu chuyện truyền kỳ, có nhẽ lấy tên là Truyện ăn cháo được.” Phùng Sâm nghe tiếng cũng trở dậy, hỏi vẻ ngái ngủ: “Mẹ làm gì vậy?” Vân nói: “Mẹ sắp đi đến thày lang ấy mà.” Phùng Sâm nói: “Sao mẹ dậy sớm thế?” Vấn đáp: “Đường xa lắm. Con với chị cứ ở yên nhà, chớ có quấy bà nội. Mẹ với cha con cùng đi, mấy ngày sẽ về thôi.”

Gà gáy ba bận, Vân nuốt lệ đỡ bà lão, mở cửa sau chực bước ra, thì Phùng Sâm bỗng khóc vang lên: “Hu hu, mẹ không về nữa rồi!” Thanh Quân sự có người nghe thấy, vội vàng bịt miệng nó lại dỗ dành. Lúc bấy giờ, hai người chúng tôi đều như cắt từng khúc ruột, chẳng thể nói thêm được câu gì, chỉ biết ngăn nó bảo “Đừng khóc nữa” mà thôi. Thanh Quân đóng cửa lại rồi, Vân ra ngõ được hơn chục bước thì đã mệt nhọc không thể đi nổi, phải bảo bà lão cầm đèn, để tôi cũng đi tiếp. Sắp đến chỗ thuyền đậu, thì suýt bị phu tuần giữ lại, may mà có bà lão nhận Vân là con gái đang bị ốm, còn tôi là con rể, lại được những người trên thuyền đều là người làm công của nhà họ Hoa, nghe tiếng chạy tới giúp cùng đỡ nhau xuống thuyền. Thuyền nhổ sào đi rồi, Vân mới đau đớn khóc ròng. Chuyến đi ấy, rồi thành ra mẹ con vĩnh quyết!

Họ Hoa, tên là Đại Thành, ở núi Đông Cao, Vô Tích. Nhà dựng đối diện với núi, sống bằng nghiệp canh nông vốn là người thật thà chất phác. Vợ là Hạ thị, tức là chị kết nghĩa của Vân vậy. Hôm ấy, độ giờ ngọ, giờ mùi, thì chúng tôi mới tới nhà họ Hoa. Hoa phu nhân đã tựa cửa đứng đợi sẵn, đem theo hai con gái nhỏ tới thuyền, cùng gặp nhau mừng rỡ, đỡ Vân lên bờ, ân cần khoản đãi. Đàn bà trẻ con bốn xung quanh hàng xóm cũng í ới gọi nhau kéo sang, vây quanh Vân mà xem, người thì hỏi han, người thì thương cảm, nghiêng đầu ghé tai, ồn ã cả nhà. Vân nói với Hoa phu nhân: “Hôm nay thật chả khác gì ngư phủ lực chốn đào nguyên vậy!” Hoa thị nói: “Muội đừng cười, người quê thấy ít, nên là nhiều như vậy đó.” Từ bấy cùng nhau yên ổn ở đó qua năm mới.

Đến Nguyên tiêu, mới cách hai chục ngày mà Vân đã dần có thể trở dậy đi lại được. Tối ấy, xem long đăng (Long đăng: dùng đèn lồng kết thành hình rồng mà múa, rước, gọi là “long đăng”) trên ruộng mạch, tinh thần sắc diện của Vân đã dần hồi phục như trước, tôi mới thấy yên lòng. Tôi nói riêng với Vân: “Ta ở đây không phải là kế lâu dài, mà muốn đi chỗ khác lại không đủ tiền, biết làm thế nào?” Vân nói: “Thiếp cũng đã trù tính rồi. Anh rể chàng là Phạm Huệ Lai hiện đang làm kế toán trong dinh coi việc muối ở Tĩnh Giang, mười năm trước từng vay chàng mười lạng bạc, khi ấy trong nhà không đủ số tiền ấy, thiếp phải đem cầm cành hoa lấy tiền gom vào, chàng có nhớ không?” Tôi đáp: “Quên rồi.” Vân nói: “Nghe đâu Tĩnh Giang cách đây cũng không xa, hay chàng tới đó một phen.” Tôi bèn theo như lời.

 

Tiết trời khi ấy đã ấm lắm, mặc áo vải ngắn, khoác áo choàng nhung, đã cảm thấy nóng. Bữa ấy là ngày mười sáu tháng Giêng năm Tân Dậu(Tức năm 1801). Tối đó tôi nghỉ lại quán trọ ở Tích Sơn, thuê một tấm chăn mà nằm. Sáng sớm trở dậy, đi đò dọc Giang Âm, suốt chặng đường thuyền ngược gió, rồi lại mưa phùn. Tối thì đến cửa sông Giang Âm, cái lạnh đầu xuân thấu tận xương tủy, phải mua rượu uống cho đỡ rét, trong túi sạch nhẵn. Trù trừ cả đêm, đang tính cởi áo ngoài ra cầm lấy tiền mà qua sông.

Ngày mười chín, gió bắc càng mạnh, tuyết rơi thêm dày, tôi không ngăn được nỗi thảm sầu mà rơi nước mắt, thầm tính tiền phòng trọ, phí sang đò, mà không dám uống rượu nữa. Đang khi lòng lạnh chân run, bỗng nhiên trông thấy một lão ông, đi dép cỏ áo tơi nón lá, khoác cái túi màu vàng vào quán, đưa mắt nhìn tôi, tựa hồ “Ông chẳng phải là họ Tào ở Thái Châu đó ư?” Ông lão đáp: “Chính phải. Tôi mà không có ngài, thì đã chết dấp ở nơi ngòi rãnh rồi vậy! Giờ, tiểu nữ đã được yên lành, vẫn nhắc đến công đức của ngài luôn. Chẳng ngờ hôm nay lại được gặp nhau, làm sao ngài lại ở chỗ này?” Số là khi tôi còn trong mạc phủ ở Thái Châu, có họ Tào, vốn người nghèo hèn, sinh được một người con gái có nhan sắc, đã hứa gả cho người ta. Có kẻ thế lực đem tiền cho vay, nhằm mưu chiếm người con gái ấy, đến nỗi kiện tụng lên công đường. Tôi có điều đình bảo vệ giúp trong việc ấy, khiến người con gái vẫn gả được cho người đã hứa hẹn. Họ Tào bèn tới cửa công đường dập đầu tạ ơn, xin làm phục dịch, cho nên biết nhau. Tôi đem chuyện đến nhà người thân, nhưng gặp khi tuyết lớn ngăn trở kể lại cho nghe, lão Tào nói: “Ngày mai trời tạnh, tôi sẽ tiện đường đưa ngài đi.” Lại bỏ tiền mua rượu, khoản đãi chu đáo vô cùng vui vẻ.

Ngày hai mươi, chuông sớm vừa mới gióng, đã nghe thấy tiếng gọi đò ngoài cửa sông, tôi giật mình tỉnh giấc, gọi lão Tào cùng sang đò. Lão Tào nói: “Không cần vội, ăn no đã rồi hãy lên thuyền.” Rồi bèn trả giúp cho tôi cả tiền phòng tiền cơm, mà kéo tôi ra mua đồ ăn. Tôi vì đã phải đậu lại mấy hôm, sốt ruột muốn sang sông, ăn không nuốt nổi, chỉ gắng gượng nhai hai cái bánh vừng. Tới khi lên thuyền, gió sông buốt như tên đâm, tứ chi run bần bật. Lão Tào nói: “Nghe đâu Giang Âm có người treo cổ ở Tĩnh Giang, vợ ông ta thuê thuyền này tới đó, tất phải đợi người thuê đến thì mới đi được.” Thế là tôi bụng rỗng chịu rét, đến giờ ngọ thuyền mới nhổ sào. Tới được Tĩnh, thì khói chiều đã mờ mịt bốn bề vậy.

Lão Tào nói: “Ở Tĩnh Giang có hai công đường, chỗ ngài muốn tới là ở trong thành, hay ở ngoài thành?” Tôi loạng choạng theo sau, vừa đi vừa đáp lời: “Thật không biết là ở trong hay ngoài nữa.” Lão Tào nói: “Thế thì tạm dừng lại nghỉ đã, ngày mai hãy tới hỏi vậy.” Vào quán trọ, giày tất đã bị bùn đất ướt bẩn cả, phải kêu lửa mà hong. Ăn uống láo nháo, rồi mệt quá ngủ lịm đi. Đến sáng sớm trở dậy, thì tất đã cháy mất một nửa, lão Tào lại trả tiền trợ tiền cơm giúp cho.

Hỏi thăm đến trong thành, thì Huệ Lai vẫn còn chưa dậy, nghe nói tôi đến, khoác áo đi ra, trông thấy bộ dạng tôi, kinh hãi bảo: “Cậu làm sao mà tả tơi ra thế?” Tôi nói: “Anh tạm chớ hỏi, có bạc trắng cho em mượn trước hai đồng, để biếu cho người đưa đi đã.” Huệ Lai lấy hai đồng bạc nước ngoài(Chỉ đồng bạc của nước ngoài được mang vào Trung Quốc khi ấy, chủ yếu là tiền Tây Ban Nha) đưa cho, tôi lập tức đem biếu lão Tào. Lão hết sức chối từ, chỉ nhận một đồng rồi đi.

Tôi bèn thuật lại những chuyện mình đã gặp phải, và nói rõ ý định đến đây của mình. Huệ Lai nói: “Cậu là người chí thân, dù cho không có món nợ cũ, cũng phải nên tận lực và giúp. Song hiện giờ, có thuyền muối vượt bể vừa bị cướp, nên hiện đang phải kết toán sổ sách, tôi không thể lấy tạm ra mà giúp cậu nhiều được, trước mắt cố gắng gom lấy hai mười đồng bạc nước ngoài coi như trả nợ cũ tôi vay của cậu, có được không?” Tôi vốn cũng không mong muốn gì nhiều, bèn bằng lòng. Ở lại đó hai ngày, trời đã ấm tạnh, tôi bèn tính đường ra về.

Ngày hăm nhăm thì về đến nhà họ Hoa. Vân hỏi: “Chàng gặp tuyết chăng?” Tôi kể lại nỗi khổ sở cho hay, Vân buồn thảm nói: “Bữa có tuyết, thiếp cứ nghĩ chàng đã tới được Tĩnh Giang rồi, hóa ra vẫn còn bị kẹt lại ở cửa sông. May mà gặp ông Tào, chết đuối vớ được Cục, đúng thực là ở hiền gặp lành vậy.” Qua mấy hôm, thì nhận được thư của Thanh Quân, mới biết Phùng Sâm đã được Ấp Sơn giới thiệu vào một tiệm buôn. Tẫn Thần cũng đã thỉnh mệnh cha tôi, chọn ngày hôm tự tháng Giêng sẽ đến đón Thanh Quân về bên nhà. Chuyện của con cái, coi như thế là tạm ổn, nhưng chia lìa đến vậy, khiến ai cũng thấy thảm thương vậy.

 

Đầu tháng Hai, gió êm nắng ấm, tôi lấy số tiền từ món nợ thu được ở Tĩnh Giang, chuẩn bị một ít hành trang gọn nhẹ, đến thăm người bạn cũ là Hồ Khẳng Đường ở sở muối Hàn Giang. Có các ông lo việc ở Cổng cục(Cống cục: nha môn lo giữ việc tô thuế xưa) cùng nhau mời tôi vào cục, lo giúp việc bút mực, từ bấy giờ thân tâm mới hơi yên định lại được.

Đến năm sau, là năm Nhâm Tuất, tháng Tám, tôi nhận được thư Vân nói: “Thiếp bệnh đã khỏi hẳn rồi, chỉ có điều ăn nhờ ở đậu nhà người chẳng phải thân chẳng phải hữu, rốt cuộc không phải là kế lâu dài, xin cho thiếp cũng đến Hàn Giang, để được thăm danh thắng Bình Sơn.” Tôi bèn mướn một căn nhà hai gian buồng kề bên sông, ở ngoài cửa Tiên Xuân, Hàn Giang, rồi tự mình đến nhà họ Hoa đón Vân cùng đi. Hoa phu nhân tặng cho một đứa ở tên gọi A Song, để giúp đỡ việc bếp núc. Lại ước hẹn sau này cùng về làm hàng xóm với nhau. Khi ấy đã là tháng Mười, núi Bình Sơn còn lạnh lẽo, chúng tôi cùng hẹn đến mùa xuân sẽ lên chơi, trong lòng tràn đầy hy vọng rằng sẽ thư thái điều dưỡng cho khỏe, rồi dần dà tính đến chuyện cốt nhục đoàn viên. Chưa đầy một tháng, thì bỗng các chân lo việc ở Cổng cục phải cắt giảm đi mười lăm người. Tôi thuộc hạng bạn của bạn, vì vậy bèn bị cho nghỉ việc.

Vân mới đầu còn tìm trăm phương ngàn kế tính toán giúp tôi, gượng vui an ủi, chưa từng oán trách chút nào. Đến tháng giữa xuân năm Quý Hợi, thì bỗng bệnh khí huyết lại bộc phát. Tôi định rằng lại đến Tĩnh Giang, nhờ anh rể giúp, Vân nói: “Nhờ họ hàng chẳng bằng nhờ bè bạn!” Tôi nói: “Cậu ấy tuy phải, thân hữu tuy quan tâm, nhưng hiện cũng đều mất việc ở không, tự lo cho mình còn không xong.” Vân bảo: “May mà khí trời đã ấm, đường đi nhẽ không còn phải lo mưa tuyết ngăn trở, mong chàng đi nhanh về nhanh, bệnh của thiếp không cần phải lo nghĩ. Nếu như sức khỏe chàng có điều bất ổn, thì tội thiếp lại càng nặng vậy.”

Lúc ấy trong nhà củi gạo đã đứt bữa, tôi giả vờ rằng thuê con la để đi cho Vân an lòng, nhưng thực chỉ cho mấy cái bánh khô vào túi đi bộ, vừa đi vừa ăn. Tôi nhằm hướng đông nam mà dấn bước, hai lần qua sông Xoa Hà, đi ước tám, chín mươi dặm, trông ra bốn bề chẳng có làng mạc gì cả. Đến độ canh một, chỉ thấy cát vàng mờ mịt, sao sáng chập chờn, có một ngôi miếu thổ địa, cao độ hơn năm thước, tường thấp vây quanh, trồng hai cây bách. Tôi bèn khấu đầu trước thần mà khấn rằng: “Thẩm mỗ ở Tô Châu, đến nhà họ hàng chẳng may lạc đường đến đây, muốn ngủ nhờ lại miếu thờ ngài một tối, xin ngài thương tình mà phù hộ cho.” Rồi bèn xê cái lư hương nhỏ bằng đá sang một bên, lách mình ghé vào, miếu nhỏ chỉ đủ nửa người. Tôi cái mũ úp lên mặt, ngồi nửa người vào trong, thò hai chân ra ngoài, nhắm mắt lắng nghe, chỉ có tiếng gió xào xạc mà thôi. Chân mỏi người mệt, bất chợt ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Kịp đến khi tỉnh dậy, thì hừng đông đã sáng. Bên ngoài tường thấp chợt có tiếng bước chân cùng tiếng người trò chuyện, tôi vội ra nhìn xem, thì hóa ra là người địa phương đi chợ ngang qua đó. Tôi hỏi thăm đường, họ nói: “Đi về phía nam mười dặm thì đến huyện thành Thái Hưng, xuyên qua thành đi về hướng đông nam, cứ mười dặm thì có một ụ đất, qua tám ụ như thế thì tới Tĩnh Giang, đường đều to rộng dễ đi.”

Tôi bèn trở lại, đặt lư hương về nguyên vị, khấu đầu tạ ơn thần rồi đi. Qua Thái Hưng thì có xe nhỏ có thể nhờ đi. Tới giờ thân thì tới Tĩnh Giang, đưa danh thiếp vào xin gặp. Hồi lâu, người canh cửa ra bảo: “Ông Phạm có việc công đã đi Thường Châu rồi.” Nghe lời nói điệu bộ có vẻ như thoái thác, tôi hỏi lại rằng: “Hôm nào thì ông ấy về?” Người ấy đáp: “Không biết.” Tôi nói: “Dù là một năm tôi cũng sẽ đợi.” Người canh cửa hiểu ý tôi, hỏi riêng rằng: “Ông là cậu em ў ruột của vợ ông Phạm hả?” Tôi nói: “Không phải em ruột thì tôi đã chẳng đợi ông ấy về làm gì.” Người canh cửa nói: “Thế ông cứ tạm đợi đi vậy.” Qua ba ngày, thì tôi được báo Phạm Huệ Lai đã về Tĩnh Giang. Cuối cùng vay được cả thảy hai mươi lăm lạng bạc.

Tôi thuê con la vội vã chạy về, trông thấy Vân hình dong thê thảm, đang nước mắt sụt sùi. Thấy tôi về, thốt nhiên Vân bảo: “Chàng có biết, trưa qua A Song đã cuốn gói bỏ trốn rồi không? Thiếp đã nhờ người tìm kiếm khắp nơi, nhưng đến nay vẫn chưa tìm thấy. Mất đồ là chuyện nhỏ, chứ người thì mẹ nó trước lúc đi đã dặn dò nhờ vả mấy lần. Nay nếu nó trốn về, giữa đường phải qua sông lớn, đã đáng lo ngại lắm rồi. Giả như cha mẹ nó lại giấu con mưu đồ gian trá, thì biết làm sao? Hơn nữa, còn mặt mũi nào mà gặp chị kết nghĩa của thiếp nữa?” Tôi bảo: “Không phải sốt ruột, nàng đã lo nghĩ quá rồi. Giấu con mưu đồ gian trá, thì phải mưu trá với nhà giàu có, chứ ai mưu đồ với vợ chồng mình chỉ hai bàn tay trắng thế này. Huống chi, từ khi chúng ta đem nó theo đến nay nửa năm, nhường Cơm xẻ áo, chưa từng đánh mắng bao giờ, hàng xóm láng giềng đều biết cả. Chuyện này thực là đứa tớ nhỏ táng tận lương tâm, thừa lúc chủ nguy nan mà trộm cắp bỏ trốn. Chị kết nghĩa nhà họ Hoa tặng ta đứa trộm cắp, thì chị ấy không có mặt mũi nào gặp nàng, chứ nàng làm sao lại nói là không có mặt mũi nào gặp chị ấy? Bây giờ, nên một mặt trình quan huyện lập án, để ngăn hậu họa sau này là được rồi.”

Vân nghe tôi nói, ý chừng cũng hơi an lòng. Nhưng từ đó, ngủ mơ nói nhảm, khi thì kêu “A Song trốn rồi”, lúc thì kêu “Sao Hàm phụ ta”, mà bệnh tình cũng ngày một nặng thêm.

Tôi muốn mời thầy lang chẩn trị, nhưng lần ngăn bảo: “Bệnh thiếp vốn ban đầu là vì chuyện em đi, mẹ mất, khiến đau buồn quá đỗi, kế đến là vì tình cảm, sau nữa lại bởi phẫn uất, mà thường ngày lại hay lo lắng quá, vốn mong muốn gắng sức làm một người dâu tốt mà không thể được, dẫn đến các chứng chóng mặt hoa mắt, hồi hộp đau tim đều mắc phải cả, chính như người ta nói “bệnh nhập cao hoang, lương y thúc thủ, xin chàng chớ làm việc hoang phí vô ích nữa. Nhớ lại thiếp đã cùng chàng phu xướng phụ tùy hai mươi ba năm, được chàng yêu thương, trăm phần thông cảm, không vì xấu nết cứng đầu mà ruồng bỏ. Được một người chồng tri kỷ như chàng, thì đời này thiếp đã không còn nuối tiếc gì nữa. Ấm áo vải, no Cơm rau, một nhà vui vẻ, rong chơi tuyền thạch như những cảnh ở đình Thương Lang, lầu Tiêu Sáng, ấy thực là thần tiên giữa cõi trần rồi vậy. Thần tiên biết tu mấy đời mới có thể thành được, chúng ta là người thế nào, mà dám mong được như thần tiên thế? Nếu cứ cưỡng cầu, tất khiến tạo vật đố kị, mà xui ra giống tình ma quấy nhiễu. Thảy đều bởi chàng quá đa tình, mà thiếp thì bạc mệnh vậy!”

Rồi Vân lại nghẹn ngào bảo: “Đời người trăm năm, chung quy đều phải một lần chết. Nay giữa đường phải lìa nhau, bỗng nhiên li biệt mãi, chẳng thể trọn đời quét dọn hầu chàng, mà được thấy Phùng Sâm lấy vợ, lòng này thực canh cánh khôn nguôi.” Nói xong, nước mắt sa xuống như mưa. Tôi gắng gượng an ủi bảo: “Nàng ốm đã tám năm, những khi thoi thóp tưởng chết cũng đã nhiều, hôm nay làm sao bỗng lại nói những câu đoạn trường như thế?” Vân nói: “Mấy hôm liền thiếp nằm mơ thấy cha mẹ mình dong thuyền lại đón, nhắm mắt lại thì lại thấy thân thể bồng bềnh, như đi trên mây trên khói, có phải là hồn đã lìa chỉ còn thân xác đó chăng? Tôi bảo: “Đó là tâm thần thất tán, uống mấy thang thuốc bổ, tĩnh tâm điều dưỡng, tất sẽ yên khỏi thôi.”

Vân lại than thở bảo: “Thiếp mà có một chút sinh cơ mảy may nào, thì nhất định không dám nói những câu khiến chàng lo sợ. Nay đường xuống âm ti đã gần, nếu mà không nói thì chẳng còn khi nào để nói nữa. Khiến chàng phải mất lòng cha mẹ, bôn ba lăn lộn, đều là vì thiếp. Thiếp chết đi rồi, thì tấm lòng song thân tự có thể vãn hồi, chàng cũng có thể khỏi phải đeo đẳng nữa. Song thân tuổi tác đã cao, sau khi thiếp chết, chàng nên sớm trở lại nhà. Nếu như không thể đem hài cốt thiếp về cùng, thì cứ tạm ký táng ở đây đợi sau này sẽ tính cũng chẳng sao. Mong chàng tìm lấy một người khác có đủ đầy dung đức, để phụng dưỡng song thân, chăm lo cho con trai của thiếp, thì thiếp có chết cũng được nhắm mắt vậy!” Nói đến đó, thì đau đớn tưởng đứt từng khúc ruột, bất giác bật khóc thảm thiết.

Tôi nói: “Nếu như nàng quả giữa đường lìa bỏ nhau, thì nhất định ta không có lẽ gì mà tái tục nữa. Huống chi, 'Đã qua biển biếc, đâu là nước; Trừ chốn non Vu, chẳng phải mây.”(Nguyên văn: Tằng kinh thương hải nan vị thủy; Trừ khước Vụ sơn bất thị vân, đây là hai câu trong bài thơ Li tư của Nguyên Chẩn đời Đường, ý nói: từng thấy nước biển lớn, thấy mây non Vu rồi thì chẳng còn nước ở đâu, mây ở đâu đáng gọi là nước là mây nữa, ý rằng không thấy ai bằng vợ mình cả) Vân bèn nắm tay tôi, dường muốn nói thêm điều gì nữa, nhưng chỉ lắp bắp nói đứt đoạn được hai chữ “kiếp... sau”, rồi bỗng nhiên thở dốc, cấm khẩu, hai mắt mở to, dù muôn hố ngàn gọi cũng đã không thể nói được nữa. Chỉ thấy huyết lệ hai hàng, đầm đầm tuôn chảy, rồi đó hơi thở dần nhỏ, nước mắt dần khô, linh hồn phiêu diêu, rốt ra đi mãi mãi. Khi ấy là ngày ba mươi tháng ba năm Quý Hợi niên hiệu Gia Khánh. (Tức năm 1803)

Đương khi ấy, tôi một đèn một bóng, nhìn quanh không có ai thân thích, hai bàn tay trắng, tấc lòng tưởng chừng vỡ vụn. Dằng dặc hận này, làm sao lại đến cực độ như vậy! Nhờ có người bạn là Hồ Tỉnh Đường giúp cho mười lạng bạc, tôi cũng dốc hết những gì còn lại trong nhà ra, bán sạch sành sanh, để lo việc tang cho Vân.

Ôi chao! Vân chỉ là một người con gái, nhưng lại có tấm lòng cùng tài năng hiểu biết như một bậc nam nhi. Sau khi về nhà tôi, tôi hàng ngày bôn tẩu lo cái ăn cái mặc, ăn uống thiếu thốn, nhưng vẫn đều có thể tính liệu chu toàn không lo ngại gì. Kịp khi tôi ở nhà, chỉ biết đem chữ nghĩa bàn luận với nhau mà thôi. Bỗng đâu bệnh tật lưu li, mang hận mà chết, hỏi ai gây nên nông nỗi thế này? Tôi đã phụ lòng người lương hữu chốn buồng khuê, hỏi làm sao còn có thể xứng với đạo lý nữa! Xin có lời khuyên cho những vợ chồng trên thế gian, cố nhiên không được coi nhau như kẻ cừu thù, nhưng cũng chớ nên hết mực yêu thương nhau quá đỗi.

Ngạn ngữ có câu: “Ân ái phu thê chẳng rốt cùng”, chính như tôi đây, có thể coi là vết bánh xe đi trước làm gương vậy.

Đến ngày hồi sát, tục truyền vào ngày ấy linh hồn người chết sẽ theo trùng sát mà về, cho nên trong buồng phải bầy biện y như lúc người chết còn sinh tiền, phải xếp những quần áo cũ vẫn thường mặc của người chết lên giường, đặt hài cũ ở dưới giường, để cho hồn về nhìn xem. Vùng Ngô Hạ tương truyền gọi đó là “thu nhãn quang. Lại mời đạo sĩ đến làm phép, trước tiên mời hồn vào giường, rồi sau bảo đi, gọi là “tiếp sảnh”. Tục lệ ở Hàn Giang, phải bày rượu cùng đồ ăn trong buồng của người chết, rồi cả nhà tránh đi hết, gọi là “tị sảnh”. Vì thế mà có nhà trong khi “tị sảnh” bị trộm vào khoắng sạch.

Ngày “sảnh” của Vân, chủ nhà vì là cùng ở nên đi ra ngoài tránh. Hàng xóm bảo tôi bày đồ ăn xong cũng nên tránh xa đi. Tôi chỉ mong hồn phách nàng về để được một lần gặp gỡ, nên cứ ậm ừ không đáp. Có người đồng hương là Trương Vũ Môn can tôi rằng: “Chuyện nhân và nhập tà, anh cũng nên tin rằng có, chớ nên thử mà ở lại đấy.” Tôi nói: “Tôi sở dĩ không tránh mà ở lại đợi, chính là vì tôi tin rằng có chuyện ấy.” Trương lại nói: “Hồi sát nếu mình phạm phải trùng sát, sẽ chẳnglợi cho người sống. Dẫu hồn phu nhân có về, nhưng nghiệp đã âm dương cách biệt, chỉ e rằng chẳng thấy người muốn gặp đâu, mà lại vướng phải mũi dao của thứ nên tránh vậy.”

Khi ấy, tôi tâm si không hiểu, một mực đáp rằng: “Sống chết có mệnh. Nếu anh quả quan tâm lo lắng, thì đi cùng tôi được không?” Trương nói: “Tôi sẽ đứng canh ngoài cửa. Nếu anh thấy có sự lạ gì, cứ kêu lên tôi sẽ lập tức vào ngay.”

Tôi bèn cầm đèn vào buồng, thấy đồ dùng bày biện y nguyên, mà người thì âm dung mờ mịt, chẳng thể ngăn nổi đau lòng rơi lệ. Lại e là mắt lệ nhòe mờ, không nhìn thấy được gì, mới nén nước mắt mở to hai mắt, ngồi xuống giường đợi. Đưa tay ve vuốt những y phục của Vân khi xưa còn để lại, thấy sắc áo còn tươi, mùi hương phảng phất, tôi bất giác quặn đứt trong lòng, tối sầm trước mắt mà mê đi. Chợt nghĩ mình đến đây để đợi linh hồn Vân trở về, làm sao lại bỗng ngủ mê đi thế này? Mở mắt nhìn ra bốn xung quanh, thấy trên bàn có hai ngọn nến lửa xanh leo lét, sáng nhỏ như hạt đậu, chợt sởn da dựng tóc, toàn thân lạnh toát run rẩy. Với xoa hai tay lau trán, chăm chú nhìn kĩ, thấy hai ngọn lửa dần bốc lên, cao đến cả thước, trần nhà dán giấy, suýt nữa thì bị thiêu rụi.

Tôi đang nhờ ánh sáng ấy mà nhìn khắp bốn xung quanh, thì ánh lửa đã thu nhỏ lại y như trước. Bấy giờ tim đập chân run, muốn gọi người canh ở bên ngoài vào xem, nhưng nghĩ hồn phách yếu ớt, e là bị khí thịnh dương lấn át. Thầm gọi tên Vân mà khấn nguyện, nhưng buồng không tịch mịch, chẳng thấy một thứ gì nữa. Khoảnh khắc lửa nến lại sáng, không còn cao vụt lên nữa. Tôi ra, kể lại cho Vũ Môn nghe, Vũ Môn cũng phải phục tôi lớn mật, có biết đâu tôi thực chỉ là nhất thời tình si mà thôi. y

Sau khi Vân mất, nhớ đến câu “vợ là mai, con là học” của Hòa Tĩnh (Hòa Tĩnh: tức Lâm Bộ, tự Quân Phục, là nhà thơ đời Bắc Tống, từng ẩn cư ở Hàng Châu, không có vợ con, chỉ coi mai là vợ, hạc là con. Sau khi Lâm Bộ qua đời, được Tống Nhân tông ban thuy hiệu là Hòa Tĩnh tiên sinh) xưa, tôi bèn tự lấy biệt hiệu là Mai Dật, mua một ngôi đất, theo như lời di ngôn, tạm an táng Vân ở núi Kim Quế - tục gọi là Hác gia Bảo tháp - ở ngoài cửa tây, thành Dương Châu. Ôm bài vị về quê, mẹ tôi thấy cũng đau buồn thương tiếc. Thanh Quân, Phùng Sâm cũng về nhà khóc lóc phục tang. Khải Đường nói với tôi: “Cha vẫn còn chưa nguôi giận, anh nên trở lại Dương Châu, đợi khi cha trở lại nhà, em sẽ lựa lời khuyên giải, rồi gửi thư gọi anh về.”

Tôi bèn bái biệt mẹ già, chia tay con cái, đau đớn khóc than một hồi rồi trở lại Dương Châu, bán tranh độ nhật. Vì thế, lại thường luôn được đến mộ Vân mà khóc, hình đơn bóng chiếc, vô hạn thê lương. Ngẫu nhiên đi qua nơi ở cũ, lại mắt thảm lòng sầu. Tiết Trùng dương, các mộ bên cạnh cỏ đều úa vàng cả, duy mộ Vân cỏ vẫn xanh tươi. Người giữ mộ bảo: “Chỗ huyệt này tốt, nên địa khí còn vượng như thế.” Tôi thầm khấn rằng: “Gió thu đã gấp, mà thân ta chỉ có manh áo đơn, nếu nàng có thiêng, xin phù hộ cho ta có một chỗ làm, qua đận cuối năm này, để đợi tin tức quê nhà.”

Không bao lâu, thì có người mạc khách ở Giang Đô là Chương Ngự Am tiên sinh muốn về Triết Giang lo việc tang cho thân nhân, nhờ tôi giữ giúp công việc trong ba tháng, thế là tôi được đủ áo chăn khỏi rét. Đến khi công đường niêm phong nghỉ Tết, Trương Vũ Môn lại mời đến ở nhà ông ấy. Trương cũng mất việc, Tết nhất khó khăn, bàn bạc với tôi, tôi bèn dốc hết túi lấy hai mươi lạng bạc cho mượn, bảo: “Số tiền này tôi vốn để chi dùng vào việc đưa linh cữu vong thế về quê, đợi đến khi nào có tin tức ở quê nhà tới, thì ông trả lại cho tôi là được.”

Năm ấy, tôi ở lại ăn Tết ở nhà Trương. Sớm mong chiều ngóng, mà quê nhà âm tín vẫn tuyệt không. Đến tháng Ba, năm Giáp Tý, thì tiếp được thư của Thanh Quân, mới biết tin cha tôi bị bệnh, tôi muốn về Tô Châu ngay, nhưng lại sợ làm ông tức giận. Đang khi còn chần chừ trông ngóng, thì lại nhận được thư của Thanh Quân, mới đau đớn biết rằng cha tôi đã dứt nghiệp trần mà tạ thế rồi. Tôi đau lòng buốt tủy, kêu trời chẳng thấu, không có thời gian nghĩ gì khác nữa, lập tức đi ngày đêm về nhà, dập đầu trước linh sàng, kêu khóc đến rỏ máu.

Cha tôi một đời vất vả, bôn tẩu ở ngoài. Sinh được tôi lại là đứa con chẳng ra gì, đã ít chăm nom dưới gối, lại không hầu thuốc bên giường, cái tội bất hiếu ấy, trốn làm sao được! Mẹ trông thấy tôi, khóc bảo: “Sao con đến hôm nay mới về?” Tôi đáp: “Con biết mà về là may nhờ nhận được thư của cháu Thanh Quân vậy.” Mẹ đưa mắt nhìn đứa em dâu tôi, rồi lặng im không nói gì nữa.

Tôi ở nhà thủ tang đến hết tuần đầu, mà rốt chẳng một ai đem việc nhà nói với mình, đưa việc tang bàn với mình cả. Thầm nghĩ, mình chẳng trọn đạo làm con, cho nên cũng chẳng mặt mũi nào mà hỏi ai về chuyện ấy.

Một hôm, bỗng có một toán người đến đòi nợ, vừa vào cửa liền lên giọng to tiếng gọi tôi. Tôi ra tiếp lời, bảo: “Thiếu nợ không trả, cố nhiên phải đòi, nhưng cha tôi nằm đó xác còn chưa lạnh, nhân khi nhà người ta có chuyện tại hung mà đến gọi đòi, chẳng phải là làm quá lắm ư?” Trong số ấy có một người bảo riêng tôi rằng: “Chúng tôi có người gọi bảo đến đây, ông hãy tạm tránh ra, để chúng tôi đòi tiền người gọi chúng tôi đến.” Tôi nói: “Tôi nợ thì tôi trả, các ông mau về đi.” Bọn họ đều vâng dạ rồi đi.

Tôi nhân gọi Khải Đường ra, nói với nó rằng: “Anh tuy không ra gì, nhưng cũng chưa từng vô cớ làm ác. Nếu như nói anh đã đi ăn thừa tự rồi, tang chế phải giáng bậc (Thẩm Phục được cho thừa tự người bác mình. Theo tang chế xưa, người con nào đã ra thừa tự chú, bác, thì chịu tang cha mẹ giáng một bậc theo như hàng cháu), thì trước nay anh chưa từng được mảy may tơ hào của thừa tự gì. Lần này về chịu tang cha, vốn là cái đạo làm con phải thế, chứ há lại là vì về để tranh giành tài sản đâu? Đại trượng phu quý ở chỗ tự lập lấy mình, anh đã tay không về đây, sẽ lại tay không ra đi vậy!” Tôi nói xong, quay vào trong trường, không ngăn được bật khóc lên thành tiếng. Khấu đầu từ biệt mẹ, lại đến nói cho Thanh Quân biết, rằng sẽ vào non sâu, tìm Xích Tùng Tử (Tương truyền là một vị tiên đời xưa) lánh khỏi cõi đời vậy.

 

Thanh Quân đang khuyên ngăn, thì hai anh em người bạn tôi là Hạ Nam Huân tự Đạm An, và Hạ Phùng Thái tự Ấp Sơn theo sau chạy đến nơi, lớn tiếng khuyên can rằng: “Gia đình mà như thế, cố nhiên khiến người ta phải phẫn hận, nhưng túc hạ tuy cha mất song mẹ vẫn còn, vợ chết mà con chưa lập, nay rốt lại định tiêu diêu xuất thế, có an tâm được chăng?” Tôi nói: “Vậy biết làm sao đây?” Đạm An nói: “Xin hãy tạm thời hạ cố đến ở tệ xá. Nghe nói ông Điện soạn (Điện soạn: Đời Minh, đời Thanh, các vị Trạng nguyên đều được trao chức Hàn lâm viện tu soạn, nên người ta cũng gọi Trạng nguyên là Điện soạn) Thạch Trác Đường vừa có thư xin nghỉ phép về quê, hãy ở chỗ tôi đợi đến khi ông ấy về thì cùng đến thăm một thể, ông ấy tất có cách bố trí một chân nào đó cho ông.” Tôi nói: “Tôi đang khi có tang còn chưa qua trăm ngày, mà các anh trong nhà còn có cha già, tôi đến e rất không tiện.” Áp Sơn. nói: “Ngu huynh đệ mời túc hạ lại nhà, cũng chính là ý của cha vậy. Nếu như túc hạ cứ giữ ý cho là bất tiện, thì ở mé tây lân cận có ngôi chùa, thầy phương trượng vốn rất thân thiết với tôi, kê một chỗ nằm cho túc hạ đến ở trong chùa, có được chăng?” Tôi bèn đồng ý.

Thanh Quân nói: “Gia sản ông nội con để lại, chẳng dưới ba, bốn ngàn lạng, cho dù chẳng lấy một phân một hào nào, nhưng hồ dễ đến hành lý cũng vứt bỏ cả hay sao? Con sẽ đến lấy, rồi mang thẳng tới chùa cho cha có được không?” Vì thế mà ngoài đồ hành lý của mình, Thanh Quân còn đem cho tôi cả mấy món tranh ảnh sách vở, ống bút, nghiên mực mà cha tôi để lại.

Sư chùa bố trí cho tôi ở trên gác Đại Bi. Gác quay hướng nam, phía đông đặt tượng Phật, cách đầu phía tây một gian, trổ cửa sổ ngắm trăng, đối diện trước gian thờ Phật, vốn là chỗ để những người làm Phật sự dùng trai thực, tôi bèn kê chỗ nằm ở đó. Trước cửa có tượng Quan Thánh đứng cầm đao, cực kỳ uy vũ. Trong sân có một cây ngân hạnh, lớn tới ba người ôm, bóng trùm hết cả căn gác, đêm yên tĩnh tiếng gió nghe như gầm thét.

Ấp Sơn thường đem rượu quả đến cùng đối ẩm, bảo: “Túc hạ một mình ở đây, đêm khuya không ngủ, có thấy sợ không?” Tôi nói: “Kẻ hèn này cả đời ngay thẳng, trong tâm không có uế niệm, có gì mà phải sợ?” Ở đó chưa bao lâu, thì có cơn mưa lớn như trút nước, hết ngày lại đêm, suốt hơn ba mươi hôm, tôi lúc nào cũng lo cây ngân hạnh gãy cành đà vào nóc gác. May nhờ thần linh phù hộ, rốt cuộc tôi cũng được bình yên vô sự. Trong khi ở ngoài phố, những nhà bị ở đổ tường sụp mái không thể đếm hết được bao nhiêu, những ruộng lúa ở gần đó cũng đều bị cuốn trôi hết sạch. Tôi thì ngày ngày chỉ cùng vẽ tranh với tăng nhân, chẳng nghe chẳng thấy gì hết.

Đầu tháng Bảy, trời mới tạnh. Cha của Ấp Sơn hiệu là Thuần Hương có việc buôn bán đến Sùng Minh, gọi tôi đi cùng để lo giúp việc sổ sách giấy tờ, được hai chục lạng bạc. Đến khi về, thì vừa kịp sắp đến ngày an táng cha tôi. Khải Đường sai Phùng Sâm đến bảo tôi rằng: “Chú vì việc tang của ông nên không đủ tiền chi dụng, muốn cha giúp cho một, hai chục lạng bạc.” Tôi định dốc hết túi ra đưa, nhưng Ấp Sơn không cho, chia lại một nửa. Tôi bèn dẫn Thanh Quân đến nơi đặt mộ trước. An táng cho xong xuôi, tôi lại quay về gác Đại Bi.

Thi Cuối tháng Chín, Ấp Sơn có ruộng ở bãi Vĩnh Thái, Đông Hải, lại kêu tôi cùng đi đến đó thu hoa lợi. Vất vả hai tháng, đến khi trở về thì đã cuối đông, tôi dời vào ngụ ở Tuyết Hồng tháo đường trong nhà qua Tết. Thực là người cốt nhục khác họ vậy.

Tháng Bảy năm Ất Sửu, (Tức năm 1805) Trác Đường mới từ kinh đô về tới làng. Trác Đường tên là Uẩn Ngọc, tự Chấp Như - Trác Đường là tên hiệu vậy - vốn giao du với tôi từ thuở bé, đậu Trạng nguyên năm Canh Tuất niên hiệu Càn Long (Tức năm 1790), được ra làm Quận thú Trùng Khánh, Tứ Xuyên. Loạn Bạch Liên giáo, ông lo việc binh mã ba năm, rất có công lao. Kịp khi về, chúng tôi cùng gặp nhau vui lắm. Chớp mắt, đến tiết Trùng cửu, Trác Đường đưa cả gia quyến lại tới nơi nhậm chức ở Trùng Khánh, Tứ Xuyên, mời tôi cùng đi. Tôi lập tức đến từ biệt mẹ ở chỗ nhà người em rể lấy cửu muội của tôi là Lục Thượng Ngô, vì nhà cũ của cha tôi đã về tay người khác rồi. Mẹ tôi dặn bảo: “Em trai con không thể trông cậy gì được, chuyện này con đi nên gắng sức. Chấn hưng lại tiếng tăm nhà ta, giờ chỉ trông chờ vào con đó!” Phùng Sâm tiên tôi đến nửa đường, bỗng rơi nước mắt khóc mãi không thôi, tôi đành bảo nó quay về không cần tiễn nữa.

Thuyền ra đến Kinh Khẩu, Trác Đường có người bạn cũ là Hiếu liêm Vương Dịch Phu hiện đang làm ở sở muối Hoài Dương, bèn vòng đến thăm, tôi cũng đi cùng, nên lại được đến thăm mộ Vân nương một bận. Thuyền quay lại, ngược dòng Trường Giang mà đi lên, dọc đường chơi thăm các nơi danh thắng. Đến Kinh Châu, Hồ Bắc, thì Trác Đường lại nhận được thư thăng lên làm Đồng Quan Quan sát, bèn để tôi ở lại với con trai của ông ấy là Đôn Phu cùng gia quyến tạm ngụ ở Kinh Châu. Còn Trác Đường thì đi ngựa cùng vài người tùy tòng đến Trùng Khánh, ăn Tết xong sẽ từ Thành Đô theo đường sạn đạo đến nơi nhậm chức.

Tháng Hai năm Bính Dần, gia quyến của Trác Đường mới theo đường thủy đến, tới Phan Thành thì lên bờ. Đường xa, phí lớn, xe nặng người nhiều, ngựa chết trục gãy, nếm đủ mùi vất vả. Đến được Đồng Quan thì đã vừa tháng Tư, Trác Đường lại thăng làm Liêm phỏng (Tức Án sát sứ) ở Sơn Tả (Tức Sơn Đông), quan lộ phơi phới. Quyến thuộc không thể cùng đi theo cả, phải mượn tạm Đồng Xuyên thư viện làm nơi cư ngụ.

Cuối tháng Mười, Trác Đường mới được chi tiền bổng của chức Liêm phỏng Sơn Tả, sai người đến đón thân quyến. Lại mang theo giúp cả thư của Thanh Quân gửi cho tôi, kinh hãi biết tin Phùng Sâm đã yểu vong tháng Tư vừa rồi! Mới hay, khi trước nó rơi nước mắt mà tiên tôi, ấy cũng là khi cha con vĩnh quyết vậy.

Ô hô! Vân chỉ có một đứa con trai, thế là đã không có người kế nối nữa! Trác Đường hay tin, cũng phải thở than hoài, rồi tặng cho tôi một người thiếp, khiến tôi lại bước vào một giấc mộng xuân. Từ đó rối rối bời bời, lại chẳng biết khi nào thì mộng tỉnh vậy. 

 

4. Khoái lãng du

 

Khoái lãng du

Tôi theo việc quan các nơi trải ba mươi năm, những nơi chưa đến trong thiên hạ, chỉ có Thục Trung, Kiềm Trung và Điền Nam mà thôi. Tiếc rằng rong ruổi ngựa xe, chỗ nào cũng phải theo người khác, nên sông núi vui tình, khói mây qua mắt, bất quá chỉ lĩnh hội được đại khái, chứ chẳng thể tìm tòi được hết những nơi vắng vẻ thâm u vậy. Phàm việc gì, tôi cũng thích tự làm theo ý mình, không thèm theo đúng sai của người khác. Đến như việc luận thơ thưởng họa, cũng vẫn có cái ý người quý mà ta bỏ, người bỏ mà ta trọng. Cho nên những nơi danh thắng, cũng quý ở chỗ mình tâm đắc, có nơi danh thắng mà mình chẳng thấy gì là đẹp, có nơi chẳng phải danh thắng mà mình lại tự cho là tuyệt vời. Xin trộm đem những nơi bình sinh đã từng trải mà ghi lại.

Năm tôi mười lăm tuổi, Giá Phu công - cha tôi làm dưới trướng Triệu minh phủ (Tức Huyện lệnh) ở Sơn Âm. Có Triệu Tỉnh Trai tiên sinh, tên là Truyền, vốn là bậc túc nho ở đất Hàng, được Triệu minh phủ mời tới nhà dạy học cho con trai mình, cha tôi cũng sai tôi đến xin học dưới của thầy.

Những ngày rảnh rỗi đi chơi, tôi được đến núi Hồng Sơn, cách thành độ hơn chục dặm, nhưng không thông đường bộ. Gần núi có một động đá, trên có phiên thạch, đưa ngang nứt ra như muốn rơi xuống, chúng tôi liền bơi thuyền qua dưới đó mà vào. Bên trong chợt thấy mở rộng, bốn mặt đều là vách đá dựng đứng, tục gọi đó là “Thủy Tiên” (vườn nước). Kề bên bờ nước có dựng năm gian gác đá, trên vách đá đối diện có ba chữ “Quan ngư dược” (xem cá nhảy). Nước đó sâu không thể đo được, tương truyền có cá lớn vẫn ẩn lặn dưới đáy sâu. Tôi ném mồi xuống thử xem sao, nhưng chỉ thấy những con cá chưa đầy một thước ra ăn mà thôi. Sau gác có lối thông ra vườn khô, măng đá tua tủa đầm lên, có cái đưa ngang rộng như hình bàn tay, có cái như trụ đá trên đỉnh bằng phẳng, đỡ thêm một khối đá lớn, dấu vết đẽo gọt vẫn còn, chẳng có gì gọi là đáng kể. Du ngoạn xong rồi, lại cùng ăn uống trên thủy các, sai những người đi cùng đốt pháo, một tiếng nổ vàng, muôn núi cùng vang dội lại, như nghe tiếng sấm sét. Đó là cuộc khoái du đầu tiên khi còn nhỏ. Tiếc rằng những nơi như Lan Đình, Vũ Lăng (Tức lăng Hạ Vũ. Tương truyền Hạ Vũ nam tuần đến núi Cối Kê thì mất, được táng đó.) chưa từng được tới, đến nay vẫn lấy làm tiếc.

Ở Sơn Âm đến năm sau, thì thầy tôi vì cớ cha mẹ già không đi xa nữa, mở lớp dạy học tại nhà, tôi bèn theo đến Hàng Châu. Nhân đó lại được du lãm thắng cảnh Tây Hồ. Kết cấu tinh diệu, thì tôi cho Long Tỉnh là hơn cả, thứ thì đến vườn Tiểu Hữu Thiên. Đá thì có Phi Lai Phong ở Thiên Trúc, Thụy Thạch cổ động ở núi Thành Hoàng. Nước thì có suối Ngọc Tuyền, trong mà nhiều cá, có cái thú vị hoạt bát sống động vậy. Đại khái không đáng xem nhất, là chùa Mã Não trên Cát Lĩnh. Còn lại, những cảnh như đình Hồ Tâm, suối Lục Nhất, mỗi nơi đều có cái đẹp riêng, chẳng thể kể hết được, nhưng đều không thoát ra được khỏi hơi son phấn, rốt chẳng bằng được vẻ u tịch, thanh nhã mà gần tự nhiên của nơi tĩnh thất nhỏ.

 

Mộ Tô Tiểu Tiểu (Tô Tiểu Tiểu: người Tiền Đường, là danh kĩ nổi tiếng đời Nam Tề.) ở bên cầu Tây Linh. Người bản thổ cho biết mới đầu đó chỉ là nấm đất vàng thâm thấp. Năm Canh Tý niên hiệu Càn Long (Tức năm Càn Long thứ bốn mươi lăm, 1780), thánh giá nam tuần, từng một lần hỏi đến. Xuân năm Giáp Thìn, Hoàng đế lại cử thịnh điển nam tuần lần nữa, thì mộ Tô Tiểu Tiểu đã được xây lại bằng đá, thành hình bát giác, trên dựng một tấm bia, viết mấy chữ lớn: “Mộ Tô Tiểu Tiểu người Tiền Đường. Từ bấy, những tạo nhân điếu cổ, không cần phải băn khoăn tìm hỏi nữa. Tôi nghĩ thầm, tự cổ đến nay những bậc liệt phách trung hồn bị mai một không được truyền lại, đã không biết bao nhiêu mà kể, đến những người được truyền lại nhưng chẳng được lâu dài cũng không ít. Tiểu Tiểu chỉ là một danh kĩ, mà từ đời Nam Tề đến nay, người đời chẳng ai không biết. Đó chẳng phải là do linh khí chung đúc, để điểm xuyết cho nơi núi hồ ư?

Qua phía bắc cầu mấy bước, có Sùng Văn thư viện, tôi từng cùng bạn học là Triệu Tập Chi tới thi ở đó. Khi ấy đang giữa mùa hè, chúng tôi dậy sớm lắm, ra khỏi cửa Tiền Đường, qua chùa Chiều Khánh, lên Đoạn kiều, ngồi trên lan can đá. Nắng sớm sắp lên, ráng mai ánh ngoài rặng liễu, quang cảnh thật đẹp. Trong hương sen trắng, gió mát thoảng đưa, khiến người ta thấy như thanh sạch đến tận tâm cốt. Bước tới thư viện, đề thi vẫn còn chưa đưa ra vậy. Sau giờ ngọ nộp quyển, tôi với Tập Chi lại cùng đến động Tử Văn hóng mát. Động có thể chứa được mấy chục người, lỗ đá phía trên ánh mặt trời có thể soi xuống được. Có người bày mấy chiếc ghế thấp bàn Con bán rượu ở đó. Chúng tôi cởi áo cùng uống đôi chén, nhắm với nem hươu rất tuyệt, lại kèm thêm ấu tươi ngó trắng, ngà say mới ra khỏi động. Tập Chi nói: “Phía trên có Triều Dương đài, rất cao thoáng, sao chúng ta không lên chơi một bận?” Tôi cũng hứng chí, gắng sức leo lên đến đỉnh núi, thấy Hồ Tây như mảnh gương con, thành Hàng Châu tựa viên bi nhỏ, sông Tiền Đường như dải dây lưng, nhìn hết tầm mắt có thể thấy xa vài trăm dặm. Ấy là quang cảnh rộng lớn được thấy lần đầu trong đời vậy.

Ngồi hồi lâu, vùng ô sắp lặn, chúng tôi cùng dắt nhau xuống núi, thì tiếng chuông chiều Nam Bình đã thu không. Những cảnh Thao Quang, Vân Thê vì đường xa chưa tới được, còn hoa mai ở Hồng Môn cục, cây lim ở miếu Cô Cô, bất quá cũng đến thế thôi. Động Tử Dương tôi cho là tất sẽ khả quan, nhưng hỏi tìm được tới nơi, thì cửa động chỉ nhỏ như ngón tay, có một dòng suối chảy rì rào thôi. Truyền rằng trong đó có nơi động thiện, nhưng hận là chẳng thể khoét cửa mà vào được.

Ngày Thanh Minh, thầy tôi đi tảo mộ tế xuân cùng theo. Mộ ở núi Đông Nhạc, nơi ấy nhiều tre trúc, người coi mộ đào lấy măng non còn chưa mọc lên khỏi đất, trông hình trạng tựa trái lê mà nhọn, nấu canh mời khách ăn. Tôi thấy ngon, ăn hết liền hai bát. Thầy bảo: “Ôi! Món này ăn tuy ngon nhưng hai tâm huyết, nên ăn nhiều thịt để giải đi.” Tôi vốn không ham ăn những món sát sinh, vì thế cơm ăn cũng vì măng mà giảm đi. Trên đường về cảm thấy phiền nhiệt, môi lưỡi có mấy chỗ nẻ cả ra. Qua động Thạch Thất, nhưng không có gì đẹp lắm. Động Thủy Nhạc vách núi nhiều dây leo, vào trong động như gian nhà nhỏ, có suối chảy rất xiết, tiếng reo ào ào. Vụng nước rộng chỉ ba thước, sâu độ năm tấc, chẳng tràn cũng chẳng cạn. Tôi cúi mặt xuống dòng nước mà uống, phiền nhiệt nhất thời hết sạch. Ngoài động có hai cái đình nhỏ, ngồi trong đó có thể nghe được tiếng suối chảy. Nhà sư mời tới xem cái vại vạn năm. Vại để ở Hương Tích trù(Hương Tích trù: tên gọi thông dụng các nơi bếp ăn, trai đường trong chùa), hình trạng rất to lớn, lấy ống vầu dẫn nước suối đổ vào, để mặc cho đầy tràn, qua nhiều năm, Có rêu dày tới hàng thước, ngày đông cũng không đóng bằng, cho nên không bị vỡ nứt.

Năm Tân Sửu, (Tức năm 1781. 3. Tức bệnh sốt rét) mùa thu, tháng Tám, cha tôi mắc bệnh ngược, phải về quê, lạnh thì đòi lửa, nóng thì đòi nước đá, tôi khuyên can nhưng không nghe, rốt chuyển ra bị thương hàn, bệnh tình ngày càng nặng. Tôi hầu hạ thuốc thang, ngày đêm không được chợp mắt, gần suốt một tháng. Vợ tôi là Vân nương cũng ốm nặng, phải nằm bẹp trên giường. Tôi trong lòng trĩu nặng, không thể nói được ra thế nào. Cha gọi tôi vào dặn bảo: “Bệnh cha e khó mà qua khỏi, mày ôm mấy cuốn sách, rốt chẳng phải là kế sinh nhai. Để cha gửi mày tới người em kết nghĩa là Tưởng Tư Trai cho kế nghiệp ta mới được.” Qua ngày thì Tư Trai đến, cha lập tức bắt tôi bái làm thấy ngay trước giường bệnh. Ít lâu sau thì cha tôi được danh y Từ Quan Liên chẩn trị, bệnh tình dần khỏi. Vân cũng nhờ tài thầy Từ mà dậy được khỏi giường, nhưng tôi thì từ đó theo học việc trong mạc phủ. Đó chẳng phải là việc thích thú gì, sao lại chép vào đây? Xin thưa: Chuyện vứt sách lãng du của tôi là bắt đầu từ đó, cho nên ghi lại vậy.

Tư Trai tiên sinh tên là Tương, mùa đông năm ấy tôi lập tức theo tiên sinh học những việc mạc phủ ở Phụng Hiền quan xá. Cùng học việc với tôi, có họ Cố, tên là Kim Giám, tự là Hồng Can, hiệu Tử Hà, cũng người Tô Châu. Hồng Can là người khảng khái cương nghị, thẳng thắn chân thành, lớn hơn tôi một tuổi, nên tôi vẫn gọi là huynh. Hồng Can cũng không ngần ngại gọi tôi là đệ, giao du với nhau rất hết lòng. Đó là bạn tri giao đầu tiên của tôi. Tiếc rằng, anh mất khi mới hai mươi hai tuổi, khiến tôi thành người cô lẻ quả giao. Năm nay tôi đã bốn mươi sáu tuổi rồi, mịt mờ bể cả, chẳng biết đời này có còn gặp được một người tri kỷ như Hồng Can nữa hay không?

Nhớ lại, khi còn chơi với Hồng Can, tâm hồn cao rộng, thường có ý muốn được dựng nhà trong núi mà ở. Ngày Trùng cửu, tôi với Hồng Can cùng ở Tô Châu, có tiền bối là Vương Tiểu Hiệp cùng Giá Phu công - cha tôi gọi nhà trò đến diễn kịch, mời khách dự tiệc ở nhà tôi. Tôi chán sự ồn ào, bèn trước đó một hôm hẹn Hồng Can đến Hàn Sơn đăng cao chơi núi, đồng thời tìm hỏi chỗ để ngày sau dựng nhà. Vân giúp tôi chuẩn bị một be rượu nhỏ. Tới ngày hẹn, trời vừa sắp sáng, Hồng Can đã đến cửa gọi đi. Tôi bèn xách be ra cửa Tư Môn, vào hàng mì, ai nấy ăn no, rồi qua Tư Giang, đi bộ đến cầu Tảo Thị ở Hoành Đường. Thuê một chiếc thuyền nhỏ đi tới núi, còn chưa tới giờ ngọ. Người phụ thuyền rất thật thà tốt bụng, tôi bảo đi mua gạo về nấu cơm, còn hai chúng tôi cùng lên bờ, trước tiên đến chơi chùa Trung Phong.

Chùa ở phía nam ngôi cổ sát Chi Hình, men đường mà lên, chùa ẩn sâu dưới những tán cây, sơn môn tĩnh lặng, cảnh vắng sự nhàn, thấy hai chúng tôi không áo không giày, cũng chẳng buồn ra tiếp đón. Chúng tôi chẳng phải cốt đến đó, nên cũng không vào sâu. Quay về thuyền, Cơm cũng đã chín. Cơm xong, phu thuyền cầm be đi theo cùng, chỉ dặn đứa con trai ở lại trông thuyền. Từ Hàn Sơn đến Bạch Vân Tịnh Xá ở vườn Cao Nghĩa, hiên vươn ra vách núi cao, dưới đào tạo một ao nhỏ, vây lan can đá. Một khoảnh nước thu, vách núi dây leo, bên tường rêu mọc. Cùng ngồi dưới hiên, chỉ nghe thấy lá rụng lao xao, lặng thinh không dấu chân người qua lại.

Ra khỏi cửa có một đình nhỏ, chúng tôi bảo phu thuyền ngồi đó đợi, rồi theo khe đá đi vào trong, chỗ ấy gọi là “Nhất tuyến thiên”. Theo bậc đá quanh co, lên thẳng tới đỉnh núi, gọi là “Thượng bạch cân”, thấy có cái am đã đổ nát, còn một lầu cao, nhưng chỉ có thể nhìn từ xa mà thôi. Ngồi nghỉ giây lát, rồi đỡ nhau đi xuống. Phu thuyền bảo: “Các ông đăng cao, mà quên không cầm be rượu này.” Hồng Can nói: “Chúng tôi đi chơi đây, là muốn tìm nơi cùng ở ẩn vậy, đâu phải chỉ là chuyện đăng cao?” Phu thuyền nói: “Từ đây đi về phía nam hai, ba dặm, có thôn Thượng Sa, nhiều nhà dân ở, có chỗ đất không, tôi có người bà con bên ngoại là họ Phạm thôn ấy, hay các ông tới đó chơi một chuyến?” Tôi mừng bảo: “Đó là nơi ẩn cư của Từ Sĩ Trai tiên sinh cuối đời Minh vậy. Có khu vườn, nghe nói rất u nhã, mà tôi chưa từng đến chơi đó bao giờ.” Phu thuyền bèn dẫn đi.

Thôn nằm trên lối đi giữa hai khe núi. Vườn tựa vào núi, nhưng không có đá, nhiều cây cổ thụ thế quanh co uốn khúc, đình tạ hiện song, hết sức giản dị. Nhà có rào tre, không hổ là nơi ở của người ẩn sĩ. Trong vườn có đình Tạo Kiệp, cây bồ kết lớn đến hai ôm. Trong số những định viên mà tôi đã từng qua chơi, nơi đây là đầu tiên vậy.

Bên trái vườn có núi, tục gọi là núi Lồng Gà. Đỉnh núi dựng đứng, chống phía trên có khối đá lớn, tựa như Thụy Thạch cổ động ở Hàng Châu, nhưng không được lung linh như thế. Bên cạnh có một sập đá xanh, Hồng Can nằm lên trên bảo: “Chỗ này ngửa trông đỉnh núi, cúi xem viên đình, đã rộng thoáng lại u tĩnh, có thể lấy rượu ra uống được đấy.” Nhân kéo phu thuyền ngồi xuống cùng uống, kẻ ngâm người hát, tùy thích mặc lòng.

Dân địa phương thấy chúng tôi đến tìm đất, ngỡ là thầy địa lý, nói cho biết chỗ nọ chỗ kia có phong thủy tốt. Hồng Can nói: “Chỉ cần hợp ý, bất luận phong thủy.” Phải chăng lời ấy sau thành ra câu nói gở? Be rượu đã cạn, ai nấy lại hái hoa cúc dại cắm đầy hai bên mái tóc.

Thuyền quay về, thì mặt trời đã sắp lặn. Độ canh một tôi về đến nhà, khách khứa vẫn còn chưa tan. Vân nói riêng với tôi: “Trong số mấy đào hát có cô Lan, đoan trang đáng yêu lắm” Tôi giả truyền lệnh mẹ, gọi Lan vào trong nhà, nắm lấy cổ tay, mà chăm chú nghiêng nhìn, thấy quả nhiên đầy đặn trắng trẻo. Tôi quay sang Vân bảo: “Đẹp thì đẹp rồi, nhưng rốt hiềm danh bất xứng thực.” Vân bảo: “Người béo thì có phúc tướng.” Tôi nói: “Cái họa Mã Ngôi, thì phúc của Ngọc Hoàn ở đâu?” Vân lựa cớ ra nói Lan đi, rồi vào bảo tôi: “Hôm nay chàng lại say khướt rồi phải không?” Tôi bèn đem chuyện đi chơi kể lại lần lượt cho nghe, Vân cũng như thả hồn theo đó hồi lâu vậy.

Xuân năm Quý Mão (Tức năm 1783), tôi theo thầy Tu Trai đến nơi mời dạy ở Duy Dương,(Tức Dương Châu) mới được thấy diện mạo Kim Sơn, Tiêu Sơn. Kim Sơn nên nhìn xa, mà Tiêu Sơn thì nên ngắm gần. Tiếc rằng tôi qua lại nơi ấy mà chưa từng trèo lên ngọn chơi. Qua sông lên phía bắc, đúng như Ngư Dương (Tức Vương Sĩ Trinh (1634-1711), tự Di Thượng, biệt hiệu Ngư Dương Sơn Nhân, nên người ta vẫn gọi là Vương Ngư Dương, nhà văn nổi tiếng đầu đời Thanh) nói “Dương xanh thành quách ấg Dương Châu” - chỉ một câu mà đã hiện lên sống động vậy!

Bình Sơn Đường cách thành ước độ ba, bốn dặm, đi thăm hết lượt cũng độ tám, chín dặm, tuy toàn là cảnh nhân tạo, nhưng ý tưởng kỳ ảo, điểm xuyết tự nhiên, đến Lãng Uyển, Dao Trì, lầu quỳnh điện ngọc, e cũng không hơn được vậy. Điểm tuyệt diệu là ở chỗ đó là đình vườn của hơn mười nhà hợp lại thành một, nối nhau tới tận núi, khí thế xuyên suốt. Chỗ khó sắp đặt nhất ở đó là ra khỏi thành tiến vào cảnh, có độ một dặm men sát theo vòng thành ngoài. Phàm, thành quách phải điểm xuyết giữa núi non ở chỗ thoáng rộng, mới có ý cảnh khả dĩ vẽ vào tranh được. Vườn cảnh mà có chỗ như thế, thì thực ngu xuẩn lắm vậy. Thế nhưng xem đó, thì thấy hoặc đình hoặc đài, hoặc tường hoặc đá, hoặc trúc hoặc cây, đều nửa ẩn nửa lộ, khiến khách du chơi không bị chướng mắt, cái ấy chẳng phải được người có sẵn núi khe trong lòng thì nhất định khó mà hạ thủ được vậy.

Hết thành, thì có Hồng Viên là đầu tiên, ngoặt lên phía bắc, có cây cầu đá tên gọi là Hồng Kiều. Chẳng rõ tên vườn là lấy theo tên cầu chăng? Hay là tên cầu lấy theo tên vườn chăng? Chèo thuyền qua một nơi là Trường để xuân liễu, cảnh ấy không điểm xuyết ở chân thành, mà lại sắp đặt ở đây, càng thấy bố trí tuyệt khéo. Lại ngoặt sang phía tây, thấy đắp đất dựng miếu, gọi tên là Tiểu Kim Sơn, có cảnh ấy ngăn cách, càng thấy khí thế liền sát, cũng không phải là bố trí tầm thường. Nghe nói nơi này vốn là đất cát, nhiều lần xây dựng không được, sau phải dùng cọc gỗ đóng xuống, rồi đắp tiếp đất lên, tổn phí mấy vạn lạng mới nên vậy. Nếu chẳng phải là nhà thương gia, thì đâu có thể làm nổi.

Đi qua đó, thì có Thắng Khái, hàng năm người ta đều đứng trên đó xem đua thuyền. Mặt sống khá rộng, có cầu Liên Hoa vươn từ nam sang bắc, cửa cầu thông tám mặt, trên cầu dựng năm đình, người Dương Châu gọi đó là “bốn mâm một nồi chỗ”. Đó chính là trí cùng sức kiệt mà làm ra, không có gì là đáng kể. Phía nam cầu có chùa Liên Tâm, trong chùa vụt lên một tòa tháp Lạt Ma màu trắng, chóp vàng chuỗi ngọc, cao đến tận mây. Góc điện tường đỏ, tùng bách chen nhau, thi thoảng lại nghe tiếng chuông khánh, đó là điểm mà những vườn cảnh thiên hạ chưa đâu có vậy. Qua cầu thấy ba tầng gác cao, cột vẽ mái vươn, ngũ sắc sặc sỡ, xây bằng đá Thái Hồ, vây lan can đá trắng, đặt tên là Ngũ Vân Đa Xứ, như một đại kết cấu trong bài văn vậy. Qua đó đến cảnh Thục Chương Triều Dương, bình thường không có gì lạ, chỉ là cảnh phụ thêm. Gần tới dưới núi, mặt sông dần thu lại, người ta đắp đất trồng tre trồng cây, cho sông thành bốn, năm khúc quanh, tựa như chỗ sơn cùng thủy tận, rồi bỗng nhiên lại vụt mở rộng rãi, rừng Vạn Tùng của Bình Sơn đã hiện ra trước mặt vậy.

Ba chữ Bình Sơn Đường là của Âu Dương Văn Trung (Tức Âu Dương Tu, nhà văn nổi tiếng đời Tống) viết. Đệ Ngũ Tuyền ở Hoài Đông mà người ta vẫn nói, suối thật thì ở trong động của hòn giả sơn, nhưng chỉ như một miệng giếng mà thôi, vị nước như nước mưa. Còn giếng có lan can sắt sáu lỗ ở trong Hà Đình, thì là suối giả, nước không uống được. Vườn Cửu Phong nằm ở một nơi u tĩnh ở cửa Nam, lại có một thú vị tự nhiên khác, tôi cho là đứng đầu trong các vườn. Còn cảnh Khang Sơn thì tôi chưa tới, chẳng biết như thế nào.

Đó là nói đại lược như vậy, những chỗ công phu, tinh xảo, chẳng thể kể hết được. Đại thể nên nhìn nhận với con mắt như khi nhìn một mỹ nhân trang điểm lộng lẫy, chứ không thể nhìn như người đẹp khi còn giặt lụa bên suối vậy. Tôi vừa vặn kính gặp dịp thịnh điển xa giá tuần du phương nam, các phường thợ khắp nơi đều ra sức làm xong, để điểm tô tiếp giá, do vậy được thỏa sức xem đại cảnh quan, cũng là chuyện hiếm gặp trong đời người vậy.

Xuân năm Giáp Thìn, (Tức năm 1784) tôi theo hầu cha dưới trướng Ngô Giang minh phủ, cùng làm việc có Chương Tần Giang người Sơn Âm, Chương Ánh Mục người Vũ Lâm, Cố Ái Tuyền người Thiều Khê, phụng mệnh lo việc bố trí hành cung ở Nam Đẩu Vu, nên lại được chiêm ngưỡng long nhan lần thứ hai. Một hôm, trời đã về chiều, chợt muốn về nhà. Khi ấy đang có sẵn thuyền nhẹ để sai việc, thuyền có hai cột buồm, hai tay chèo, lướt nhanh như bay trên Thái Hồ, tục đất Ngô gọi là Xuất thủy bí đầu (ngựa dưới nước), chớp mắt đã đến cầu Ngô Môn. Dẫu có cưỡi hạc bay trên không cũng chẳng sảng khoái được như vậy. Tôi về tới nhà, thì cơm tối vẫn còn chưa chín.

Quê tôi xưa giờ vốn chuộng phồn hoa, đến nay chuyện tranh kỳ đoạt thắng so với trước kia lại còn xa xỉ hơn nữa. Đèn màu chói mắt, đàn hát inh tai, những cái mà cổ nhân nói như “cột vẽ gạch chạm”, “màn thêu rèm châu”, “lan can ngọc”, “tàn lọng gấm”, cũng chẳng thể hơn được. Tôi bị bạn bè kẻ kéo người lôi, để tới giúp cắm hoa kết lụa, mỗi khi rảnh rỗi là lại gọi bạn gọi bè, sướngẩm cuồng ca, thỏa tình du lãm, thiếu niên hào hứng, chẳng biết mệt nhọc là gì. Nếu sinh ra gặp thời thịnh thế, nhưng lại ở nơi vắng vẻ, thì làm sao được du lãm thưởng thức như vậy?

Năm ấy, Hà minh phủ về việc bị hặc, cha tôi bèn theo lời mời đến làm dưới trướng Vương minh phủ ở Hải Ninh. Ở Gia Hưng có ông Lưu Huệ Giai, vốn tín Phật ăn chay trường, đến bái kiến cho tôi. Nhà ông Lưu ở bên cạnh lầu Yên Vũ, có một căn gác dụng bên sông, gọi tên là Thủy Nguyệt Cư, chính là nơi ông ấy tụng kinh, yên tĩnh sạch sẽ như nơi tăng xá. Lầu Yên Vũ ở trong Kinh Hồ, bốn xung quanh bờ đều là liễu biếc, chỉ tiếc là không nhiều trúc. Từ ban công có thể trông xa được, thấy thuyền câu rải rác, sóng nhẹ mênh mang, rất hợp lên ngắm những đêm trăng. Nhà sư sắp cho một mâm cơm chay ngon lắm.

Đến Hải Ninh, cùng làm việc với Sử Tâm Nguyệt người Bạch Môn, Du Ngọ Kiều người Sơn Âm. Tâm Nguyệt có một con trai tên là Chúc Hành, tính tình thanh tĩnh kín đáo, văn chương nho nhã, rất tâm đầu ý hợp với tôi. Đó chính là người bạn tri tâm thứ hai trong đời tôi vậy. Chỉ tiếc rằng gặp nhau bèo nước, tụ hội chẳng được bao ngày.

Đi chơi vườn An Lan của nhà họ Trần, vườn rộng tới trăm mẫu, mấy lần lầu gác, xen lối hành lang. Một cái ao rất rộng, có cầu quanh có sáu khúc. Đá đầy bìm sắn, che được hết dấu vết đẽo tạo, cổ thụ ngàn cây, đều có thể vươn tận trời cao. Chim kêu hoa rụng, như vào chốn non sâu. Nét nhân công mà hệt như thiên nhiên ấy, trong số những viên đình giả sơn dựng nơi đồng bằng mà tôi từng xem qua, thì chỗ này là đệ nhất. Tôi từng bày tiệc ở trong lầu Quế Hoa, các món ăn đều bị hương hoa thơm át hết cả đi, chỉ có mùi tương gừng là bất biến. Gừng quế có tính càng già càng cay, người ta vẫn lấy ra để tỉ dụ lòng trung của kẻ làm tôi, quả là không ngoa.

Ra khỏi cửa Nam là biển lớn, một ngày hai bạn triều dâng, như con đê bạc dài muôn trượng, vươn khỏi mặt biển mà đi. Thuyền có cái đón sóng mà đi, sóng đến, phải quay ngược mái chèo lại, ở đầu thuyền lắp một cái mộc chiêu, hình trạng tựa thanh đại đao chuôi dài. Bẻ ngoặt cái mộc chiêu, thì sáng lập tức rẽ phá ra, thuyền sẽ theo mộc chiêu mà tiến vào trong con sóng, khoảnh khắc mới lại nổi lên, lại ngoặt đầu thuyền theo sóng mà đi, chớp mắt có thể đi được trăm dặm. Trên bờ biển có viện tháp, tối Trung thu, tôi từng theo cha đến xem sóng ở đó. Men theo phía đông bờ đi ước ba mươi dặm, đến một nơi gọi là Tiêm Sơn, một ngọn núi cao vọt lên giữa biển. Trên đỉnh núi có gác, biển ngạch đề bốn chữ Hải khoát thiên không (Biển rộng trời cao). Đứng đó đưa tầm mắt nhìn ra xa không biết đâu là bến bờ, chỉ thấy sóng dâng liền trời mà thôi.

 

Năm hăm nhăm tuổi, tôi theo lời mời, đến làm ở chỗ Khắc minh phủ ở Tích Khê, Huy Châu. Từ Vũ Lâm xuống Hạ Sơn thuyền, qua núi Phú Xuân, lên đài câu cá của Tử Lăng (Tử Lăng: tức Nghiêm Quang, tự Tử Lăng, người đời Đông Hán, là bạn thân của Quang Vũ đế. Vì không muốn làm quan, nên ẩn cư ở núi Phú Xuân. Đời sau truyền rằng ở đó có đài câu cá của ông). Đài ở lưng núi, một ngọn cao hẳn lên, cách mặt nước hơn mười trượng. Há vào đời Hán, mực nước lại ngang với mỏm núi ấy ư? Đêm trăng, đậu thuyền ở Giới Khẩu, có nha tuần kiểm ở đó. “Non cao trăng nhỏ, nước xối đá nhô",(Nguyên văn Sơn cao nguyệt tiểu, thủy lạc thạch xuất - là câu trong Hậu Xích Bích phủ của Tô Đông Pha) thật tựa hệt như cảnh ấy. Núi Hoàng Sơn thì chỉ trông thấy chân, tiếc chưa được xem diện mục.

Thành Tích Khê ở giữa muôn trùng núi non, chỉ là một tiểu ấp nhỏ như hòn đạn, dân tình rất thuần hậu. Gần thành có núi Thạch Kính, theo thế núi vòng cung quanh co uốn khúc tới gần một dặm, có thác treo bên vách, nên cây lá mươn mướt như muốn nhỏ giọt xanh. Trèo lên cao dần, tới lưng chừng núi, có một tòa phương đình đá, bốn mặt đều là vách núi dựng đứng. Vách núi bên trái đình phẳng như một tấm bình phong, sắc xanh bóng láng, có thể soi gương được. Tục truyền rằng gương đá ấy có thể soi thấy được kiếp trước, Hoàng Sào (Hoàng Sào (820-884), người Tào Châu (nay thuộc Sơn Đông) - Thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân cuối đời Đường, về sau thất bại) tới đó, soi vào thấy là hình một con vượn, bèn phóng hỏa đốt, vì vậy mà sau soi không còn thấy hiện nữa.

Cách thành mười dặm, có Hỏa Vân động thiên, vân đá cuộn xoắn, lồi lõm lởm chởm, như bút ý của Hoàng Hạc Sơn Tiều (Hoàng Hạc Sơn Tiều: tức Vương Mông - họa gia nổi tiếng đời Nguyên, người Hồ Châu, Triết Giang. Ông từng ẩn cư ở núi Hoàng Hạc, Nhân Hòa, nên có biệt hiệu là Hoàng Hạc Sơn Tiều), nhưng tạp loạn không có bố cục, đá trong động thảy đều có sắc đỏ sẫm. Bên cạnh có một cái am rất u tĩnh, nhà buôn muối Trình Hư Cốc từng mời tôi cùng đi chơi, và thiết yến ở đó. Trong bữa tiệc có món bánh bao nhân thịt, một chú tiểu đứng ở bên cứ hau háu nhìn, chúng tôi bèn đưa tặng bốn cái bánh. Đến khi ra về lại lấy hai đồng bạc nước ngoài cảm tạ, nhưng sơn tăng không biết thứ bạc ấy, từ chối không nhận. Chúng tôi bảo cho biết rằng, một đồng bạc ấy có thể đổi ra hơn bảy trăm tiền, nhưng sự lấy cớ rằng gần đây không có chỗ nào đổi cả, nên vẫn không nhận. Chúng tôi bèn bảo nhau góp tiền xu đồng lại được sáu trăm đồng đưa cho, bấy giờ sự mới vui vẻ cảm tạ.

Ngày khác, tôi lại mời mấy người cùng nhau xách bầu rượu lại tới đó chơi. Lão tăng dặn dò bảo: “Bữa trước, tiểu đồ đệ của tôi không biết ăn cái gì mà bị đi tả, hôm nay các ông đừng cho nó cái gì nữa nhé.” Mới hay, bụng đã quen ăn rau lê rau hoắc, thì không chịu nổi vị thịt, đáng than thay! Tôi bảo những người đi cùng rằng: “Đã làm hòa thượng, tất nên những chỗ xa xôi vắng vẻ thế này, trọn đời không thấy không nghe gì cả, nhẽ mới có thể tu chân dưỡng tĩnh. Chứ như núi Hổ Khâu ở quê ta, suốt cả ngày mắt trông thấy bọn yêu đồng diễm kĩ, tai nghe thấy tiếng đàn sáo sênh ca, mũi ngửi thấy mùi giai hào mỹ tửu, thì làm sao được thân như khô mộc, lòng tựa tro tàn đây!”

Lại cách ngoài thành ba mươi dặm, có nơi gọi là Nhân Lý, có hội hoa quả, mười hai năm mới tổ chức một lần, mỗi khi tổ chức, ai nấy lại đem hoa trồng trong chậu ra thi đua với nhau. Khi tôi ở Tích Khê, thì vừa vặn gặp kỳ mở hội, tôi thích lắm cũng muốn đi, chỉ khổ nỗi không có ngựa kiệu gì. Tôi bèn bảo chặt tre làm đòn khiêng, buộc ghế vào làm kiệu, rồi thuê người khiêng đi. Cùng đi chơi với tôi chỉ có viên đồng sự là Hứa Sách Đình, trông thấy chúng tôi đi kiệu như thế chẳng ai không lấy làm buồn cười. Đến nơi, thấy có một ngôi miếu, chẳng biết là thờ vị thần nào. Trên bãi trống trước miếu, người ta dựng một cái sân khấu cao, cột vuông kèo vẽ, cực kỳ sặc sỡ. Đến gần xem, thì ra là dán giấy vẽ màu, lấy sơn dầu quét lên. Chợt nghe tiếng thanh la tiến lại, có bốn người khiêng một đội nến, to như cây cột, tám người khiêng một Con lợn, to như con trâu mộng, hóa ra người ta đã cùng nhau nuôi chung suốt mười hai năm, giờ mới mổ thịt để tế thần. Sách Đình cười bảo: “Con lợn này cố nhiên thọ lâu, mà ông thần răng cũng sắc thật. Nếu tôi mà là thần, thì chẳng thể ăn được món đồ cúng này!” Tôi bảo: “Như thế đủ thấy cái lòng thành của họ cũng ngu muội thật.” Vào miếu, hiên sân, hành lang ngoài điện bày đầy những thứ hoa quả, bồn cảnh, nhưng chẳng hề cắt cành tỉa lá gì cả, tất thảy chỉ lấy già nua cổ quái làm đẹp, quá nửa là trồng Hoàng Sơn tùng. Rồi đó, mở màn diễn kịch, người xem kéo nhau tới như sóng cồn, tôi cùng Sách Đình bên tránh đi. Chưa đầy hai năm, thì tôi với đồng sự không hợp ý nhau, bèn phất áo về quê.

Từ sau khi đi Tích Khê về, tôi trong chốn quan trường ồn ã, chỉ thấy một bộ dạng ti tiện không vào mắt chút nào, nhân đó đổi nghiệp nho sang nghề buôn bán. Tôi có người chú rể là Viên Vạn Cửu, làm nghề nấu rượu ở Tiên Nhân Đường, Bàn Khê, tôi bèn cùng Thị Tâm Canh góp vốn phụ giúp cùng chung việc làm ăn. Rượu nhà họ Viên vốn bán qua đường biển, chưa được một năm, gặp khi có loạn Lâm Sảng Văn (Lâm Sàng Văn: người Đài Loan đời Thanh, từng phát động cuộc khởi nghĩa vào năm Càn Long thứ 51, về sau bị trấn áp) ở Đài Loan, đường biển bị trở ngại, hàng tồn vốn đọng, không biết làm sao được, lại phải quay về nghiệp cũ. Ở Giang Bắc bốn năm, chẳng có cuộc du lãm khoái ý nào đáng để ghi lại.

Kịp tới khi đến ở lầu Tiêu Sảng, đang phải làm thần tiên giữa chốn nhân gian, (Ý nói rảnh rỗi không việc) thì có người chồng đứa em gái họ là Từ Tú Phong từ Việt Đông về, thấy tôi nhàn cư, khảng khái bảo: “Như túc hạ bây giờ đợi sương mà nấu, cày bút kiếm ăn, rốt chẳng phải là kế lâu dài, hay là cùng tôi đi Lĩnh Nam làm ăn? Tất sẽ chẳng phải chỉ kiếm được chút lợi cỏn con đâu.” Vân cũng khuyên tôi rằng: “Nhân khi bây giờ cha mẹ còn khỏe, chàng cũng đang tráng niên, so với việc lo củi tính gạo mà lấy làm vui, chi bằng vất vả một phen mà được an nhàn mãi mãi.” Tôi bèn bàn bạc với các bạn bè cùng giao du, vay mỗi nơi một ít góp lấy chút vốn liếng. Vân cũng tự chuẩn bị một ít đồ thêu, cùng những thứ như rượu Tô, cua muối mà Lĩnh Nam không có. Tôi bẩm cha mẹ hay, rồi đến ngày mồng mười tháng Mười, cùng Tú Phong từ Đông Bối xuống thuyền ra cửa Vu Hồ.

Lần đầu đi dọc Trường Giang, trong lòng muôn phần thích thú. Mỗi tối sau khi đậu thuyền, tất lên đầu thuyền uống chút rượu. Thấy người đánh cá, giăng tấm lưới không đầy ba thước, mắt lưới lớn ước chừng bốn tấc, kẹp đai sắt bốn góc, dường như để cho dễ chìm. Tôi cười bảo: “Thánh nhân tuy dạy rằng lưới không dùng loại mắt dày, (Điển cố xuất xứ theo sách Mạnh tử - Lương Huệ vương thượng) nhưng lưới hẹp mà mắt lớn thế kia, làm sao bắt được con gì?” Tú Phong nói: “Loại lưới này chuyên dùng để bắt cá vền.” Chỉ thấy họ buộc vào lưới một sợi thừng, lúc lúc lại kéo lên hạ xuống, tựa như thăm xem cá đã mắc lưới hay chưa. Không bao lâu, bỗng kéo vội lên khỏi mặt nước, đã thấy có con cá Vền lớn mắc vào mắt lưới rồi. Tôi bùi ngùi bảo: “Mới biết, kiến thức của một mình mình, thì chưa thể hiểu hết những điều ảo diệu trên đời vậy.”

 

Một hôm, thấy giữa dòng sông một ngọn núi mọc vọt lên, trơ trọi bốn bên không hề tựa vào đâu. Tú Phong nói: “Đó là Tiểu Cô Sơn đấy!” Giữa rừng lá đỏ, điện gác thấp cao, thuyền thuận gió lướt qua, tiếc rằng chưa được lên chơi một bận. TUẤN

 

Đến Đằng Vương các, thấy tựa như đem gác Tôn Kinh trong nhà Phủ học ở Tô Châu quê tôi dời ra ngoài bến cảng ngoài cửa Tư Môn vậy, những điều nói trong bài tựa của Vương Tử An (Vương Tử An: tức Vương Bột, tự Tử An - nhà thơ đời Đường, nổi tiếng với bài Đằng Vương các tự) thật không đáng tin vậy. Bèn đổi sang ngồi một cái thuyền đầu cao đuôi vểnh ở dưới gác, gọi là thuyền “tam bản tử, đi từ Cống Quan đi đến Nam An thì lên bờ. Đúng bữa ấy là sinh nhật của tôi tròn ba mươi tuổi, Tú Phong bèn sửa soạn món mì chúc mừng.

Hơn ngày nữa thì đến Đại Dưu lĩnh, trên đỉnh núi có một ngôi đình, biển đề bốn chữ Cử đầu nhật cận (Ngẩng đầu gần ngay mặt trời), để nói rằng cao vậy. Núi chia làm đôi, hai bên là vách cao dựng đứng, ở giữa có đường đi, như một cái ngõ đá. Chỗ cửa vào dựng hai tấm bia, một tấm viết mấy chữ Cấp lưu dũng thoái (Dũng cảm lùi lại khi đang tiến nhanh), một tấm viết mấy chữ Đắc ý bất khả tái coãng (Chuyện đắc ý chẳng thể lại đến lần nữa). Trên đỉnh núi có đền thờ Mai tướng quân, không biết là người đời nào. Người ta vẫn nói “Lĩnh thương mại hoa” (hoa mai trên Đại Dữu lĩnh), nhưng đến một cây mai cũng chẳng thấy, có lẽ là lấy tên Mai tướng quân mà gọi là Mai Lĩnh chăng? Cây mai trồng trong chậu mà tôi mang theo đi làm quà, đến nay đã gần sang tháng Chạp, nên hoa đã rụng mà lá cũng vàng hết cả rồi.

Qua khỏi Đại Dữu lĩnh, bèn thấy non sông phong vật khác hẳn. Phía tây lĩnh có một ngọn núi, trong động có nhu đá lung linh, tôi đã quên mất tên. Phu xe nói: “Trong động có giường tiên.” Nhưng đang khi vội vã đi qua, buồn rằng chưa được lên chơi đó.

Đến Nam Hùng, thuê một chiếc thuyền rồng cũ, qua trấn Phật Sơn, thấy trên bờ tường nhà dân để nhiều chậu hoa, lá như lá đông thanh, hoa như hoa mẫu đơn, có ba loại hoa màu đỏ sẫm, màu phấn bạch, và màu phấn hồng, chính là hoa sơn trà vậy.

Rằm tháng Chạp mới tới tỉnh thành, tới ngụ phía trong cửa Tĩnh Hải, thuê căn lầu ba gian ở mặt phố của nhà họ ở Vương. Hàng hóa của Tú Phong đều đem đổ cả cho những nhà buôn ở đấy, tôi cũng theo đó khai đơn, mời khách. Rất nhiều người muốn mua đồ làm quà, nối nhau đến mua hàng, chưa đầy chục hôm, hàng hóa của tôi cũng bán hết. Hôm Trừ tịch, tiếng muỗi kêu như sấm. Sáng mồng một Tết, chúc mừng năm mới, có người lại mặc áo bông ngoài áo sa. Chẳng phải chỉ có khí hậu khác biệt, mà ngay cả con người đó, dẫu ngũ quan diện mạo vẫn vậy, nhưng thần tình thì khác hẳn.

Qua rằm tháng Giêng, có ba người bạn đồng hương làm trong dinh phủ ở đó đến kéo tôi đi chơi sông xem kĩ nữ, đó gọi là “Đả thủy vi”, còn kĩ nữ thì gọi là “Lão cử. Thế là cùng kéo nhau ra ngoài cửa Tĩnh Hải, xuống một chiếc thuyền nhỏ, hình trạng như nửa cái trứng gà có lắp thêm mui. Trước tiên ra ngoài đảo Sa Diện, thuyền kí nữ gọi là “Hoa đình”, đều đối đầu nhau, sắp thành hàng hai bên, ở giữa để lối đi cho thuyền nhỏ qua lại được. Mỗi bang ước có một, hai chục thuyền, để một cây gỗ ngang buộc chặt cố định lại với nhau, để tránh gió bể. Giữa hai thuyền lại đóng một cọc gỗ, lấy dây mây đánh thành vòng đai neo lại, để tiện lên xuống theo thủy triều. Tú bà ở đó gọi là “bà chải đầu”, trên đầu dùng một cái giá bằng sợi bạc, cao độ chừng bốn tấc, giữa để trống mà vấn tóc ra phía ngoài, lấy cành trâm dài cài một bông hoa lên búi tóc, mình khoác áo ngắn màu xanh đen, mặc váy dài cũng màu xanh đen, vạt váy chùng tới mu bàn chân, bên lưng thắt dải khăn, hoặc đỏ hoặc xanh, chân không xỏ dép, ăn vận tựa như đào nương trong gánh hát vậy.

Lên trên thuyền, “bà chải đầu” lập tức cúi mình cười nghênh đón. Vén rèm vào khoang, bên cạnh xếp ghế ngồi, ở giữa đặt một bếp lò, có một cửa thông ra đuôi thuyền. Bà chủ gọi “có khách”, lập tức nghe tiếng guốc lộc cộc chạy ra, Có cô bện tóc, có cô vấn đầu, phấn trát như tường vôi, son tô như lửa lựu, hoặc áo đỏ váy xanh, hoặc áo xanh váy đỏ. Có nàng thì đi tất ngắn mà xỏ hài cánh bướm thêu hoa, có nàng thì để chân trần mà đeo vòng bằng bạc. Người thì ngồi trên | bếp lò, người thì đứng tựa cửa, hai mắt lúng liếng, mà không nói câu nào.

Tôi quay sang Tú Phong bảo: “Thế này là làm sao?” Tú Phong bảo: “Nhìn ưng ai rồi, vẫy lại thì họ mới đến bên.” Tôi thử vẫy một cô, quả nhiên lập tức nét mặt vui mừng đi lại trước mặt, lấy trầu cau trong tay áo ra mời. Tôi lấy một miếng cho vào miệng nhai mạnh, thấy chát đắng không thể chịu nổi, vội nhổ ngay ra, lấy giấy lau miệng, nước trầu nhổ ra đỏ như máu. Cả thuyền cùng cười lớn.

Lại đến chơi Quân Công Xưởng, kĩ nữ ở đó cũngăn vận tương tự như vậy, duy khác là lớn nhỏ đều biết chơi đàn tỳ bà. Cùng trò chuyện, thường thấy đáp rằng “chi”, “Chi” tức là “gi” vậy. Tôi bảo: “Có câu còn trẻ chớ tới Quảng Đông, vì tới đó tất phải tiêu hồn. Nói năng trang điểm thế này, hỏi ai người chẳng động tâm?” Một người bạn nói: “Nghe nói kĩ nữ bang Triều Châu ăn vận như tiên, hôm nào qua chơi một chuyến.”

Đến bang Triều Châu, cũng thấy sắp thuyền như ở Sa Diện. Có tú bà nổi tiếng tên là Tố Nương, ăn vận như đào nương diễn kịch Hoa cổ.(Kịch Hoa cổ (Hoa cổ hỷ): là một loại hình hí kịch phổ biến ở các tỉnh miền nam Trung Quốc) Kĩ nữ trong bang đều mặc áo cổ cao, trên cổ nhất loạt đeo dây chuyền, tóc phía trước trán cắt để chấm mi, tóc phía sau để chúng tới vai, ở giữa búi lại thành một búi như tóc bện. Người bó chân thì mặc váy, người không bó chân thì đi tất ngắn, cũng xỏ hài bướm, vạt váy buông chùng, nói năng có thể hiện nhận được. Nhưng tôi vẫn hiềm là ăn mặc khác lạ, chẳng thấy hứng thú gì.

Tú Phong nói: “Bến đối diện của Tĩnh Hải, có bang Dương Châu, đều là trang phục đất Ngô, ông đến chỗ ấy tất có người hợp ý đấy.” Một người bạn lại bảo: “Tiếng là bang Dương Châu, nhưng chỉ có một tú bà gọi là Thiệu quả phụ, dắt theo một con dâu gọi là Đại Cô, là vốn từ Dương Châu đến, còn lại đều là người Hồ Quảng, Giang Tây thôi.” Nhân lại đến chơi bang Dương Châu. Hai hàng thuyền sắp đối nhau, chỉ có hơn chục cái, những người ở đó đều tóc mây mươn mướt, phấn sáp nhạt tô, váy dài tay rộng, nói năng rõ ràng. Tú bà mà người ta vẫn gọi là Thiệu quả phụ, ân cần đón tiếp. Một người bạn khác lại gọi một thuyền uống rượu, thuyền lớn gọi là “Hằng lư, thuyền nhỏ gọi là “Sa cô đình”, làm chủ mời, bảo tôi chọn kĩ nữ.

Tôi chọn một cô đào non, dáng người vẻ mặt có nét giống như Vân nương - vợ tôi, nhưng bàn chân rất nhỏ, tên là Hỉ Nhi. Tú Phong gọi một cô đào tên là Thúy Cô. Những người còn lại ai nấy đều có đào quen cũ. Thuyền thả neo giữa dòng sông, mọi người cùng mặc tình yến ẩm. Đến độ canh một, tôi e rằng không uống nổi nữa, nhất quyết đòi về chỗ trọ ngơi nghỉ, nhưng công thành đã đóng từ lâu rồi. Là vì thành ở ven biển nên cứ lặn mặt giời là đóng cổng ngay, mà tôi không biết. Kịp đến khi tàn tiệc, có người thì nằm hút nha phiến, có người thì ôm đào mà đùa bỡn. Ai nấy được người ở trên thuyền đưa chăn gối đến, trải nệm nằm nối nhau nghỉ đêm ở trên thuyền.

Tôi hỏi nhỏ Hỉ Nhi: “Thuyền của nàng có thể nằm nghỉ được không?” Đáp: “Có lều có thể nghỉ được, nhưng không biết có khách dùng chưa.” (Lều, là cái gác trên nóc thuyền) Tôi nói: “Cứ thử qua xem thế nào.” Bèn gọi một thuyền nhỏ đưa về thuyền họ Thiệu, chỉ thấy cả bang đèn đuốc thắp đối nhau như hành lang dài, vừa vặn lều không có khách nào dùng cả. Tú bà ra đón, cười bảo: “Tôi biết hôm nay có quý khách đến, cho nên giữ lều lại để đợi khoản đãi quý khách đấy.” Tôi cười bảo: “Bà đúng là tiên dưới lá sen vậy.”

 

Bên có một người ở cầm nến dẫn đi, theo lối thang từ sau thuyền trèo lên, lều hệt như cái chòi con, bên cạnh kê một cái phản dài, cùng bàn ghế đủ cả. Lại vén rèm bước vào sâu hơn, thì đến khoang đầu thuyền, cũng kê giường bên cạnh, ở giữa có cửa sổ vuông lắp kính pha lê, chẳng cần đèn mà ánh sáng đầy buồng, ấy là nhờ có ánh đèn của thuyền bên cạnh rọi qua kính vậy. Chăn rèm gương soi hộp phấn, đều rất mực hoa mỹ. Hỉ Nhi bảo: “Ở trên nóc có thể ngắm trăng được.” Chúng tôi liền mở cánh cửa sổ ở trên chỗ cửa thang lên, rồi bò ra ngoài, thì ra chỗ nóc phía đuôi thuyền. Ba mặt đều có lan can thấp, một vừng trắng sáng, nước rộng trời cao. Dọc ngang, lác đác như lá rụng nổi trên mặt nước là những thuyền rượu; Lập lòe tỏa ánh như sao sáng khắp bầu trời, là đèn trên thuyền rượu; Lại có những con thuyền nhỏ qua lại như thoi đưa, tiếng đàn hát sênh ca hòa vào trong tiếng sóng triều sôi sục, thực khiến tâm tình người ta phải lay động.

Tôi bảo: “Câu tuổi trẻ chớ tới Quảng Đông, là ở chỗ này đây!” Chỉ tiếc Vân Nương vợ tôi không thể cùng đi theo đến chơi đây được. Ngoảnh lại nhìn Hỉ Nhi, dưới ánh trăng trông phảng phất thấy hệt như Vân, tôi nhân ôm lấy rồi xuống khỏi nóc thuyền, tắt đèn đi nằm. Trời sắp sáng, bọn Tú Phong đã ồn ào kéo đến. Tôi khoác áo dậy đón, bọn họ cùng đua nhau trách cứ tôi tối qua trốn đi. Tôi bảo: “Chẳng qua tôi sợ các ông sẽ vén màn tung chăn của tôi, chứ không có gì khác!” Bèn cùng kéo nhau về chỗ trọ.

Qua mấy hôm, tôi lại cùng Tú Phong đến chơi chùa Hải Châu. Chùa ở giữa sông, có tường vây như thành. Bốn xung quanh, cách mặt sông độ năm thước, có lỗ châu mai, đặt pháo lớn để phòng cướp biển, triều lên triều xuống, theo nước nổi chìm. Bỗng dưng của pháo lại lúc cao lúc thấp như thế, đúng là vật lý chẳng thể nào mà lường hết được vậy. Mười ba phố Tây (Thập tam Dương hàng, cũng gọi Quảng Châu thập tam hàng, được lập ra thời Khang Hy, là khu vực được nhà Thanh đặc biệt lập ra cho phép người Tây dương kinh doanh buôn bán ở Quảng Châu) ở phía tây của U Lan, được xây dựng hệt như trong tranh châu Âu. Phía bến đối diện có nơi gọi là Hoa địa, cây cối hoa lá rất rậm rạp tốt tươi, là chỗ bán hoa của Quảng Châu. Tôi vẫn tự phụ là chẳng thứ hoa gì không biết, nhưng tới đó mười phần cũng chỉ biết được sáu, bảy. Hỏi đến tên hoa, thì có loại trong Quân phương phổ còn chưa có ghi chép, hoặc do tên địa phương gọi khác đi chăng?

Chùa Hải Tràng quy mô cực lớn. Trong sơn môn có trồng một cây đa, lớn đến hơn mười sải tay, tán xòe rộng như cái lọng, mùa thu, mùa đông cũng không rụng lá. Trong chùa, cột hiên, cửa sổ, lan can đều làm bằng gỗ thiết lê. Có cây bồ đề, lá tựa như lá hồng, ngâm nước cho tan phần thịt lá đi, gân lá bên trong mảnh như cánh ve, có thể bồi giấy làm cuốn sách nhỏ mà viết kinh Phật.

Trên đường về, chúng tôi ghé thăm Hỉ Nhi ở Hoa đình. Vừa vặn gặp khi hai đào Thúy, Hi đều không có khách. Uống trà xong chúng tôi định đi thì hai nàng cùng mấy phen giữ lại. Tôi vốn có ý muốn được lên lầu, nhưng nàng dâu họ Thiệu là Đại Cô đã có tửu khách trên đó rồi, bèn bảo với bà chủ Thiệu rằng: “Nếu như có thể đưa theo hai nàng ấy về chỗ chúng tôi, cùng trò chuyện một bữa thì cũng không hề gì.” Bà Thiệu bảo được, Tú Phong bèn về trước, dặn dò tòng nhân sửa soạn tiệc rượu. Tôi dẫn Thúy, Hỉ cùng về chỗ trọ.

Đang khi nói cười, thì có Vương Mậu Lão từ trong dinh quận không hẹn mà tới, bèn kéo lại cùng ngồi uống. Rượu đang mềm môi, bỗng nghe dưới lầu có tiếng người huyên náo, tựa như có ý muốn lên lầu, hóa ra là đứa cháu của ông chủ nhà vốn là đứa vô lại, biết tôi mời kĩ nữ về, cho nên kéo người tới định bày mưu gian trá. Tú Phong oán trách bảo: “Chuyện này đều do Tam Bạch nhất thời cao hứng, không dưng tôi cũng nghe theo như thế.” Tôi bảo: “Việc đã đến nước này, nên mau nghĩ kế lui binh, chưa phải lúc đấu khẩu với nhau vậy.” Mậu Lão nói: “Để tôi xuống trước thuyết phục bọn chúng.”

Tôi lập tức gọi người ở bảo mau đi thuê lấy hai cỗ kiệu, để trước tiên cho hai kĩ nữ thoát thân đã, rồi sẽ tính kế ra khỏi thành. Nghe dưới lầu Mậu Lão thuyết phục mà bọn chúng không đi, cũng không lên lầu. Hai cỗ kiệu đã chuẩn bị đâu đấy, người ở của tôi chân tay nhanh nhẹn, tôi bèn bảo hắn đi trước mở đường, Tú Phong đỡ Thúy Cô đi kế theo sau, còn tôi đỡ Hỉ Nhi đi cuối cùng, hò nhau kéo xuống. Tú Phong và Thúy Cổ nhờ có đứa ở giúp sức đã ra được khỏi cửa. Hỉ Nhi bị một tay cường bạo túm được, tôi vội tung chân đá một cước trúng tay nó, khiến phải buông tay ra cho Hỉ Nhi thoát được, tôi cũng thừa thể thoát thân chạy ra. Đứa người ở của tôi vẫn giữ ở cửa, để phòng bọn chúng đuổi theo cướp người. Tôi vội hỏi: “Có thấy Hỉ Nhi không?” Người ở nói: “Thúy Cô đã lên kiệu đi rồi, Hỉ nương thì chỉ thấy đã ra khỏi, nhưng chưa thấy lên kiệu.” Tôi vội vàng châm đuốc soi, thấy cái kiệu không vẫn ở bên đường, vội vàng đuổi theo tới cửa Tĩnh Hải, trông thấy Tú Phong bám bên kiệu Thúy Cô mà đứng, tôi lại hỏi, thì đáp rằng: “Có nhẽ đáng phải chạy về phía đông, lại chạy về phía tây chăng?” Tôi vội vàng quay lại, qua chỗ trọ hơn chục nhà, nghe thấy trong bóng tối có người gọi mình, soi đuốc lại, thì hóa ra là Hỉ Nhi, bèn cho lên kiệu khiêng đi.

Tú Phong cũng chạy tới nơi, bảo: “Cửa U Lan có chỗ cửa cống, có thể ra được, tôi đã nhờ người hối lộ để họ mở khóa cho, Thúy Cô đã đi rồi, Hỉ Nhi cũng nên nhanh đi.” Tôi nói: “Anh mau về chỗ trọ tìm kế lui binh, Thúy, Hỉ cứ để tôi lo.” Đến bên cửa cống, quả nhiên đã thấy mở khóa, Thúy đã đến đó trước rồi. Tôi bên tay trái xốc nách Hỉ, tay phải đỡ tay Thúy, khom mình lội từng bước, bì bõm ra khỏi cống. Đúng lúc ấy trời lại đổ cơn mưa nhỏ, đường trơn như mỡ, đến Sa Diện ngoài bờ sông, thì tiếng sênh ca vẫn còn náo nhiệt. Trên chiếc thuyền nhỏ có người biết Thúy Cô, bèn gọi lên thuyền. Khi ấy tôi mới thấy Hỉ Nhi đầu bù tóc rối, thoa vòng đều chẳng có gì. Tôi hỏi: “Nàng bị cướp mất đồ rồi ư?” Hỉ Nhi cười bảo: “Nghe nói mấy thứ ấy toàn là vàng ròng cả, là đồ của ma ma đấy. Lúc thiếp xuống lầu đã tháo hết ra giấu ở trong túi rồi, chứ nếu bị cướp mất, lại làm tội chàng phải đền.” Tôi nghe thấy thế, trong lòng lấy làm cảm động, bèn bảo sửa sang đeo lại thoa, vòng, chớ kể chuyện cho ma ma biết, chỉ nói thác là chỗ trợ nhiều người tạp nham, cho nên lại về thuyền. Thúy Cô theo đúng như thế nói với ma ma, lại bảo: “Cơm rượu đã no rồi, chỉ xin một nồi cháo là được.”

 

Khi ấy, tửu khách trên lều đã đi hết, Thiệu ma ma sai Thúy cùng theo tôi lên lều. Nhìn hai đối hài thêu, nước bùn ngấm cả, ba người cùng nhau ăn cháo tạm cho khỏi đói. Đốt nến chuyện trò, mới hay Thúy vốn quê Hồ Nam, Hỉ cũng người đất Dự, (Dự tức tỉnh Hà Nam) vốn họ Âu Dương, cha chết, mẹ cải giá, bị người chú tệ bạc bán vào kĩ viện. Thúy Cô kể cho biết nỗi khổ của kẻ đưa người cửa trước trước người cửa sau, lòng chẳng vui cũng phải gượng cười, rượu không hay cũng phải cố uống, thân chẳng thích cũng phải gắng hầu, họng chẳng thông cũng phải liều hát. Lại có những kẻ tính tình hung hãn, hơi chẳng được như ý, là lập tức ném chén hất bàn, lớn tiếng nhục mạ, ma ma chẳng xét, lại cho rằng tiếp đãi không chu đáo. Rồi còn những khách ác liệt suốt đêm giày vò, quấy chẳng kham nổi. Hỉ Nhi tuổi nhỏ mới đến, nên ma ma còn thương tiếc. Kể rồi bất giác nước mắt theo lời mà rơi lã chã, Hỉ Nhi cũng lặng lẽ khóc theo. Tôi bèn kéo Hỉ vào lòng mà vỗ về. Rồi bảo Thúy Côngủ ở giường ngoài, vì là người quen của Tú Phong vậy.

Từ đó, cứ cách mười ngày, hoặc năm ngày, Hỉ Nhi tất sai người đến mời tôi, cũng có khi Hi đi thuyền nhỏ đích thân vào bờ sông đón tôi. Mỗi khi tôi tới đó tất mời Tú Phong, chứ không mời ai khác, cũng không tới thuyền nào khác. Một tối vui vầy, cũng chỉ cần bốn đồng bạc nước ngoài mà thôi. Tú Phong thì nay Thúy, mai Hồng, tục gọi là “đổi gió”, thậm chí có lần gọi luôn hai kĩ nữ. Tôi thì chỉ một mình Hỉ Nhi mà thôi. Ngẫu nhiên có khi đi một mình, thì hoặc uống chút đỉnh trên nóc thuyền, hoặc chuyện trò tâm sự trong lều, không bắt hát ca, không ép uống nhiều, ôn tồn thương mến, một thuyền vui vẻ, những kĩ nữ bên cạnh đều lấy làm hâm mộ. Có ai rảnh rỗi không có khách, biết tôi ở trên lều, tất lên thăm hỏi. Kĩ nữ cả bang, chẳng một ai không biết tôi, mỗi khi tôi đến thuyền chơi, ai nấy cùng đua nhau gọi chẳng dứt lời. Tôi cũng hết trông bên trái, lại quay bên phải, đáp lời mỏi miệng, điều ấy dẫu có người tiêu tốn muôn vàng đã chắc gì Có được.

 

Tôi ở đó bốn tháng, tổng cộng phí tổn hơn trăm lạng bạc, nhưng được nếm trái vải tươi ngon, (Trái vải ngụ ý loại trải ngon lạ ở Lĩnh Nam, ở đây ý nói đến Hỉ Nhi) cũng là một việc khoái ý lúc bình sinh. Sau, tú bà muốn đòi năm trăm lạng bạc ép tôi nạp Hỉ Nhi làm thiếp, tôi ngại bà ta gây rối, bèn tính kế về quê. Tú Phong mê mệt ở đó quá, tôi nhận khuyên ông ấy mua lấy một người tiểu thiếp, còn mình thì theo đường cũ trở lại đất Ngô quê nhà. Năm sau, Tú Phong lại tới đó lần nữa, cha tôi không cho phép tôi đi cùng, tôi bèn theo lời mời đến làm cho Dương minh phủ ở Thanh Phố. Kịp khi Tú Phong quay về, có kể đến Hỉ Nhi, vì tôi không tới nữa, nên suýt mấy phen nghĩ quẩn. Ôi! Thật là “Nửa năm vừa tỉnh Dương bang mộng; Được tiếng thuyền hoa kẻ bạc tình” (Nguyên văn: “Bán niên nhất giác Dương bang mộng; Doanh đắc hoa thuyền bạc hãnh danh” - câu này phỏng theo câu thơ: “Thập niên nhất giác Dương Châu mộng; Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh” - Mười năm chợt tỉnh Dương Châu mộng; Được tiếng lầu xanh kẻ bạc tình - trong bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục đời Đường) vậy.

Tôi từ Việt Đông quay về, ở Thanh Phố hai năm, không có chỗ lãng du nào vui đáng để thuật lại cả. Không bao lâu sau, thì Vân với Hàm Viên gặp nhau, rồi những chuyện lời ra tiếng vào ầm ỹ, khiến Vân uất ức phẫn hận đến thành bệnh. Tôi với Trình Mặc An mở một gian hàng thư họa ở cạnh cửa nhà, để kiếm chút đỉnh thêm cặp vào tiền thuốc thang cho nàng.

Hai ngày sau tết Trung thu, có Ngô Vân Khách cùng Mao Úc Hương, Vương Tinh Lan mời tôi cùng đi chơi tiểu tĩnh thất ở Tây Sơn. Vừa gặp khi tôi công việc bận rộn không được rảnh tay, mới bảo họ cứ đi trước. Ngô nói: “Ông có thể ra được thành, thì trưa mai cùng đợi nhau ở am Lai Hạc chỗ cầu Thủy Đạp ở trước núi.” Tôi bằng lòng.

Hôm sau, để Trình ở lại trong cửa hàng, tôi đi bộ một mình ra cửa Xương Môn. Đến trước núi, qua cầu Thủy Đạp, theo bờ ruộng đi về phía tây, thì thấy một cái am mở cửa quay về hướng nam, phía trước có một dòng sông trong vắt. Lộc cộc gõ cửa hỏi thăm, nghe bên trong có tiếng đáp lời: “Ông khách ở đâu ta?” Tôi trả lời, thì nghe thấy cười bảo: “Đây là am Đắc Vân ạ. Ông khách không trông trên biển đề à? Am Lai Hạc đã đi quá rồi.” Tôi bảo: “Từ chân cầu tới đây, tôi chưa trông thấy có cái am nào.” Người ấy đưa tay chỉ, rồi nói: “Ông khách không nom thấy chỗ có nhiều tre trúc rợp phía trong bức tường đất kia à? Chính là chỗ ấy đấy.”

Tôi lại quay lại đến dưới tường, thấy cửa nhỏ chặt then, tôi ghé qua khe cửa nhìn trộm vào trong, men bờ rào thấp, một con đường quanh co, trúc xanh mươn mướt, tịch mịch không nghe thấy một tiếng người nào. Gõ cửa, cũng không thấy ai đáp lại. Có một người đi ngang qua, bảo: “Trong hốc tường có cục đá, để gõ cửa đấy.” Tôi thử gõ liền một hồi, quả nhiên thấy một chú tiểu ra đáp lời. Tôi theo lối nhỏ đi vào, qua cây cầu đá nhỏ, rẽ sang me tây, mới trông thấy sơn môn treo bức hoành phi sơn then, đề hai chữ “Lai Hạc” màu trắng, phía sau có một đoạn bạt(Bài đề bạt viết kèm sau bức tranh, hay thư pháp, sách vở, thường có nội dung tương đối dài, trong bức thư pháp thì thường viết chữ nhỏ hơn so với chính văn) dài, nhưng không kịp đọc kĩ. Vào cửa rồi qua điện Vi Đà, trên dưới đều thoáng đãng sạch sẽ, chẳng có một hạt bụi nào, tôi biết đó chính là tiểu tĩnh thất. Bỗng lại thấy hành lang bên trái có một chú tiểu bưng hồ rượu đi ra, tôi cất giọng gọi hỏi, liền nghe trong buồng có tiếng Tinh Lan cười nói: “Thế nào? Tôi nói Tam Bạch nhất định không thất tín mà!” Quay lại thì trông thấy Vân Khách ra đón, bảo: “Đang đợi anh ăn sáng, sao đến muộn thế?” Một vị sư bước kế theo sau, cúi đầu chào tôi, hỏi thăm mới biết đó là Trúc Dật hòa thượng. Vào trong tĩnh thất, chỉ là căn nhà nhỏ ba gian, biển đề hai chữ “Quế Hiên”, trong sân hai cây quế hoa đang nở rộ. Tinh Lan, Úc Hương cùng kéo nhau đứng dậy kêu to: “Đến muộn phạt ba chén!”

Trên tiệc món chay tinh khiết, rượu thì đủ cả hai loại vàng, trắng. Tôi hỏi: “Các ngài đã đi chơi mấy chỗ rồi?” Vân Khách nói: “Hôm qua tới đây thì đã muộn, sáng nay mới tới đình Đắc Vân Hà thôi.” Bên cùng vui vẻ uống hồi lâu.

Cơm xong, lại từ đình Đắc Vân Hà cùng nhau đi chơi tám, chín chỗ, đến Hoa Sơn mới thôi, nơi nào cũng có chỗ đẹp riêng, chẳng thể kể hết được. Trên đỉnh Hoa Sơn có ngọn Liên Hoa, vì khi ấy trời đã ngả về chiều, nên đành hẹn nhau lần sau sẽ lên chơi. Hoa quế đang mùa, đến dịp này là nở rộ nhất, cùng kéo nhau đến ngồi dưới hoa uống một ấm trà thơm, rồi lên cáng đi thẳng về Lai Hạc.

Phía đông Quế Hiên, lại có một gian gác nhỏ sạch sẽ, đã có chén bát bày la liệt. Trúc Dậtít nói, chỉ ngồi tĩnh tọa, nhưng hiếu khách, giỏi uống rượu. Mới đầu còn bỏ quế chuyền hoa làm tửu lệnh, rồi kế đến thì mỗi người một lệnh, uống đến canh hai mới thôi.

Tôi nói: “Đêm nay có trăng sáng lắm, cứ say nằm ở đây, thì không khỏi phụ ánh trăng ngà. Giá có chỗ nào cao rộng mà ngắm trăng thì mới không uống một đêm đẹp thế này vậy.” Trúc Dật nói: “Lên đình Phóng Hạc có nhẽ được đấy.” Vân Khách nói: “Tinh Lan có ôm cây đàn tới, mà còn chưa được nghe tuyệt điệu, lên đó đàn một khúc được chăng?” Bên cùng nhau đi. Chỉ thấy trong hương hoa quế, một rẻo rừng sương, trời rộng trăng trong, muôn âm thanh đều tĩnh lặng. Tinh Lan đàn khúc Mai hoa tam lộng, nghe phiêu diêu như ở cõi tiên. Ức Hương cũng nổi nhã hứng, lấy trong tay áo ra cây thiết địch, thổi nghe réo rắt. Vân Khách bảo: “Những kẻ ngắm trăng trên Thạch Hồ đêm nay, có ai được khoái lạc như chúng ta thế này chăng?” Nguyên là Tô Châu quê tôi, cứ ngày mười tám tháng Tám lại có mở hội ngắm xuyến nguyệt ở dưới cầu Hành Xuân trên Thạch Hồ, (Thạch Hồ: hồ ở phía đông núi Thượng Phương, Tô Châu. Ngắm xuyến nguyệt ở Thạch I là một tập tục dân gian của Tô Châu. Nguyên trên cầu Hành Xuân (cũng gọi cầu Bảo Đới) có năm mươi ba cái lỗ, đêm Trung thu, ánh trăng chiếu xuyên qua đó in xuống mặt hồ thành một chuỗi mặt trăng tròn như chuỗi hạt, nên gọi là “xuyến nguyệt”) du thuyền xếp hàng chen chúc, suốt đêm hát xướng, tiếng rằng là ngắm trăng, mà thực chỉ là dắt kĩ nữ cùng đi uống rượu mà thôi. Hồi lâu, trăng tà sương lạnh, hứng hết cùng về đi nằm.

Sáng hôm sau, Vân Khách bảo tôi rằng: “Chỗ này có am Vô Ản, vô cùng u tịch, các ngài có ai đến chơi đó chưa?” Tất cả cùng nói rằng: “Chẳng những chưa đến, mà còn chưa từng được nghe nói đến.” Trúc Dật nói: “Am Vô Ẩn bốn mặt đều là núi vây quanh, chỗ ấy rất vắng vẻ, sư cũng chẳng thể lâu đó được. Năm xưa tôi từng đến đó một bận, thấy đã đổ nát hoang phế. Từ sau khi Bành cư sĩ ở Xích Mộc trùng tu lại, tôi chưa từng đến lại lần nữa, nhưng nay vẫn loáng thoáng còn nhớ. Nếu như các ngài muốn tới đó chơi, thì tôi xin dẫn đường.” Ức Hương nói: “Đem bụng rỗng thế này mà đi ư?” Trúc Dật cười bảo: “Tôi đã chuẩn bị món mì chay rồi, xin nhờ đạo nhân xách theo be rượu đi cùng cho” ăn mì xong, cùng kéo nhau đi bộ đến. Qua vườn Cao Nghĩa, Vân Khách muốn ghé thăm Bạch Vân tinh xá, vào cửa vừa ngồi, chợt có một nhà sư chậm rãi đi ra, hướng về phía Vân Khách chắp tay nói: “Hai tháng rồi không gặp, trong thành có tin tức gì mới không? Phủ quân vẫn ở quân doanh chứ?” Úc Hương bỗng đứng dậy nói: “Đồ trọc!” rồi phẩy tay áo đi thẳng ra ngoài. Tổi với Tinh Lan nhịn cười đi theo sau. Vân Khách, Trúc Dật thưa gửi mấy câu, rồi cũng từ biệt trở ra.

Vườn Cao Nghĩa tức là mộ của ông Phạm Văn Chính, (Tức Phạm Trọng Yêm (989-1052) tự Hy Văn, là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà văn nổi tiếng thời Bắc Tống. Ông làm quan trải nhiều chức vụ, khi chết được ban thụy là Văn Chính, nên cũng gọi Phạm Văn Chính) Bạch Vân tinh xá ở bên cạnh đó, có một hiện đối diện vách núi, phía trên dây leo chăng đầy, dưới đào một khuôn hồ, rộng độ một trường, một khoảng nước trong xanh, có cá vàng tung tăng bơi lội, đặt tên là Bát Vu tuyền. Lò trúc bếp trà, sắp đặt cực kỳ u tĩnh. Phía sau hiên, thấp thoáng giữa muôn vàn cây lá xanh tươi có thể nhìn xuống xem được đại khái vườn họ Phạm. Chỉ tiếc rằng tăng nhân phàm tục, không cùng ngồi chơi được lâu. Khi ấy, từ thôn Thượng Sa, đi qua núi Kê Lung, tức là chỗ tôi và Hồng Can từng lên chơi núi khi trước. Cảnh vật vẫn y nguyên, mà Hồng Can thì đã mất, khiến tôi không khỏi cảm khái về nỗi xưa nay.

Đang khi buồn bã trong lòng, chợt thấy có dòng suối chặn ngang đường, không có cách nào đi tiếp được nữa. Dăm ba đứa trẻ nhà quê đang tìm hái nấm trong bụi cỏ, chợt gãi đầu gãi tai nhoẻn cười, tựa hồ ngạc nhiên sao lại có nhiều người tới đây như thế. Hỏi đường đến am Vô Ẩn lối nào, chúng đáp: “Đường trước có nước lớn không thể đi được, xin các ông quay lại vài bước, thấy phía nam có một lối nhỏ, trèo qua núi là đến.”

Chúng tôi theo lời, trèo qua núi đi về phía nam độ một dặm, dần thấy tre trúc cây cối xen nhau, bốn bề núi non vây bọc, đường ngập cỏ xanh, chẳng dấu chân người. Trúc Dật bồi hồi nhìn bốn xung quanh, nói: “Nhẽ ở đây đây, nhưng đường đi không thể nhận ra được, làm sao bây giờ?” Tôi bèn ngồi xuống nhìn kĩ chung quanh, thấp thoáng giữa ngàn cây tre trúc thấy ẩn hiện có khoảng tường nhà xếp đá, bèn bằng ngang qua từng khóm trúc lợi thẳng tới nơi, thì thấy một cửa, trên đề mấy chữ: “Vô Ẩn Thiền Viện - Ngày... tháng... năm..., Nam Viên lão nhân Bành mô trùng tu”. Mọi người cùng mừng rỡ nói: “Nếu không có ông thì chỗ này đã thành Vũ Lăng nguyên (Vũ Lăng nguyên tức Đào Hoa nguyên, trong tích xưa ngư phủ lạc lối Đào Nguyên) rồi vậy!”

Sơn môn đóng chặt, gõ cửa hồi lâu mà không có người đáp lời. Chợt thấy bên cạnh cánh cửa nhỏ mở ra, xạch một tiếng, một thiếu niên áo quần rách rưới ló ra, sắc mặt xanh xao, chân đi dép rách, cất tiếng hỏi: “Ông khách có việc chi?” Trúc Dật cúi đầu nói: “Chúng tôi mến cảnh u tĩnh ở đây, nên đặc ý đến chiêm ngưỡng.” Thiếu niên nói: “Núi nghèo thế này, tăng nhân tan tác, không có ai tiếp đãi, xin các ông đi chơi chỗ khác vậy.” Nói xong, bèn đóng cửa định quay vào. Vân Khách vội ngăn lại, xin cậu ta hãy mở cửa cho vào chơi, hứa tất sẽ có thù tạ. Thiếu niên cười nói: “Trà cũng không có, sợ rằng khinh mạn quan khách, chứ há dám mong thù tạ sao?”

Cửa sơn môn vừa mở, lập tức thấy tượng Phật, ánh vàng phản chiếu với sắc lá xanh, trên bậc đá sân thềm, rêu dày như trải gấm. đại điện có đài cao như tường, bao lơn đá vòng quanh. Men theo đài cao đi về phía tây, có khối đá hình như chiếc bánh bao, cao chừng hai trường, trúc nhỏ mọc quanh dưới chân. Lại từ phía tây rẽ lên hướng bắc, theo hành lang nghiêng dốc lần bậc đi lên, đến khách đường ba gian, đối diện ngay trước khối đá lớn. Dưới đá tạc một ao trăng nhỏ, một dòng suối trong, rong le vấn vít. Phía đông khách đường tức là chính điện, phía trái điện quay về hướng tây là tăng phòng và nhà bếp, phía sau điện, sát vách núi cao, cây cối rậm rạp che kín, ngửng lên nhìn không thấy trời. Tinh Lan đã mệt, ra bờ ao ngồi nghỉ, tôi cũng theo sau. Đang định mở be rượu uống một ngụm, chợt nghe giọng Ức Hương trên ngọn cây, gọi to: “Tam Bạch, nau lại đây, chỗ này có cảnh đẹp lắm!” Ngẩng lên nhìn không thấy người đâu, tôi bèn cùng Tinh Lan lần theo tiếng nói mà tìm. Từ chái phía đông đi ra một cửa nhỏ, ngoặt lên phía bắc, có bậc đá như cái thang, chừng mấy chục bậc, trong vườn trúc nhác trông thấy một tòa lầu. Lại theo thang mà lên, lầu có tám cửa mở thông, biển đề ba chữ “Phi Vân Các”. Bốn bên núi ôm bọc như thành, chỉ khuyết một góc tây nam, trông ra đằng xa, thấy một khoảnh nước liền trời, cánh buồm ẩn hiện, tức là Thái Hồ vậy. Tựa song nhìn xuống, gió đưa ngọn trúc, như đùa trên sóng lúa. Ức Hương hỏi: “Thế nào?” Tôi đáp: “Quả thực là diệu cảnh!” Bỗng lại nghe Vân Khách ở mé tây lầu kêu to: “Ức Hương mau lại đây! Chỗ này lại có cảnh đẹp hơn!” Nhân lại kéo nhau xuống lầu, rẽ lên phía tây hơn mười bậc, chợt thấy quang cảnh mở rộng sáng bừng, bằng như một cái đài. Ước lượng chỗ ấy, là ở trên vách núi dựng đứng phía sau điện, móng tàn gạch vỡ vẫn còn, chính là nền điện thuở trước vậy. Trông xung quanh núi non quây bọc, SO với nơi gác khi nãy lại càng thỏa thích hơn. Ức Hương ngoảnh nhìn Thái Hồ hú dài một tiếng, tức thì muôn ngọn núi đều ứng thanh vang vọng lại. Bên cùng ngồi bệt xuống đất bày chén uống rượu. Chợt thấy bụng đói cồn cào, thiếu niên định nấu Cơm cháy mời thay trà, bèn bảo cậu ta đổi thành nấu cháo, và mời ngồi ăn cùng một thể.

Hỏi thăm thiếu niên, cớ chi mà nơi này lại hoang tàn đến vậy, thiếu niên đáp: “Chỗ này bốn chung quanh không Có người ở, đêm đến hay có những khách hung đồ, tích trữ lương thảo thường bị trộm cướp. Đến như trồng rau quả, cũng bị bọn hái củi lấy mất quá nửa. Chỗ này là hạ viện của chùa Sùng Ninh, trưởng bếp mỗi tháng lại đưa tới cho một thạch cơm khô, một vại dưa muối mà thôi. Tôi là hậu duệ của họ Bành, tạm ở đây trông nom, cũng sắp về rồi, chẳng bao lâu nữa, chỗ này sẽ không còn dấu chân người vậy.” Vân Khách đưa một đồng bạc nước ngoài cảm tạ.

Quay về đến am Lai Hạc, tôi thuê thuyền về nhà. Tôi vẽ một bức tranh Vô Ẩn đồ tặng cho Trúc Dật để ghi lại một chuyên khoái du vậy.

Đông năm ấy, tôi đứng ra bảo lãnh cho người bạn vay tiền, thành ra bị liên lụy, khiến gia đình bất hòa, phải đến ở nhờ nhà họ Hoa ở Tích Sơn. Mùa xuân năm sau, tôi định đi Duy Dương, (Tức Dương Châu) nhưng chưa đủ tiền, nhân có người quen cũ là Hàn Xuân Tuyền đang ở Thượng Dương mạc phủ, bèn đến hỏi Áo rách dép lê, không dám vào nơi dinh phủ, tôi phải gửi thư hẹn gặp Hàn ở đình trong vườn Quận Miếu. Kịp Hàn ra gặp, thấy tôi buồn khổ quá, khảng khái giúp cho mười lạng bạc. Vườn ấy là của thương nhân ngoại quốc quyên tiền xây dựng nên, quy mô rất rộng lớn, chỉ tiếc là các cảnh điểm xuyết, rối loạn không có bố cục gì, phía sau vườn xếp đá làm núi cũng thiếu vẻ cao thấp hài hòa.

Trên đường quay về, tôi chợt nghĩ đến danh thắng Ngu Sơn, vừa vặn có thuyền tiện đường tới đó, tôi bèn đi theo cùng. Khi ấy đang tiết giữa xuân, đào mận thi nhau khoe sắc, lặn lội trên đường, khổ nỗi không có bạn đi cùng, bèn giắt lưng ba trăm đồng tiền, lững thững đến Ngu Sơn thư viện. Từ ngoài tường nhìn vào, chỉ thấy cây kia hoa nọ xen nhau, hồng thắm xanh non, tựa núi kề sông, dồi dào u nhã, chỉ tiếc rằng không thấy có cửa mà vào xem. Toan hỏi thăm đường, chợt thấy có người che lấn bán trà, tôi bèn vào, chủ quán pha trà Bích La Xuân mang ra mời, uống thấy vị cực ngon.

Tôi hỏi thăm, Ngu Sơn chỗ nào đẹp nhất, một người đi chơi nói: “Từ đây đi ra cửa tây, gần Kiếm Môn, cũng là một chỗ đẹp nhất của Ngu Sơn, ông có muốn đến đó, tôi xin dẫn đường.” Tôi liền vui vẻ bằng lòng.

Ra khỏi cửa tây, men theo chân núi, lên cao xuống thấp đi chừng mấy dặm, thì dần thấy đỉnh non sừng sững, đá núi in từng vệt vẫn ngang, đến nơi thì là một ngọn núi chia đôi giữa, hai vách bên lồi bên lõm, cao vài chục nhẫn. Lại gần ngẩng nhìn, thế núi tưởng như chực đổ ụp xuống. Người ấy bảo: “Tương truyền trên đó có động phủ, lắm cảnh tiên, tiếc là chẳng có lối mà lên.” Tôi nổi hứng, xắn tay vén áo, bám đá trèo lên như vượn, thẳng tới đỉnh núi cao. Chỗ mà người ta nói là động phủ, sâu chỉ độ một trường, trên có kẽ đá, hở nhìn thấy trời. Cúi đầu nhìn xuống, chân run chừng muốn ngã, bèn bám úp bụng vào vách đá, men bám dây rừng mà xuống. Người kia tấm tắc bảo: “Hằng hái quá! Hứng du chơi hào sảng thật, tôi chưa thấy ai được như ông đâu đấy!” Tôi khát khô cổ muốn uống chút rượu, bèn mời ông ta vào một quán quê cùng uống vài chén. Kim ô sắp lặn mà còn chưa chơi được khắp, tôi nhặt lấy hơn chục viên đá đỏ, gói vào áo đem về chỗ trọ, rồi đeo gùi xuống một chiếc thuyền đêm đến Tô Châu, rồi lại về Tích Sơn. Ấy cũng là một cuộc khoái du trong quãng đời sầu khổ của tôi vậy.

Mùa xuân năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Khánh (Tức năm 1804), tôi đau đớn gặp biến cố cha qua đời, gia đình li tán, định bụng bỏ nhà trốn biệt đi xa, may có người bạn là Hạ Ấp Sơn giữ lưu lại ở nhà ông ấy. Mùa thu, tháng Tám, ông ấy lại mời tôi cùng đến bãi Vinh Thái, Đông Hải khám thu hoa lợi. Bãi ấy thuộc đất Sùng Minh, ra khỏi cửa sông Lưu Hà, đi thuyền trên biển hơn trăm dặm mới đến. Bãi mới được bồi, nên còn chưa có phố xá gì. Mênh mông lau lách, khói bếp vắng tanh, chỉ có mấy chục gian nhà kho của người đồng bạn với Ấp Sơn là họ Đinh, bốn xung quanh đào cừ, xung quanh bên ngoài đắp để trồng liễu.

Đinh tự Thực Sơ, nhà ở Sùng Minh, là nhà đứng đầu ở bãi Vĩnh Thái. Người làm kế toán cho Đinh là họ Vương, cả hai đều hào sảng hiếu khách, không câu nệ lễ tiết, vừa mới gặp tôi mà đã chẳng khác gì bạn thân từ lâu vậy. Mổ lợn mời ăn, dốc bình mời uống. Tửu lệnh thì đầu ngón tay, chứ không hay thơ văn; Ca ngâm thì nẩy hò vè, chứ không tưởng âm luật. Rượu say, thì vung tay múa quyền vật nhau mà chơi. Trong nhà Đinh nuôi hơn trăm con trâu mộng, đều ngủ ngoài trời trên bờ đê. Nuôi ngỗng để kêu báo hiệu, mà đề phòng cướp biển. Ngày thì dắt chó mang ưng đi săn trong bãi lau ngoài cồn cát, phần nhiều bắt được các giống chim bay. Tôi cũng theo đi rong ruổi, mệt lại nằm nghỉ. Đinh đưa ra xem những nơi ruộng vườn đã làm lâu ngày, mỗi khu đều được đắp đê cao xung quanh để phòng triều dâng. Giữa để có cống thoát nước, dùng cánh đóng mở, hạn thì đợi triều lên, mở cánh cống lấy nước vào tưới tắm, lụt thì đợi triều xuống mở cánh cống mà tháo nước ra. Những người lĩnh canh đều ở tản mát xung quanh như sao rắc, hô một tiếng là tụ tập đến, gọi nhà chủ ruộng là “sản chủ”, răm rắp nghe lời, rất chất phác đáng yêu. Thế nhưng một khi nói điều phi nghĩa mà kích động họ, thì còn dũng mãnh hơn cả hổ lang; nhưng nếu một câu công bằng, thì lại sẵn sàng bái phục. Khi sáng tối, lúc gió mưa, phảng phất tựa như đời thái cổ. Nằm trên giường nhìn ra, là trông thấy sóng đào, tiếng triều reo bên gối, chẳng khác nghe chiêng trống.

Một tối, chợt thấy độ mấy chục dặm ngoài xa, có một vật tựa như ngọn đèn màu đỏ, to bằng cái giành, nổi lên trên mặt bể. Lại thấy ánh đỏ ngập trời, tựa như lửa cháy. Thực Sơ nói: “Chỗ này mỗi lần thấy có thần đăng thần hóa như thế, thì chẳng bao lâu nữa, lại có bãi sa bồi nổi lên.” Ấp Sơn vốn hứng trí hào sảng, đến nơi này càng thêm phóng túng. Tôi càng thoải mái không ngại ngần gì, lưng trâu cuồng ca, đầu bãi say múa, cứ mặc lòng tùy hứng, thực là cuộc khoái du không câu nệ trong đời mình vậy. Việc xong, đến tháng Mười chúng tôi mới trở về.

Danh thắng Hổ Khâu ở Tô Châu quê tôi, tôi chỉ ưng một nơi là Thiên Khoảnh Vân ở núi sau, thứ thì đến Kiếm Trì mà thôi. Còn lại, đều quá nửa là qua bàn tay người sang sửa, vả lại bị nhiễm thói điểm phấn tô son, đã mất hết cả bản tướng sơn lâm rồi vậy. Đến những nơi mới dựng như đền Bạch Công, cầu Tháp Ảnh, thì chẳng qua cũng chỉ là lưu nhã danh như thế thôi. Chỗ bến Dã Phường Tân (“Dã Phường” là phường đúc, có lẽ bến sông ở gần chỗ phường đúc, nên có tên ấy. Còn “Dã Phương” nghĩa là: hoa dại, vì tác giả cho cảnh ấy chỉ là tô điểm lòe loẹt như kỹ nữ, nên gọi đùa tên ấy), tôi đùa đổi gọi thành Dã Phương Tần, càng chẳng qua là một chỗ trong đám tô son trát phấn, làm hình dong ra vẻ phì nhiêu mơn mởn mà thôi. Sư Tử Lâm là một nơi nổi danh nhất trong thành Tô Châu, tuy nói là có vẻ đẹp như nét vẽ trong tranh của Vân Lâm(Vân Lâm: tức Nghệ Toản (1301-1374) tự Nguyên Trấn, hiệu Vân Lâm, người Vô Tích (nay thuộc Giang Tô), là họa gia nổi tiếng đời Nguyên), vả lại có chất đá lung linh, trong vườn nhiều cổ thụ, nhưng lấy đại thế mà xem, rốt cũng giống như đống xỉ than để rối, có rêu mốc mọc xanh, kiến chui làm tổ, chứ chẳng hề có chút khí thế sơn lâm gì cả. Cứ như điều tôi quản khuy (Quản khuy: nói tắt từ thành ngữ “quản trung khuy bảo”: lấy ống tre mà nhìn con báo, chỉ thấy một chấm đen mà không thấy nhiều chấm khác. Ý nói, kiến văn hạn hẹp, nhìn nhận phiến diện) thấy được, thì chẳng biết đẹp ở chỗ nào.

Núi Linh Nham là di chỉ cung Quán Oa của Ngô vương thuở xưa, trên núi có những danh thắng như động Tây Thi, hiên Hưởng Tiệp, đường Thái Hương, nhưng hình thế tản mạn, trống không chẳng có giới hạn, so ra lại chẳng bằng núi Thiên Bình, núi Chi Hình sẵn vẻ u tịch thú vị hơn.

Núi Đặng Úy, lại có tên là Nguyên Mộ, phía tây nhìn ra Thái Hồ, phía đông đối diện núi Cẩm Phong, gác xanh vách đỏ, trông tựa một bức họa đồ. Dân sống ở đó có nghề trồng mai, đến mùa hoa nở suốt mấy chục dặm, trông tựa như tuyết phủ, nên được gọi tên là Hương Tuyết Hải. Bên trái núi có bốn cây bách cổ thụ, được gọi bốn cái tên là Thanh, Kỳ, Cổ, Quái. Cây Thanh một thân cao vút, tán lá xanh như cái lọng. Cây Kỳ thân nằm trên đất thành ba khúc như hình chữ chi. Cây Cổ cụt ngọn thân bạnh rộng, đã mục một nửa trông như bàn tay lớn. Cây Quái thân như xoắn ốc, cành lá vẫn nguyên. Tương truyền, bốn cây bách ấy đã có trước đời Hán vậy.

 

Tháng đầu xuân, năm Ất Sửu, (Tức năm 1805) cha của Ấp Sơn là Thuần Hương tiên sinh cùng người em tên là Giới Thạch, dẫn bốn người con cháu, đến nhà thờ tổ ở Phục Sơn làm lễ tế xuân, đồng thời quét dọn mộ tổ, có vời tôi đi cùng. Tiện đường, đến chơi núi Linh Nham trước, ra cầu Hổ Sơn, rồi theo sông Phí Gia đi thuyền vào thưởng mai ở Hương Tuyết Hải. Đền Phục Sơn nằm ẩn mình trong rừng mai của Hương Tuyết Hải. Bấy giờ, hoa mai đang rộ, trong hơi thở cũng đầy hương hoa thơm. Sau, tôi từng vẽ cho Giới Thạch mười hai cuốn tranh “Phục Sơn Phong Mộc Đồ".

Tháng Chín năm ấy, tôi theo ông Điện soạn Thạch Trác Đường đến nơi nhậm chức ở phủ Trùng Khánh, Tứ Xuyên, ngược dòng Trường Giang mà lên. Thuyền đến Hoàn Thành. Trên sườn núi Hoàn Sơn có mộ của Dư Công (Tức Dư Khuyết (1303-1358) tự Đình Tâm, đỗ Tiến sĩ năm Nguyên Thống nguyên niên (1333), làm Hoài Tây Tuyên úy Phó sứ, cầm quân giữ thành An Khánh chống quân khởi nghĩa Hồng Cân. Thành thất thủ, ông nhảy xuống sông tự trầm) - trung thần cuối đời Nguyên. Gần bên cạnh mộ, có ba gian nhà, đề tên là Đại Quan Đình, trước mặt trông xuống Nam Hồ, sau lưng tựa vào Tiềm Sơn. Đình dựng trên sông núi, có thể nhìn ra được rất xa. Bên cạnh có hành lang sâu hút, cửa sổ phía bắc để không. Khi ấy đang độ sương sa lá đỏ, khắp núi non rực rỡ tựa hoa đào, hoa mận. Cùng đi với tôi có Tưởng Thọ Bằng, Sái Tử Cầm. Phía nam, ngoài thành, lại có vườn họ Vương, thế đất đông tây thì dài, mà nam bắc thì hẹp, vì rằng phía bắc tựa sát vào thành, mà phía nam bị chặn bởi hồ nước. Đã bị hạn chế về kiểu đất, nên cũng rất khó mà sắp đặt bố trí, tôi xem kết cấu trong vườn thì thấy họ có cách làm kiểu trùng đài điệp quán. Trùng đài là trên nhà lại lấy đài ngắm trăng ra làm sân, xếp đá trồng hoa trên đó, khiến du khách không biết rằng dưới chân mình lại là nhà ở. Vì rằng, phía trên xếp đá làm núi giả, thì dưới phải thực, còn phía trên chỉ làm sân thì dưới có thể hư, cho nên cây cối vẫn được đủ khí đất mà sinh trưởng. Còn điệp quán là trên lầu làm hiên, trên thiên lại làm bình đài. Trên dưới quanh co, trùng điệp bốn tầng, lại làm cả hồ nước nhỏ, nước cũng không bị ngấm rỉ, càng khó mà lường được đâu là hư đâu là thực. Dưới chân thảy đều được xây bằng gạch đá, những chỗ chịu sức nặng thì học theo cách dựng cột của người Tây dương. May mắn là đối diện phía trước là Nam Hồ, nên tầm mắt không bị vướng khuất, thả hồn du lãm, lại hơn vườn chỉ trên mặt đất, thực là cái kỳ tuyệt của sức người vậy.

Lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương, nằm trên mũi Hoàng Hộc, phía sau kéo dài tới núi Hoàng Hộc, tục vẫn gọi là Xã Sơn. Lầu có ba tầng, cột vẽ mái đao, tựa thành đứng sừng sững, trước mặt là dòng Hàn Giang, đối diện với gác Tình Xuyên phía Hán Dương. Tôi với Trác Đường đội tuyết lên lầu, ngừng nhìn tầng không, tuyết bay lả tả như hoa ngọc, chỉ tay nhìn ra xa ngân sơn ngọc thụ phau phau, thảng thốt tưởng như mình đang ở chốn Dao Đài vậy. Thuyền con qua lại giữa dòng, ngang dọc ngửa nghiêng, tựa như sóng cuốn lá rơi, bao lòng danh lợi đến đây thảy đều nguội lạnh. Trên vách lầu đề vịnh rất nhiều, chẳng thể nhớ nổi, chỉ nhớ hai câu đối trên cột rằng:

Hà thời hoàng hạc trùng lai, thả cộng đảo kim tôn, nghiêu châu chữ thiên niên phương thảo.

Đãn kiến bạch cân phi khứ; cánh thùy suy ngọc địch, lạc giang thành ngũ nguyệt mai hoa.

(Thuở nào hoàng hạc lại về, để cùng rót chén vàng, rưới cồn bãi ngàn năm cỏ biếc.

Chỉ thấy bạch vân bay khuất, ấy ai vang sáo ngọc, rụng thành sông tháng hạ hoa mai.)

Xích Bích tại Hoàng Châu, ở ngoài cửa Hán Xuyên của phủ thành, vách núi đứng sững bên bến sông, hệt như bức tường, sắc đá thảy đều màu đỏ, cho nên có tên như vậy. Sách Thủy kinh nói là ở Xích Tỵ sơn. Còn Tô Đông Pha đi chơi ở chỗ này mà làm hai bài phú, cho là chỗ quân Ngô, Ngụy giao tranh thuở xưa, thì chẳng phải vậy. Dưới chân vách núi đã thành đất liền, trên dựng đình Nhị Phú (Đình hai bài phú).

Tháng giữa đông năm ấy thì tới Kinh Châu, lại được tin Trác Đường được thăng làm Đồng Quan Quan sát, để tôi ở lại Kinh Châu, khiến tôi không khỏi buồn lòng vì chưa được thấy núi sông ở đất Thục Trung vậy. Khi ấy Trác Đường vào Tứ Xuyên, chỉ còn người con trai là Đôn Phu và quyến thuộc, cùng Sái Tử Cầm, Tịch Chi Đường là lưu lại cả ở Kinh Châu, ngụ trong khu vườn cũ nhà họ Lưu. Tôi còn nhớ, trên sảnh đường nhà ấy có bức hoành phi đề là: Tử đằng hồng thụ sơn phòng, sân thềm có bao lơn đá vây quanh. Trong vườn đào một cái hồ vuông rộng một mẫu, trên hồ lại dựng đình có cầu đá bắc sang, sau đình bồi đất xếp đá, cây cối um tùm, còn đại phần đa đều là đất trống, lầu gác đều đổ nát cả.

Ở nơi khách cư vô sự, khi ngâm thơ, khi hò hát, khi du ngoạn, khi luận đàm. Cữ cuối năm tuy phí dụng thiếu thốn, nhưng trên dưới vui vầy, cầm áo lấy tiền mua rượu, mà vẫn bày ra khua chiêng gõ trống làm vui. Tối nào cũng uống, uống tất hành tửu lệnh. Túng quá thì chỉ vài be rượu nhạt, nhưng vẫn tất phải có tửu lệnh đâu ra đấy.

Gặp có người đồng hương cũng họ Sái, Sái Tử Cầm trò chuyện hỏi thăm chi thứ tôn tộc, thì hóa ra là hàng con cháu cùng họ, bèn nhờ anh ta dẫn đi chơi các nơi danh thắng. Đến lầu Khúc Giang ở trước nhà Phủ học, xưa khi Trương Cửu Linh (Trương Cửu Linh: nhà thơ nổi tiếng đời Đường, từng làm chức Kinh Châu Trưởng sử) làm Trưởng sử ở đây, từng viết thơ trên lầu. Chu tử (Chu tử: tức Chu Hy - nhà tư tưởng nổi tiếng đời Tống) cũng có câu thơ rằng: Nhớ nhau muốn ngoảnh lại; Lầu Khúc cứ lên cao. Trên thành lại có lầu Hùng Sở, do họ Cao xây từ đời Ngũ đại, quy mô hùng vĩ cao vọi, lên đó có thể nhìn ra xa tới vài trăm dặm. Xung quanh thành, bên bờ nước thảy đều trồng dương liễu, thuyền nhỏ khua chèo qua lại, trông chẳng khác chi tranh vẽ. Phủ thự Kinh Châu chính là soái phủ của Quan Tráng Mậu, (Quan Tráng Mậu: tức Quan Vũ, tự Vân Trường, người đời Tam Quốc, sau khi qua đời được tặng Tráng Mậu hầu, nên còn được gọi là Quan Trảng Mậu) trong cửa nghi môn, có cái máng ngựa gãy bằng đá xanh, tương truyền là cái máng ăn của con ngựa xích thố. Tôi hỏi thăm nhà cũ của La Hàm (La Hàm: người Lỗi Dương, đời Tấn, được Hoàn Ôn rất trọng dụng. Sau khi trí sĩ ông về Kinh Châu, dựng nhà ở phía tây thành, trước thềm trồng đầy lan cúc) trên hồ nhỏ phía tây thành, nhưng không thấy, lại đi hỏi thăm nhà cũ của Tống Ngọc (Tống Ngọc: nhà từ phú nổi tiếng người nước Sở đời Chiến quốc) ở phía bắc thành. Xưa, Dữu Tín (Dữu Tín: tự Tử Sơn, người Tân Dã, Nam Dương, nhà văn nổi tiếng đời Nam Bắc triều) gặp loạn Hầu Cảnh, trốn về Giang Lăng, có ở nhà cũ của Tống Ngọc, kế đó lại đổi thành quán rượu, đến nay đã không thể biết ở đâu nữa rồi.

 

Trừ tịch năm ấy, sau tuyết trời rất lạnh, qua Tết mừng xuân, không bị phiền về nỗi chúc tụng đầu năm, trọn ngày chỉ đốt sáo, thả diều, dán đèn lồng làm vui. Rồi đó, gió báo tin hoa, mưa gột bụi xuân, các thể thiếp của Trác Đường đem theo các con trai gái ấu thơ, xuôi dòng Trường Giang xuống phía đông, Đôn Phu cũng chỉnh đốn hành trang, tập hợp mọi người lên đường. Từ Phàn Thành lại lên bộ, đi thẳng đến Đồng Quan.

Từ phía tây huyện Thụ Hương ở nam Hào Sơn, ra cửa Hàm Cốc, thấy có bốn chữ “Tử khí động lại”, tức là nơi Lão tử cưỡi trâu xanh đi qua. Hai bên vách núi sát đường đi, chỉ đủ cho hai con ngựa đi song song, chừng mười dặm thì tới Đồng Quan. Phía trái dựa lưng vào vách núi dựng đứng, phía phải kề sông Hoàng Hà. Cửa quan ở giữa khoảng núi sông, chặn nơi yết hầu mà dựng lên, trên có trùng lâu, ụ lũy, vô cùng hùng vĩ, mà xe ngựa vắng không, khói bếp thưa thớt. Thơ Xương Lê (Tức Hàn Dũ - nhà văn nhà thơ nổi tiếng đời Đường) có câu: “Nắng rọi Đồng Quan bốn cửa không”, nhẽ cũng là nói đến sự vắng vẻ ở đó chăng?

Trong thành, dưới chức Quan sát, chỉ có một chân Biệt giá. Nha môn đạo viên ở kề sát phía bắc thành, phía sau có vườn tược, dài rộng độ ba mẫu. Hai phía đông tây đào hai cái hồ, lấy nước từ phía tây nam ngoài tường chảy vào, xuôi sang phía đông đến khoảng giữa hai hồ, thì chia làm ba nhánh: một chảy theo hướng nam đến nhà bếp, để dùng hàng ngày, một chảy theo hướng đông đổ vào hồ phía đông, một chảy theo hướng bắc, rồi ngoặt sang tây, theo miệng con rồng đá phun vào hồ phía tây, vòng đến phía tây bắc, lại đặt cửa cống để tháo nước, rồi theo chân thành chuyển hướng bắc, qua cống mà ra, đổ thẳng xuống Hoàng Hà, ngày đêm lưu chuyển, khiến người cũng thấy thật thanh sảng. Trúc mộc rợp bóng, ngẩng đầu nhìn không thấy trời. Trong hồ phía tây có đình, hoa sen mọc qua tả hữu. Mẹ đông có thư phòng ba gian quay mặt hướng nam, trước sân có giàn nho, dưới kê phiến đá vuông, có thể đánh cờ hay bày chén uống rượu, ngoài nữa đều là ruộng cúc. Mé tây có ba gian nhà hiện quay mặt hướng đông, ngồi đó có thể nghe tiếng nước chảy. Phía nam hiện có cửa nhỏ có thể thông vào buồng trong. Phía bắc hiên, dưới cửa sổ, lại đào một ao nhỏ, phía bắc ao có miếu nhỏ, thờ thần hoa. Chính giữa vườn dựng một tòa lầu ba tầng, kề sát tường thành phía bắc, cao ngang mặt thành, cái nhìn ra ngoài thành tức là sông Hoàng Hà vậy. Phía bắc Hoàng Hà, núi non lớp lớp như bình phong, đã là địa giới của tỉnh Sơn Tây. Thực là một đại cảnh quan vậy.

Tôi ở phía nam vườn, ngôi nhà như một con thuyền, trước sân có núi đất, trên có đình nhỏ, trèo lên đó có thể thấy đại lược cảnh trong vườn, tán cây xanh che kín bốn bên, giữ mùa hè cũng không thấy hơi nóng. Trác Đường đề biển ngạch cho chỗ nhà tôi ở là Bất hệ chi chu (Con thuyền không buộc). Ấy là căn nhà đẹp nhất mà tôi được ở kể từ khi rong ruổi đi giúp việc quan đến nay. Trên hòn núi đất, trồng mấy chục loại hoa cúc, chỉ tiếc là còn chưa kịp đơm bông thì Trác Đường đã lại được điều đi làm Liêm phỏng ở Sơn Tả, quyến thuộc đều dời cả đến ở trong Đồng Xuyên thư viện, nên tôi cũng theo đến ở trong đó.

Trác Đường đến nơi nhậm chức trước, tôi cùng bọn Tử Cầm, Chi Đường không việc lại đi du ngoạn. Cưỡi ngựa đến miếu Hoa Âm, qua làng Hoa Phong, thì tức là chỗ thuở xưa vua Nghiêu nhận ba câu chúc. Trong miếu rất nhiều những cây hòe, cây bách từ đời Tần, đời Hán, thảy đều lớn ba, bốn ôm, có cây hòe mọc ôm lấy cây bách, lại có cây bách mọc ôm lấy cây hòe. Trước sân điện rất nhiều bia cổ, trong đó có tấm bia của Trần Hy Di (Tức Trần Đoàn - người đời Bắc Tống, tương truyền sau thành tiên ở Hoa Sơn) đề chữ Phúc Thọ. Dưới chân núi Hoa Sơn có viện Ngọc Tuyền, tức là nơi Hy Di tiên sinh hóa hình thoát cốt vậy. Có động đá như căn buồng nhỏ, tạc tượng tiên sinh đang nằm trên giường đá. Đất ấy nước trong cát trắng, cỏ đa phần có sắc đỏ, suối chảy rất mau, trúc cao vây bọc. Ngoài động có một ngôi đình vuông, biển đề ba chữ Vô ưu Đình, bên cạnh có ba cây cổ thụ, vẫn như than nứt, lá tựa hòe mà sắc sẫm hơn, không biết tên gọi là gì, nhưng người ở đó thì cứ gọi là cây Vô ưu. Núi Thái Hoa không biết cao mấy ngàn nhẫn, tiếc rằng tôi chưa được đem lương ăn mà trèo lên chơi đó. Trên đường về, trông thấy những cây hồng rừng đã chín vàng, bèn lập tức hái lấy ăn, người ở đó ngăn bảo đừng, mà tôi không nghe, mới cắn một miếng đã thấy vị chát xít ở cổ, phải vội vàng nhả ra. Rồi xuống ngựa, tìm nước suối xúc miệng, mới có thể nói được, khiến mấy người địa phương đều cười ầm lên. Hóa ra hồng ấy phải hái xuống, đun sôi, mới hết chát, mà tôi không biết.

Đầu tháng Mười, Trác Đường từ Sơn Đông cho người đến đón quyến thuộc. Bèn ra khỏi Đồng Quan, từ Hà Nam đi vào đất Lỗ.

Trong phủ thành Tế Nam, Sơn Đông, phía tây có hồ Đại Minh, trong đó có những danh thắng như đình Lịch Hạ, đình Thủy Hương. Mùa hè, dưới bóng liễu xanh um, hoa sen vươn lên mặt nước, chở rượu, bơi thuyền, thật vô cùng u nhã. Tôi đến đó mùa đông, chỉ thấy liễu tàn khói lạnh, một vùng mặt nước mênh mang mà thôi. Báo Đột Tuyền là con suối hàng đầu trong bảy mươi hai suối ở Tế Nam. Suối có ba “mắt”, từ dưới đáy nước phun vọt lên cao, tựa đang sôi sùng sục. Phàm suối đều chảy từ trên xuống dưới, riêng suối này lại chảy từ dưới vọt lên, cũng là một sự lạ vậy. Trên hồ có lầu, thờ tượng Lã Tổ, du khách phần đa đến uống trà ở đó.

 

Tháng Hai năm sau, thì tôi đến theo hầu ở Lại Dương. Đến mùa thu năm Đinh Mão, (Tức năm 1807) Trác Đường giáng chức xuống làm Hàn lâm, tôi cũng theo về kinh. Cảnh Đăng Châu hải thị (Đăng Châu: địa danh thuộc Sơn Đông nay. “Hải thị” tức thành phố trên biển - một loại ảo ảnh với hình bầu gác nhà cửa thường xuất hiện trên các vùng biển hay sa mạc. Tương truyền vùng biển Đông Châu - Sơn Đông hay xuất hiện loại ảo ảnh này) mà người ra vẫn nói, rốt chưa từng một lần được thấy vậy.