Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

3. Sầu trắc trở

 

Sầu trắc trở

 

Những trắc trở trong đời từ đâu mà ra? Thường thường đều là tự mình gây ra mối nghiệt vậy. Tôi thì không thế, đa tình nhưng trong lời hứa, thẳng thắn mà không câu nệ, song cũng vì vậy mà hóa ra mang lụy. Huống chi, Giá Phu công - cha tôi, lại khảng khái hào hiệp, thường cứu nạn giúp người, thành việc cho người, gả con gái hộ người, nuôi con trai thay người, chẳng đếm xuể được, coi tiền của nhà đất, phần nhiều là vì người khác. Vợ chồng tôi ở nhà, ngẫu nhiên có việc cần chi dùng, thường chẳng tránh được việc phải cầm cố thứ này thứ khác. Mới đầu còn giật gấu vá vai, kế đến thì che bên phải, hở bên trái. Ngạn ngữ có câu: “Ăn ở trong nhà, Không tiền chẳng xong.” Mới đầu thì người ăn kẻ ở bàn ra tán vào, rồi dần đến lượt người nhà chê trách. Câu “con gái không tài chính là đức”, thật là câu danh ngôn thiên cổ vậy!

Tôi tuy là con trưởng, nhưng đứng hàng thứ ba (Tục Trung Quốc xưa, những anh em con chú bác ruột (tức cùng chung ông nội) thì tính là cùng hàng với nhau, tính hàng từ lớn đến nhỏ, không phân biệt con chú, con bác), vì vậy trên dưới trong nhà đều gọi Vân là “mợ ba”. Về sau, bỗng thấy gọi là “bà ba”, mới đầu chỉ là gọi đùa, sau rồi thành quen, thậm chí đến cả những người lớn bé trẻ già cũng đều lấy cái danh “bà ba” mà gọi, nhẽ đó là cái cơ có biến trong nhà chăng?

Năm Ất Tỵ, niên hiệu Càn Long (Tức năm 1785), tôi theo hầu cha tại nơi làm quan ở Hải Ninh. Vân có gửi kèm theo thư nhà cho tôi một bức thư nhỏ. Cha tôi liền bảo: “Vợ mày đã giỏi bút mực như thế, thì thư từ trong nhà của mẹ mày nên giao cho nó lo.” Về sau, trong nhà ngẫu nhiên có chuyện nọ chuyện kia bàn tán, mẹ tôi ngờ rằng Vân đã ngồi lê đôi mách, bèn không cho viết thư hộ nữa. Cha tôi thấy thư không phải chữ Vẫn viết, hỏi tôi rằng: “Vợ mày ốm ư?” Tôi lập tức viết thư về hỏi, nhưng cũng không có hồi âm. Lâu sau, cha tôi giận bảo: “Chắc vợ mày không thèm viết hộ thư nữa rồi!” Đến khi tôi về nhà, hỏi rõ được cơ sự, định sẽ lựa lời giải thích, thì Vân vội ngăn lại bảo: “Thiếp thà chịu để cho trách mắng, chứ không muốn mất lòng mẹ” Rốt cuộc không cho tôi nói.

Xuân năm Canh Tuất (Tức năm 1790), tôi lại theo hầu cho đến mạc phủ Hàn Giang (Hàn Giang: tên sông, cũng gọi Hàn Câu, là dòng vận hà nằm trong địa phận tỉnh Giang Tô, chảy từ tây bắc thành phố Dương Châu đến phía bắc huyện Hoài An, đồ vào sông Hoài). Có viên đồng sự là Du Phu Đình, đưa gia quyến đến ở đó. Cha tôi nói với Phu Đình: “Tôi một đời vất vả, thường phải ở nơi đất khách, cũng muốn tìm một người hầu hạ quét tước cho mà không được. Con cái nếu quả có thể thể lượng ý cha, thì nên tìm lấy một người ở quê nhà đưa tới, cho tiếng nói nghe quen vậy.” Phu Đình nói lại với tôi, tôi bèn bí mật viết thư cho Vân, nhờ mai mối tìm người thích hợp, cuối cùng tìm được con gái nhà họ Diệu. Vân vì chưa biết rõ việc có thành hay không, nên chưa dám bẩm ngay cho mẹ tôi biết. Khi người ấy tới nhà, Van bèn nói thác với mẹ tôi rằng, đó là người con gái hàng xóm cùng chơi với mình. Kịp tới khi cha sai tôi đón cô ta đưa đến phủ, Vân lại nghe ý người ngoài xúi, nói thác rằng ấy là người mà cha tôi vốn hợp ý. Lúc mẹ tôi gặp mặt nhận ra, bèn bảo: “Đây là cô hàng xóm cùng chơi đó thôi, làm sao lấy được?” Vân vì vậy bèn mất lòng với mẹ.

 

Mùa xuân năm Nhâm Tý, tôi đang ở Chân Châu. Cha tôi bị bệnh ở Hàn Giang, tôi tới thăm, cũng lại bị ốm. Em tôi là Khải Đường bấy giờ cũng theo hầu ở đó. Vân gửi thư tới, nói: “Chú Khải Đường từng vay nợ bà hàng xóm, nhờ Vân đứng ra bảo lãnh cho, nay bà ấy đang đòi rát lắm.” Tôi hỏi Khải Đường, Khải Đường lại quay ra cho rằng chị dâu nhiều chuyện. Tôi bèn biển vào cuối thư rằng: “Mấy cha con đều bị bệnh, chưa có tiền trả, đợi đến khi chú Khải về sẽ tự tính toán là được.”

Chưa bao lâu, mọi người đều đã khỏi ốm, tôi lại về Chân Châu. Vân phục thư gửi tới, cha tôi bóc ra xem, trong thư có thuật chuyện Khải vay tiền hàng xóm, lại nói: “Mẹ chàng cho rằng bệnh của ông cụ đều là do cô Diêu mà ra. Nay bệnh của cha đã hơi khỏi, nên bí mật bảo cô Diêu nói thác là nhớ nhà, thiếp sẽ bảo cha mẹ cô ấy đến Dương Châu đón. Đó thực là kế để khỏi bị đội bên trách cứ vậy.”

Cha tôi đọc thư, giận lắm, hỏi Khải Đường chuyện vay nợ hàng xóm thế nào, Khải Đường đáp rằng không hề biết. Cha tôi bèn gửi thư tới ra lệnh cho tôi rằng: “Vợ mày dối chồng vay nợ, rồi vu bậy cho em chồng. Lại còn gọi mẹ chồng là “mẹ chàng” (Nguyên văn “lênh đường”: là cách gọi khách sáo với mẹ người ngoài, không thân thiết) gọi cho chồng là “ông cụ”, hỗn hào quá lắm! Ta đã sai người mang thư về Tô Châu đuổi đi rồi. Nếu mày có chút nhân tâm, cũng nên biết lỗi của mình!” Tôi nhận được thư mà như nghe sấm nổ giữa trời xanh, lập tức viết thư hồi âm kính cẩn nhận lỗi, rồi tìm ngựa vội vàng chạy về nhà, sợ rằng Vân sẽ nghĩ quẩn. Về đến nhà, tôi nói lại hết đầu đuôi, nhưng người nhà đã mang thư đuổi về tới nơi, trong thư nghiêm trách nhiều tội lỗi, lời lẽ quyết tuyệt vô cùng.

Vân khóc nói: “Thiếp cố nhiên không nên nói bừa thế, nhưng cũng xin cha thứ cho phận gái vô tri.” Qua mấy hôm, cha tôi lại có thủ dụ đến, nói: “Ta cũng không muốn làm quá chuyện này, mày hãy đưa vợ đến chỗ khác ở, đừng để ta thấy mà bực mình là được rồi.” Tôi bèn gửi Vân sang nhà ngoại, nhưng Vân vì cớ mẹ đã mất, em trai lại bỏ đi, không muốn về nương tựa vào người trong họ. May mắn, có bạn tôi là Lỗ Bán Phảng hay chuyện thương tình, mời vợ chồng tôi đến ở lầu Tiêu Sảng.

Qua hai năm, cha tôi dần biết đầu đuôi, vừa khi ấy tôi từ Lĩnh Nam về, ông mới tự mình tới lầu Tiêu Sảng, bảo Vân rằng: “Chuyện trước đây ta đã biết hết cả rồi, các con hãy về nhà được không?” Vợ chồng tôi mừng rỡ, lại quay về nhà cũ, cốt nhục đoàn viên. Đâu có ngờ rằng lại có cái nghiệp chướng Hàm Viên nữa!

Vân vốn có bệnh về khí huyết, ấy là vì người em là Khắc Xương bỏ nhà đi không về, mẹ là Kim thị lại nhớ thương con trai đến nỗi bị bệnh mà chết, khiến nàng bị thương quá đỗi mà ra như thế. Từ khi quen biết Hàm Viên, hơn một năm liền bệnh không tái phát, tôi đã lấy làm may mắn vì có được phương thuốc hay. Đến khi, Hàm Viên bị kẻ có thế lực đoạt mất, đưa ngàn vàng làm sính lễ, và hứa nuôi dưỡng mẫu thân cho. Vậy là “giai nhân đã thuộc Sa Tra Lợi” (Điển cố theo Liễu thị truyện: Hàn Hoành và vợ là Liễu thị vì loạn lạc phải xa nhau. Sau, Hàn Hoành về tìm thì vợ đã bị kiêu tướng là Sa Tra Lợi cướp mất. Về sau, nhờ Hứa Tuấn mà Hàn Hoành lại giành được tiêu thị về với mình). Tôi biết chuyện nhưng cũng chưa dám nói gì.

Kịp tới khi Vân tới thăm mới biết, lúc về cứ nức nở mãi, mà bảo tôi rằng: “Thiếp đâu có ngờ Hàm lại bạc tình đến thế!” Tôi bảo: “Ấy là nàng tự tình si vậy. Những người trong giới ấy, làm gì có cái gọi là tình chứ? Huống chi, kẻ ăn ngọc mặc gấm, vị tất có thể chịu yên phận váy sồi thoa gai. So với việc sau này phải hối hận, thì chi bằng chẳng thành là hơn.” Nhân lại yên ủi mấy bận, nhưng vẫn rất vẫn oán hận vì việc bị lừa, bệnh khí huyết phát ra, phải nằm bệt trên giường, thuốc thang vô hiệu, khi phát khi lui, gầy mòn tiều tụy. Chưa được mấy năm mà nợ nần ngày một nhiều, điều tiếng ngày một lắm. Cha mẹ già lại vì chuyện hẹn ước với kĩ nữ, mà ngày càng thêm ghét. Tôi phải đứng giữa điều đình, tưởng đã chẳng còn được ở nơi dương thế nữa vậy.

Vân sinh được một trai một gái. Con gái tên là Thanh Quân, khi ấy mới mười bốn tuổi, rất hiểu sách vở, lại rất hiền hậu giỏi giang, cầm thoa gán áo, may nhờ nó chịu vất vả. Con trai tên là Phùng Sâm, khi ấy mười hai tuổi, cũng đang theo thầy học chữ.

Tôi liền mấy năm không có nơi mời làm, mở một gian hàng thư họa trong cửa nhà, tiền kiếm được ba ngày chẳng đủ dùng một bữa, vất vả khốn khó, kiệt quệ luôn luôn. Ngày đông tháng giá không có áo ấm, chỉ còn biết ưỡn ngực bước qua. Thanh Quân cũng áo mỏng chân run, nhưng vẫn gượng bảo “không rét”. Vì thế, Vân thề không thuốc thang gì nữa. Ngẫu nhiên hôm ấy dậy được khỏi giường, vừa gặp khi tôi có người bạn là Châu Xuân Hú từ mạc phủ của Phúc quận vương về, muốn thuê người thêu một bản Tâm kinh. Vân nghĩ thêu kinh Phật có thể tiêu tại giáng phúc, vả lại được tiền công cũng hậu, bèn nhận thêu cho. Nhưng Xuân Hú thời gian vội vã, không thể đợi lâu được, mười ngày là phải thêu xong. Vân đang yếu sẵn, lại phải chịu lao nhọc, khiến mắc thêm chứng đau lưng chóng mặt. Đâu có biết rằng người bạc mệnh, Phật cũng chẳng thể phát tâm từ bi mà cứu được vậy! Sau khi thêu kinh, bệnh Vân thêm nặng, gọi nước lấy thuốc, mà chỉ nâng lên đặt xuống không nuốt được nổi.

Có ông Tây thuê nhà ở bên trái quán thư họa của tôi, chuyên làm nghề cho vay lãi, thi thoảng thuê tôi vẽ tranh cho, nên thành quen. Có người bạn tôi đến vay hắn năm mươi đồng vàng, xin tôi đứng ra bảo lãnh cho. Tôi nể tình. không thể từ chối được, bèn bằng lòng, nhưng rốt cuộc bạn lại ẵm tiền trốn biệt đi xa. Ông Tây cứ nhè kẻ bảo lãnh mà đòi, thi thoảng lại đến làm ầm lên. Mới đầu tôi còn có thể đem tranh, chữ ra gán được ít nhiều, rồi sau chả có gì để mà trả cho hắn nữa. Cuối năm, cha tôi ở nhà, ông Tây lại đến đòi nợ, ầmingoài cửa. Cha tôi nghe được, gọi tôi vào trách hỏi: “Chúng ta là nhà áo mũ, ai cho mày vay nợ thứ tiểu nhân ấy?”

Tôi còn đang phân trần, thì đúng lúc có người chị kết nghĩa từ nhỏ của Vân là Hoa thị ở Tích Sơn, hay tin Vân ốm, sai người tới thăm. Cha tôi lầm tưởng là người của Hàm Viên sai đến, lại càng giận, nói: “Vợ mày không giữ nết phòng khuê, kết nghĩa với bọn kĩ nữ. Mày cũng không nghĩ đến việc tiến thủ, chơi bời bừa bãi với lũ tiểu nhân. Nếu bắt mày vào chỗ chết, thì ta cũng không nỡ lòng nào. Nay tạm khoan hạn cho mày ba ngày, mau mau mà liệu tính đi, nếu chậm thì tao sẽ đi các quan tội nghịch của mày!”

Vân nghe thấy thế khác nói: “Cha mẹ tức giận như thế, đều là tội nghiệt của thiếp. Thiếp chết trên đường chàng đi, chàng tất không nỡ lòng. Mà thiếp ở lại, một mình chàng đi, chàng tất không bỏ được. Hay là chàng bí mật cho gọi người nhà họ Hoa vào đây, thiếp sẽ gượng hỏi chuyện xem.”

Nói rồi bèn sai Thanh Quân đỡ ra nhà ngoài, gọi người mà họ Hoa sai sang vào, hỏi: “Là bà chủ bên ấy sai bác sang, hay là bác tiện đường mà vào đây?” Người ấy đáp: “Bà chủ tôi bấy lâu nghe tin phu nhân nằm bệnh, vốn muốn đích thân sang thăm, nhưng trước nay chưa từng tới nhà, nên không dám đường đột. Lúc tôi đi, bà chủ còn dặn rằng: Nếu phu nhân không chỉ ở chốn thôn quê giản lậu, thì xin mời phu nhân về làng điều dưỡng, thể theo như những lời đã nói dưới đèn thuở trước.” Ấy là vì khi xưa, lúc Vân với Hoa thị còn cùng ở buồng thêu, hai người đã có lời thề khi bệnh tật thì giúp đỡ lẫn nhau vậy. Vân nhân bảo người ấy: “Phiền bác nhanh chóng trở về, bẩm lại với bà chủ, trong hai ngày nữa, bí mật cho thuyền tới đây.”

Người ấy đi rồi, Vân nói với tôi: “Chị kết nghĩa họ Hoa tình cảm còn hơn cốt nhục, nếu chàng chịu đến nhà chị ấy, thì cứ đi với thiếp không ngại, nhưng đưa theo các con cùng đi thì cũng bất tiện, mà để lại làm lụy song thân cũng không được, tất phải sắp xếp ổn thỏa trong hai ngày tới.” Bấy giờ, có người anh bên ngoại tôi là Vương Tẫn Thần, có đứa con trai tên là Uẩn Thạch, muốn đón Thanh Quân về làm dâu. Vân nói: “Nghe nói cậu Vương nhu nhược bất tài, chẳng qua chỉ là đứa ăn không của nhà thôi, nhà họ Vương thì lại chả có gì mà cho ăn không cả. Nhưng may cũng là nhà thi lễ, vả lại là con một, thôi gả cho cũng được.” Tôi bảo với Tân Thần: “Cha tôi với anh vốn có cái nghĩa Vị Dương (Chỉ quan hệ cậu cháu. Thơ Vị Dương trong Tân Phong, Kinh Thi có câu: “Ngã tống cứu thị; Viết chỉ Vị Dương” (Tôi tiễn ông cậu; Rằng đến Vị Dương)), anh muốn xin hỏi Thanh Quân về làm dâu, thì cũng chẳng có gì là không được. Nhưng đợi đến lớn mới gả, tình thế bây giờ không thể được. Sau khi vợ chồng tôi đến Tích Sơn rồi, anh hãy bấm ngay với song thân tôi, xin đưa cháu về làm dâu từ bé, anh thấy thế nào? Tấn Thần mừng bảo: “Xin kính cẩn theo lời.” Còn Phùng Sâm, tôi cũng nhờ người bạn là Hạ Áp Sơn giới thiệu cho đi học việc buôn bán.

Sắp đặt đâu đấy rồi thì thuyền nhà họ Hoa vừa tới, hôm ấy là ngày hăm nhăm tháng Chạp năm Canh Thân (Tức năm 1800). Vân nói: “Lủi thủi ra đi, chẳng những sẽ khiến làng xóm cười chê, mà món nợ ông Tây chưa trả được, e là cũng chẳng tha cho. Trống canh năm ngày mai chúng ta tất phải lẳng lặng mà đi sớm mới được.” Tôi nói: “Mình đang ốm như thế, có nhẽ nào đội rét mướt tinh sương mà đi được ư?” Vân bảo: “Sống chết có mệnh, chàng chớ lo lắng nhiều làm gì.” Tôi mật bẩm với cha, ông cũng cho là nên như thế.

Tối ấy, tôi cho đem nửa gánh hành lý xuống thuyền trước, bảo Phùng Sâm ngủ sớm, Thanh Quân thì ngồi bên mẹ mà khóc. Vân dặn bảo: “Mẹ con số khổ, lại sẵn tình si, đến nỗi phải truân chuyên thế này. May là cha có hậu tình với mẹ, nên lần này đi nhẽ cũng chẳng có gì phải lo. Trong vòng đôi ba năm, tất sẽ sắp đặt để lại đoàn viên. Con về nhà chồng rồi, nên trọn đạo làm vợ, chớ giống như mẹ. Cha mẹ chồng con vẫn lấy làm may vì hỏi được con về làm dâu, nên tất sẽ đối xử tốt với con. Những đồ tạp vật mẹ để lại trong rương hòm, cho hết con đem đi theo. Em con còn nhỏ tuổi, nên chửa cho nó biết làm gì, chia tay rồi cứ bảo là mẹ đi chữa bệnh, mấy hôm thì về. Đợi mẹ đi xa rồi, hãy nói cho nó biết duyên do, và bẩm với ông nội con hay là được.”

Cạnh nhà có bà lão quen biết từ lâu, tức là bà lão tôi đến thuê nhà tránh nóng khi trước đã kể, xin đi tiễn chân đến tận làng, nên khi ấy cũng ngồi bên, cứ lau nước mắt mãi không thôi. Sắp đến canh năm, cùng ăn chút cháo nóng lót dạ. Vân gượng cười bảo: “Xưa, một chén cháo mà tụ hội, nay một chén cháo mà chia ly, nếu viết thành câu chuyện truyền kỳ, có nhẽ lấy tên là Truyện ăn cháo được.” Phùng Sâm nghe tiếng cũng trở dậy, hỏi vẻ ngái ngủ: “Mẹ làm gì vậy?” Vân nói: “Mẹ sắp đi đến thày lang ấy mà.” Phùng Sâm nói: “Sao mẹ dậy sớm thế?” Vấn đáp: “Đường xa lắm. Con với chị cứ ở yên nhà, chớ có quấy bà nội. Mẹ với cha con cùng đi, mấy ngày sẽ về thôi.”

Gà gáy ba bận, Vân nuốt lệ đỡ bà lão, mở cửa sau chực bước ra, thì Phùng Sâm bỗng khóc vang lên: “Hu hu, mẹ không về nữa rồi!” Thanh Quân sự có người nghe thấy, vội vàng bịt miệng nó lại dỗ dành. Lúc bấy giờ, hai người chúng tôi đều như cắt từng khúc ruột, chẳng thể nói thêm được câu gì, chỉ biết ngăn nó bảo “Đừng khóc nữa” mà thôi. Thanh Quân đóng cửa lại rồi, Vân ra ngõ được hơn chục bước thì đã mệt nhọc không thể đi nổi, phải bảo bà lão cầm đèn, để tôi cũng đi tiếp. Sắp đến chỗ thuyền đậu, thì suýt bị phu tuần giữ lại, may mà có bà lão nhận Vân là con gái đang bị ốm, còn tôi là con rể, lại được những người trên thuyền đều là người làm công của nhà họ Hoa, nghe tiếng chạy tới giúp cùng đỡ nhau xuống thuyền. Thuyền nhổ sào đi rồi, Vân mới đau đớn khóc ròng. Chuyến đi ấy, rồi thành ra mẹ con vĩnh quyết!

Họ Hoa, tên là Đại Thành, ở núi Đông Cao, Vô Tích. Nhà dựng đối diện với núi, sống bằng nghiệp canh nông vốn là người thật thà chất phác. Vợ là Hạ thị, tức là chị kết nghĩa của Vân vậy. Hôm ấy, độ giờ ngọ, giờ mùi, thì chúng tôi mới tới nhà họ Hoa. Hoa phu nhân đã tựa cửa đứng đợi sẵn, đem theo hai con gái nhỏ tới thuyền, cùng gặp nhau mừng rỡ, đỡ Vân lên bờ, ân cần khoản đãi. Đàn bà trẻ con bốn xung quanh hàng xóm cũng í ới gọi nhau kéo sang, vây quanh Vân mà xem, người thì hỏi han, người thì thương cảm, nghiêng đầu ghé tai, ồn ã cả nhà. Vân nói với Hoa phu nhân: “Hôm nay thật chả khác gì ngư phủ lực chốn đào nguyên vậy!” Hoa thị nói: “Muội đừng cười, người quê thấy ít, nên là nhiều như vậy đó.” Từ bấy cùng nhau yên ổn ở đó qua năm mới.

Đến Nguyên tiêu, mới cách hai chục ngày mà Vân đã dần có thể trở dậy đi lại được. Tối ấy, xem long đăng (Long đăng: dùng đèn lồng kết thành hình rồng mà múa, rước, gọi là “long đăng”) trên ruộng mạch, tinh thần sắc diện của Vân đã dần hồi phục như trước, tôi mới thấy yên lòng. Tôi nói riêng với Vân: “Ta ở đây không phải là kế lâu dài, mà muốn đi chỗ khác lại không đủ tiền, biết làm thế nào?” Vân nói: “Thiếp cũng đã trù tính rồi. Anh rể chàng là Phạm Huệ Lai hiện đang làm kế toán trong dinh coi việc muối ở Tĩnh Giang, mười năm trước từng vay chàng mười lạng bạc, khi ấy trong nhà không đủ số tiền ấy, thiếp phải đem cầm cành hoa lấy tiền gom vào, chàng có nhớ không?” Tôi đáp: “Quên rồi.” Vân nói: “Nghe đâu Tĩnh Giang cách đây cũng không xa, hay chàng tới đó một phen.” Tôi bèn theo như lời.

 

Tiết trời khi ấy đã ấm lắm, mặc áo vải ngắn, khoác áo choàng nhung, đã cảm thấy nóng. Bữa ấy là ngày mười sáu tháng Giêng năm Tân Dậu(Tức năm 1801). Tối đó tôi nghỉ lại quán trọ ở Tích Sơn, thuê một tấm chăn mà nằm. Sáng sớm trở dậy, đi đò dọc Giang Âm, suốt chặng đường thuyền ngược gió, rồi lại mưa phùn. Tối thì đến cửa sông Giang Âm, cái lạnh đầu xuân thấu tận xương tủy, phải mua rượu uống cho đỡ rét, trong túi sạch nhẵn. Trù trừ cả đêm, đang tính cởi áo ngoài ra cầm lấy tiền mà qua sông.

Ngày mười chín, gió bắc càng mạnh, tuyết rơi thêm dày, tôi không ngăn được nỗi thảm sầu mà rơi nước mắt, thầm tính tiền phòng trọ, phí sang đò, mà không dám uống rượu nữa. Đang khi lòng lạnh chân run, bỗng nhiên trông thấy một lão ông, đi dép cỏ áo tơi nón lá, khoác cái túi màu vàng vào quán, đưa mắt nhìn tôi, tựa hồ “Ông chẳng phải là họ Tào ở Thái Châu đó ư?” Ông lão đáp: “Chính phải. Tôi mà không có ngài, thì đã chết dấp ở nơi ngòi rãnh rồi vậy! Giờ, tiểu nữ đã được yên lành, vẫn nhắc đến công đức của ngài luôn. Chẳng ngờ hôm nay lại được gặp nhau, làm sao ngài lại ở chỗ này?” Số là khi tôi còn trong mạc phủ ở Thái Châu, có họ Tào, vốn người nghèo hèn, sinh được một người con gái có nhan sắc, đã hứa gả cho người ta. Có kẻ thế lực đem tiền cho vay, nhằm mưu chiếm người con gái ấy, đến nỗi kiện tụng lên công đường. Tôi có điều đình bảo vệ giúp trong việc ấy, khiến người con gái vẫn gả được cho người đã hứa hẹn. Họ Tào bèn tới cửa công đường dập đầu tạ ơn, xin làm phục dịch, cho nên biết nhau. Tôi đem chuyện đến nhà người thân, nhưng gặp khi tuyết lớn ngăn trở kể lại cho nghe, lão Tào nói: “Ngày mai trời tạnh, tôi sẽ tiện đường đưa ngài đi.” Lại bỏ tiền mua rượu, khoản đãi chu đáo vô cùng vui vẻ.

Ngày hai mươi, chuông sớm vừa mới gióng, đã nghe thấy tiếng gọi đò ngoài cửa sông, tôi giật mình tỉnh giấc, gọi lão Tào cùng sang đò. Lão Tào nói: “Không cần vội, ăn no đã rồi hãy lên thuyền.” Rồi bèn trả giúp cho tôi cả tiền phòng tiền cơm, mà kéo tôi ra mua đồ ăn. Tôi vì đã phải đậu lại mấy hôm, sốt ruột muốn sang sông, ăn không nuốt nổi, chỉ gắng gượng nhai hai cái bánh vừng. Tới khi lên thuyền, gió sông buốt như tên đâm, tứ chi run bần bật. Lão Tào nói: “Nghe đâu Giang Âm có người treo cổ ở Tĩnh Giang, vợ ông ta thuê thuyền này tới đó, tất phải đợi người thuê đến thì mới đi được.” Thế là tôi bụng rỗng chịu rét, đến giờ ngọ thuyền mới nhổ sào. Tới được Tĩnh, thì khói chiều đã mờ mịt bốn bề vậy.

Lão Tào nói: “Ở Tĩnh Giang có hai công đường, chỗ ngài muốn tới là ở trong thành, hay ở ngoài thành?” Tôi loạng choạng theo sau, vừa đi vừa đáp lời: “Thật không biết là ở trong hay ngoài nữa.” Lão Tào nói: “Thế thì tạm dừng lại nghỉ đã, ngày mai hãy tới hỏi vậy.” Vào quán trọ, giày tất đã bị bùn đất ướt bẩn cả, phải kêu lửa mà hong. Ăn uống láo nháo, rồi mệt quá ngủ lịm đi. Đến sáng sớm trở dậy, thì tất đã cháy mất một nửa, lão Tào lại trả tiền trợ tiền cơm giúp cho.

Hỏi thăm đến trong thành, thì Huệ Lai vẫn còn chưa dậy, nghe nói tôi đến, khoác áo đi ra, trông thấy bộ dạng tôi, kinh hãi bảo: “Cậu làm sao mà tả tơi ra thế?” Tôi nói: “Anh tạm chớ hỏi, có bạc trắng cho em mượn trước hai đồng, để biếu cho người đưa đi đã.” Huệ Lai lấy hai đồng bạc nước ngoài(Chỉ đồng bạc của nước ngoài được mang vào Trung Quốc khi ấy, chủ yếu là tiền Tây Ban Nha) đưa cho, tôi lập tức đem biếu lão Tào. Lão hết sức chối từ, chỉ nhận một đồng rồi đi.

Tôi bèn thuật lại những chuyện mình đã gặp phải, và nói rõ ý định đến đây của mình. Huệ Lai nói: “Cậu là người chí thân, dù cho không có món nợ cũ, cũng phải nên tận lực và giúp. Song hiện giờ, có thuyền muối vượt bể vừa bị cướp, nên hiện đang phải kết toán sổ sách, tôi không thể lấy tạm ra mà giúp cậu nhiều được, trước mắt cố gắng gom lấy hai mười đồng bạc nước ngoài coi như trả nợ cũ tôi vay của cậu, có được không?” Tôi vốn cũng không mong muốn gì nhiều, bèn bằng lòng. Ở lại đó hai ngày, trời đã ấm tạnh, tôi bèn tính đường ra về.

Ngày hăm nhăm thì về đến nhà họ Hoa. Vân hỏi: “Chàng gặp tuyết chăng?” Tôi kể lại nỗi khổ sở cho hay, Vân buồn thảm nói: “Bữa có tuyết, thiếp cứ nghĩ chàng đã tới được Tĩnh Giang rồi, hóa ra vẫn còn bị kẹt lại ở cửa sông. May mà gặp ông Tào, chết đuối vớ được Cục, đúng thực là ở hiền gặp lành vậy.” Qua mấy hôm, thì nhận được thư của Thanh Quân, mới biết Phùng Sâm đã được Ấp Sơn giới thiệu vào một tiệm buôn. Tẫn Thần cũng đã thỉnh mệnh cha tôi, chọn ngày hôm tự tháng Giêng sẽ đến đón Thanh Quân về bên nhà. Chuyện của con cái, coi như thế là tạm ổn, nhưng chia lìa đến vậy, khiến ai cũng thấy thảm thương vậy.

 

Đầu tháng Hai, gió êm nắng ấm, tôi lấy số tiền từ món nợ thu được ở Tĩnh Giang, chuẩn bị một ít hành trang gọn nhẹ, đến thăm người bạn cũ là Hồ Khẳng Đường ở sở muối Hàn Giang. Có các ông lo việc ở Cổng cục(Cống cục: nha môn lo giữ việc tô thuế xưa) cùng nhau mời tôi vào cục, lo giúp việc bút mực, từ bấy giờ thân tâm mới hơi yên định lại được.

Đến năm sau, là năm Nhâm Tuất, tháng Tám, tôi nhận được thư Vân nói: “Thiếp bệnh đã khỏi hẳn rồi, chỉ có điều ăn nhờ ở đậu nhà người chẳng phải thân chẳng phải hữu, rốt cuộc không phải là kế lâu dài, xin cho thiếp cũng đến Hàn Giang, để được thăm danh thắng Bình Sơn.” Tôi bèn mướn một căn nhà hai gian buồng kề bên sông, ở ngoài cửa Tiên Xuân, Hàn Giang, rồi tự mình đến nhà họ Hoa đón Vân cùng đi. Hoa phu nhân tặng cho một đứa ở tên gọi A Song, để giúp đỡ việc bếp núc. Lại ước hẹn sau này cùng về làm hàng xóm với nhau. Khi ấy đã là tháng Mười, núi Bình Sơn còn lạnh lẽo, chúng tôi cùng hẹn đến mùa xuân sẽ lên chơi, trong lòng tràn đầy hy vọng rằng sẽ thư thái điều dưỡng cho khỏe, rồi dần dà tính đến chuyện cốt nhục đoàn viên. Chưa đầy một tháng, thì bỗng các chân lo việc ở Cổng cục phải cắt giảm đi mười lăm người. Tôi thuộc hạng bạn của bạn, vì vậy bèn bị cho nghỉ việc.

Vân mới đầu còn tìm trăm phương ngàn kế tính toán giúp tôi, gượng vui an ủi, chưa từng oán trách chút nào. Đến tháng giữa xuân năm Quý Hợi, thì bỗng bệnh khí huyết lại bộc phát. Tôi định rằng lại đến Tĩnh Giang, nhờ anh rể giúp, Vân nói: “Nhờ họ hàng chẳng bằng nhờ bè bạn!” Tôi nói: “Cậu ấy tuy phải, thân hữu tuy quan tâm, nhưng hiện cũng đều mất việc ở không, tự lo cho mình còn không xong.” Vân bảo: “May mà khí trời đã ấm, đường đi nhẽ không còn phải lo mưa tuyết ngăn trở, mong chàng đi nhanh về nhanh, bệnh của thiếp không cần phải lo nghĩ. Nếu như sức khỏe chàng có điều bất ổn, thì tội thiếp lại càng nặng vậy.”

Lúc ấy trong nhà củi gạo đã đứt bữa, tôi giả vờ rằng thuê con la để đi cho Vân an lòng, nhưng thực chỉ cho mấy cái bánh khô vào túi đi bộ, vừa đi vừa ăn. Tôi nhằm hướng đông nam mà dấn bước, hai lần qua sông Xoa Hà, đi ước tám, chín mươi dặm, trông ra bốn bề chẳng có làng mạc gì cả. Đến độ canh một, chỉ thấy cát vàng mờ mịt, sao sáng chập chờn, có một ngôi miếu thổ địa, cao độ hơn năm thước, tường thấp vây quanh, trồng hai cây bách. Tôi bèn khấu đầu trước thần mà khấn rằng: “Thẩm mỗ ở Tô Châu, đến nhà họ hàng chẳng may lạc đường đến đây, muốn ngủ nhờ lại miếu thờ ngài một tối, xin ngài thương tình mà phù hộ cho.” Rồi bèn xê cái lư hương nhỏ bằng đá sang một bên, lách mình ghé vào, miếu nhỏ chỉ đủ nửa người. Tôi cái mũ úp lên mặt, ngồi nửa người vào trong, thò hai chân ra ngoài, nhắm mắt lắng nghe, chỉ có tiếng gió xào xạc mà thôi. Chân mỏi người mệt, bất chợt ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Kịp đến khi tỉnh dậy, thì hừng đông đã sáng. Bên ngoài tường thấp chợt có tiếng bước chân cùng tiếng người trò chuyện, tôi vội ra nhìn xem, thì hóa ra là người địa phương đi chợ ngang qua đó. Tôi hỏi thăm đường, họ nói: “Đi về phía nam mười dặm thì đến huyện thành Thái Hưng, xuyên qua thành đi về hướng đông nam, cứ mười dặm thì có một ụ đất, qua tám ụ như thế thì tới Tĩnh Giang, đường đều to rộng dễ đi.”

Tôi bèn trở lại, đặt lư hương về nguyên vị, khấu đầu tạ ơn thần rồi đi. Qua Thái Hưng thì có xe nhỏ có thể nhờ đi. Tới giờ thân thì tới Tĩnh Giang, đưa danh thiếp vào xin gặp. Hồi lâu, người canh cửa ra bảo: “Ông Phạm có việc công đã đi Thường Châu rồi.” Nghe lời nói điệu bộ có vẻ như thoái thác, tôi hỏi lại rằng: “Hôm nào thì ông ấy về?” Người ấy đáp: “Không biết.” Tôi nói: “Dù là một năm tôi cũng sẽ đợi.” Người canh cửa hiểu ý tôi, hỏi riêng rằng: “Ông là cậu em ў ruột của vợ ông Phạm hả?” Tôi nói: “Không phải em ruột thì tôi đã chẳng đợi ông ấy về làm gì.” Người canh cửa nói: “Thế ông cứ tạm đợi đi vậy.” Qua ba ngày, thì tôi được báo Phạm Huệ Lai đã về Tĩnh Giang. Cuối cùng vay được cả thảy hai mươi lăm lạng bạc.

Tôi thuê con la vội vã chạy về, trông thấy Vân hình dong thê thảm, đang nước mắt sụt sùi. Thấy tôi về, thốt nhiên Vân bảo: “Chàng có biết, trưa qua A Song đã cuốn gói bỏ trốn rồi không? Thiếp đã nhờ người tìm kiếm khắp nơi, nhưng đến nay vẫn chưa tìm thấy. Mất đồ là chuyện nhỏ, chứ người thì mẹ nó trước lúc đi đã dặn dò nhờ vả mấy lần. Nay nếu nó trốn về, giữa đường phải qua sông lớn, đã đáng lo ngại lắm rồi. Giả như cha mẹ nó lại giấu con mưu đồ gian trá, thì biết làm sao? Hơn nữa, còn mặt mũi nào mà gặp chị kết nghĩa của thiếp nữa?” Tôi bảo: “Không phải sốt ruột, nàng đã lo nghĩ quá rồi. Giấu con mưu đồ gian trá, thì phải mưu trá với nhà giàu có, chứ ai mưu đồ với vợ chồng mình chỉ hai bàn tay trắng thế này. Huống chi, từ khi chúng ta đem nó theo đến nay nửa năm, nhường Cơm xẻ áo, chưa từng đánh mắng bao giờ, hàng xóm láng giềng đều biết cả. Chuyện này thực là đứa tớ nhỏ táng tận lương tâm, thừa lúc chủ nguy nan mà trộm cắp bỏ trốn. Chị kết nghĩa nhà họ Hoa tặng ta đứa trộm cắp, thì chị ấy không có mặt mũi nào gặp nàng, chứ nàng làm sao lại nói là không có mặt mũi nào gặp chị ấy? Bây giờ, nên một mặt trình quan huyện lập án, để ngăn hậu họa sau này là được rồi.”

Vân nghe tôi nói, ý chừng cũng hơi an lòng. Nhưng từ đó, ngủ mơ nói nhảm, khi thì kêu “A Song trốn rồi”, lúc thì kêu “Sao Hàm phụ ta”, mà bệnh tình cũng ngày một nặng thêm.

Tôi muốn mời thầy lang chẩn trị, nhưng lần ngăn bảo: “Bệnh thiếp vốn ban đầu là vì chuyện em đi, mẹ mất, khiến đau buồn quá đỗi, kế đến là vì tình cảm, sau nữa lại bởi phẫn uất, mà thường ngày lại hay lo lắng quá, vốn mong muốn gắng sức làm một người dâu tốt mà không thể được, dẫn đến các chứng chóng mặt hoa mắt, hồi hộp đau tim đều mắc phải cả, chính như người ta nói “bệnh nhập cao hoang, lương y thúc thủ, xin chàng chớ làm việc hoang phí vô ích nữa. Nhớ lại thiếp đã cùng chàng phu xướng phụ tùy hai mươi ba năm, được chàng yêu thương, trăm phần thông cảm, không vì xấu nết cứng đầu mà ruồng bỏ. Được một người chồng tri kỷ như chàng, thì đời này thiếp đã không còn nuối tiếc gì nữa. Ấm áo vải, no Cơm rau, một nhà vui vẻ, rong chơi tuyền thạch như những cảnh ở đình Thương Lang, lầu Tiêu Sáng, ấy thực là thần tiên giữa cõi trần rồi vậy. Thần tiên biết tu mấy đời mới có thể thành được, chúng ta là người thế nào, mà dám mong được như thần tiên thế? Nếu cứ cưỡng cầu, tất khiến tạo vật đố kị, mà xui ra giống tình ma quấy nhiễu. Thảy đều bởi chàng quá đa tình, mà thiếp thì bạc mệnh vậy!”

Rồi Vân lại nghẹn ngào bảo: “Đời người trăm năm, chung quy đều phải một lần chết. Nay giữa đường phải lìa nhau, bỗng nhiên li biệt mãi, chẳng thể trọn đời quét dọn hầu chàng, mà được thấy Phùng Sâm lấy vợ, lòng này thực canh cánh khôn nguôi.” Nói xong, nước mắt sa xuống như mưa. Tôi gắng gượng an ủi bảo: “Nàng ốm đã tám năm, những khi thoi thóp tưởng chết cũng đã nhiều, hôm nay làm sao bỗng lại nói những câu đoạn trường như thế?” Vân nói: “Mấy hôm liền thiếp nằm mơ thấy cha mẹ mình dong thuyền lại đón, nhắm mắt lại thì lại thấy thân thể bồng bềnh, như đi trên mây trên khói, có phải là hồn đã lìa chỉ còn thân xác đó chăng? Tôi bảo: “Đó là tâm thần thất tán, uống mấy thang thuốc bổ, tĩnh tâm điều dưỡng, tất sẽ yên khỏi thôi.”

Vân lại than thở bảo: “Thiếp mà có một chút sinh cơ mảy may nào, thì nhất định không dám nói những câu khiến chàng lo sợ. Nay đường xuống âm ti đã gần, nếu mà không nói thì chẳng còn khi nào để nói nữa. Khiến chàng phải mất lòng cha mẹ, bôn ba lăn lộn, đều là vì thiếp. Thiếp chết đi rồi, thì tấm lòng song thân tự có thể vãn hồi, chàng cũng có thể khỏi phải đeo đẳng nữa. Song thân tuổi tác đã cao, sau khi thiếp chết, chàng nên sớm trở lại nhà. Nếu như không thể đem hài cốt thiếp về cùng, thì cứ tạm ký táng ở đây đợi sau này sẽ tính cũng chẳng sao. Mong chàng tìm lấy một người khác có đủ đầy dung đức, để phụng dưỡng song thân, chăm lo cho con trai của thiếp, thì thiếp có chết cũng được nhắm mắt vậy!” Nói đến đó, thì đau đớn tưởng đứt từng khúc ruột, bất giác bật khóc thảm thiết.

Tôi nói: “Nếu như nàng quả giữa đường lìa bỏ nhau, thì nhất định ta không có lẽ gì mà tái tục nữa. Huống chi, 'Đã qua biển biếc, đâu là nước; Trừ chốn non Vu, chẳng phải mây.”(Nguyên văn: Tằng kinh thương hải nan vị thủy; Trừ khước Vụ sơn bất thị vân, đây là hai câu trong bài thơ Li tư của Nguyên Chẩn đời Đường, ý nói: từng thấy nước biển lớn, thấy mây non Vu rồi thì chẳng còn nước ở đâu, mây ở đâu đáng gọi là nước là mây nữa, ý rằng không thấy ai bằng vợ mình cả) Vân bèn nắm tay tôi, dường muốn nói thêm điều gì nữa, nhưng chỉ lắp bắp nói đứt đoạn được hai chữ “kiếp... sau”, rồi bỗng nhiên thở dốc, cấm khẩu, hai mắt mở to, dù muôn hố ngàn gọi cũng đã không thể nói được nữa. Chỉ thấy huyết lệ hai hàng, đầm đầm tuôn chảy, rồi đó hơi thở dần nhỏ, nước mắt dần khô, linh hồn phiêu diêu, rốt ra đi mãi mãi. Khi ấy là ngày ba mươi tháng ba năm Quý Hợi niên hiệu Gia Khánh. (Tức năm 1803)

Đương khi ấy, tôi một đèn một bóng, nhìn quanh không có ai thân thích, hai bàn tay trắng, tấc lòng tưởng chừng vỡ vụn. Dằng dặc hận này, làm sao lại đến cực độ như vậy! Nhờ có người bạn là Hồ Tỉnh Đường giúp cho mười lạng bạc, tôi cũng dốc hết những gì còn lại trong nhà ra, bán sạch sành sanh, để lo việc tang cho Vân.

Ôi chao! Vân chỉ là một người con gái, nhưng lại có tấm lòng cùng tài năng hiểu biết như một bậc nam nhi. Sau khi về nhà tôi, tôi hàng ngày bôn tẩu lo cái ăn cái mặc, ăn uống thiếu thốn, nhưng vẫn đều có thể tính liệu chu toàn không lo ngại gì. Kịp khi tôi ở nhà, chỉ biết đem chữ nghĩa bàn luận với nhau mà thôi. Bỗng đâu bệnh tật lưu li, mang hận mà chết, hỏi ai gây nên nông nỗi thế này? Tôi đã phụ lòng người lương hữu chốn buồng khuê, hỏi làm sao còn có thể xứng với đạo lý nữa! Xin có lời khuyên cho những vợ chồng trên thế gian, cố nhiên không được coi nhau như kẻ cừu thù, nhưng cũng chớ nên hết mực yêu thương nhau quá đỗi.

Ngạn ngữ có câu: “Ân ái phu thê chẳng rốt cùng”, chính như tôi đây, có thể coi là vết bánh xe đi trước làm gương vậy.

Đến ngày hồi sát, tục truyền vào ngày ấy linh hồn người chết sẽ theo trùng sát mà về, cho nên trong buồng phải bầy biện y như lúc người chết còn sinh tiền, phải xếp những quần áo cũ vẫn thường mặc của người chết lên giường, đặt hài cũ ở dưới giường, để cho hồn về nhìn xem. Vùng Ngô Hạ tương truyền gọi đó là “thu nhãn quang. Lại mời đạo sĩ đến làm phép, trước tiên mời hồn vào giường, rồi sau bảo đi, gọi là “tiếp sảnh”. Tục lệ ở Hàn Giang, phải bày rượu cùng đồ ăn trong buồng của người chết, rồi cả nhà tránh đi hết, gọi là “tị sảnh”. Vì thế mà có nhà trong khi “tị sảnh” bị trộm vào khoắng sạch.

Ngày “sảnh” của Vân, chủ nhà vì là cùng ở nên đi ra ngoài tránh. Hàng xóm bảo tôi bày đồ ăn xong cũng nên tránh xa đi. Tôi chỉ mong hồn phách nàng về để được một lần gặp gỡ, nên cứ ậm ừ không đáp. Có người đồng hương là Trương Vũ Môn can tôi rằng: “Chuyện nhân và nhập tà, anh cũng nên tin rằng có, chớ nên thử mà ở lại đấy.” Tôi nói: “Tôi sở dĩ không tránh mà ở lại đợi, chính là vì tôi tin rằng có chuyện ấy.” Trương lại nói: “Hồi sát nếu mình phạm phải trùng sát, sẽ chẳnglợi cho người sống. Dẫu hồn phu nhân có về, nhưng nghiệp đã âm dương cách biệt, chỉ e rằng chẳng thấy người muốn gặp đâu, mà lại vướng phải mũi dao của thứ nên tránh vậy.”

Khi ấy, tôi tâm si không hiểu, một mực đáp rằng: “Sống chết có mệnh. Nếu anh quả quan tâm lo lắng, thì đi cùng tôi được không?” Trương nói: “Tôi sẽ đứng canh ngoài cửa. Nếu anh thấy có sự lạ gì, cứ kêu lên tôi sẽ lập tức vào ngay.”

Tôi bèn cầm đèn vào buồng, thấy đồ dùng bày biện y nguyên, mà người thì âm dung mờ mịt, chẳng thể ngăn nổi đau lòng rơi lệ. Lại e là mắt lệ nhòe mờ, không nhìn thấy được gì, mới nén nước mắt mở to hai mắt, ngồi xuống giường đợi. Đưa tay ve vuốt những y phục của Vân khi xưa còn để lại, thấy sắc áo còn tươi, mùi hương phảng phất, tôi bất giác quặn đứt trong lòng, tối sầm trước mắt mà mê đi. Chợt nghĩ mình đến đây để đợi linh hồn Vân trở về, làm sao lại bỗng ngủ mê đi thế này? Mở mắt nhìn ra bốn xung quanh, thấy trên bàn có hai ngọn nến lửa xanh leo lét, sáng nhỏ như hạt đậu, chợt sởn da dựng tóc, toàn thân lạnh toát run rẩy. Với xoa hai tay lau trán, chăm chú nhìn kĩ, thấy hai ngọn lửa dần bốc lên, cao đến cả thước, trần nhà dán giấy, suýt nữa thì bị thiêu rụi.

Tôi đang nhờ ánh sáng ấy mà nhìn khắp bốn xung quanh, thì ánh lửa đã thu nhỏ lại y như trước. Bấy giờ tim đập chân run, muốn gọi người canh ở bên ngoài vào xem, nhưng nghĩ hồn phách yếu ớt, e là bị khí thịnh dương lấn át. Thầm gọi tên Vân mà khấn nguyện, nhưng buồng không tịch mịch, chẳng thấy một thứ gì nữa. Khoảnh khắc lửa nến lại sáng, không còn cao vụt lên nữa. Tôi ra, kể lại cho Vũ Môn nghe, Vũ Môn cũng phải phục tôi lớn mật, có biết đâu tôi thực chỉ là nhất thời tình si mà thôi. y

Sau khi Vân mất, nhớ đến câu “vợ là mai, con là học” của Hòa Tĩnh (Hòa Tĩnh: tức Lâm Bộ, tự Quân Phục, là nhà thơ đời Bắc Tống, từng ẩn cư ở Hàng Châu, không có vợ con, chỉ coi mai là vợ, hạc là con. Sau khi Lâm Bộ qua đời, được Tống Nhân tông ban thuy hiệu là Hòa Tĩnh tiên sinh) xưa, tôi bèn tự lấy biệt hiệu là Mai Dật, mua một ngôi đất, theo như lời di ngôn, tạm an táng Vân ở núi Kim Quế - tục gọi là Hác gia Bảo tháp - ở ngoài cửa tây, thành Dương Châu. Ôm bài vị về quê, mẹ tôi thấy cũng đau buồn thương tiếc. Thanh Quân, Phùng Sâm cũng về nhà khóc lóc phục tang. Khải Đường nói với tôi: “Cha vẫn còn chưa nguôi giận, anh nên trở lại Dương Châu, đợi khi cha trở lại nhà, em sẽ lựa lời khuyên giải, rồi gửi thư gọi anh về.”

Tôi bèn bái biệt mẹ già, chia tay con cái, đau đớn khóc than một hồi rồi trở lại Dương Châu, bán tranh độ nhật. Vì thế, lại thường luôn được đến mộ Vân mà khóc, hình đơn bóng chiếc, vô hạn thê lương. Ngẫu nhiên đi qua nơi ở cũ, lại mắt thảm lòng sầu. Tiết Trùng dương, các mộ bên cạnh cỏ đều úa vàng cả, duy mộ Vân cỏ vẫn xanh tươi. Người giữ mộ bảo: “Chỗ huyệt này tốt, nên địa khí còn vượng như thế.” Tôi thầm khấn rằng: “Gió thu đã gấp, mà thân ta chỉ có manh áo đơn, nếu nàng có thiêng, xin phù hộ cho ta có một chỗ làm, qua đận cuối năm này, để đợi tin tức quê nhà.”

Không bao lâu, thì có người mạc khách ở Giang Đô là Chương Ngự Am tiên sinh muốn về Triết Giang lo việc tang cho thân nhân, nhờ tôi giữ giúp công việc trong ba tháng, thế là tôi được đủ áo chăn khỏi rét. Đến khi công đường niêm phong nghỉ Tết, Trương Vũ Môn lại mời đến ở nhà ông ấy. Trương cũng mất việc, Tết nhất khó khăn, bàn bạc với tôi, tôi bèn dốc hết túi lấy hai mươi lạng bạc cho mượn, bảo: “Số tiền này tôi vốn để chi dùng vào việc đưa linh cữu vong thế về quê, đợi đến khi nào có tin tức ở quê nhà tới, thì ông trả lại cho tôi là được.”

Năm ấy, tôi ở lại ăn Tết ở nhà Trương. Sớm mong chiều ngóng, mà quê nhà âm tín vẫn tuyệt không. Đến tháng Ba, năm Giáp Tý, thì tiếp được thư của Thanh Quân, mới biết tin cha tôi bị bệnh, tôi muốn về Tô Châu ngay, nhưng lại sợ làm ông tức giận. Đang khi còn chần chừ trông ngóng, thì lại nhận được thư của Thanh Quân, mới đau đớn biết rằng cha tôi đã dứt nghiệp trần mà tạ thế rồi. Tôi đau lòng buốt tủy, kêu trời chẳng thấu, không có thời gian nghĩ gì khác nữa, lập tức đi ngày đêm về nhà, dập đầu trước linh sàng, kêu khóc đến rỏ máu.

Cha tôi một đời vất vả, bôn tẩu ở ngoài. Sinh được tôi lại là đứa con chẳng ra gì, đã ít chăm nom dưới gối, lại không hầu thuốc bên giường, cái tội bất hiếu ấy, trốn làm sao được! Mẹ trông thấy tôi, khóc bảo: “Sao con đến hôm nay mới về?” Tôi đáp: “Con biết mà về là may nhờ nhận được thư của cháu Thanh Quân vậy.” Mẹ đưa mắt nhìn đứa em dâu tôi, rồi lặng im không nói gì nữa.

Tôi ở nhà thủ tang đến hết tuần đầu, mà rốt chẳng một ai đem việc nhà nói với mình, đưa việc tang bàn với mình cả. Thầm nghĩ, mình chẳng trọn đạo làm con, cho nên cũng chẳng mặt mũi nào mà hỏi ai về chuyện ấy.

Một hôm, bỗng có một toán người đến đòi nợ, vừa vào cửa liền lên giọng to tiếng gọi tôi. Tôi ra tiếp lời, bảo: “Thiếu nợ không trả, cố nhiên phải đòi, nhưng cha tôi nằm đó xác còn chưa lạnh, nhân khi nhà người ta có chuyện tại hung mà đến gọi đòi, chẳng phải là làm quá lắm ư?” Trong số ấy có một người bảo riêng tôi rằng: “Chúng tôi có người gọi bảo đến đây, ông hãy tạm tránh ra, để chúng tôi đòi tiền người gọi chúng tôi đến.” Tôi nói: “Tôi nợ thì tôi trả, các ông mau về đi.” Bọn họ đều vâng dạ rồi đi.

Tôi nhân gọi Khải Đường ra, nói với nó rằng: “Anh tuy không ra gì, nhưng cũng chưa từng vô cớ làm ác. Nếu như nói anh đã đi ăn thừa tự rồi, tang chế phải giáng bậc (Thẩm Phục được cho thừa tự người bác mình. Theo tang chế xưa, người con nào đã ra thừa tự chú, bác, thì chịu tang cha mẹ giáng một bậc theo như hàng cháu), thì trước nay anh chưa từng được mảy may tơ hào của thừa tự gì. Lần này về chịu tang cha, vốn là cái đạo làm con phải thế, chứ há lại là vì về để tranh giành tài sản đâu? Đại trượng phu quý ở chỗ tự lập lấy mình, anh đã tay không về đây, sẽ lại tay không ra đi vậy!” Tôi nói xong, quay vào trong trường, không ngăn được bật khóc lên thành tiếng. Khấu đầu từ biệt mẹ, lại đến nói cho Thanh Quân biết, rằng sẽ vào non sâu, tìm Xích Tùng Tử (Tương truyền là một vị tiên đời xưa) lánh khỏi cõi đời vậy.

 

Thanh Quân đang khuyên ngăn, thì hai anh em người bạn tôi là Hạ Nam Huân tự Đạm An, và Hạ Phùng Thái tự Ấp Sơn theo sau chạy đến nơi, lớn tiếng khuyên can rằng: “Gia đình mà như thế, cố nhiên khiến người ta phải phẫn hận, nhưng túc hạ tuy cha mất song mẹ vẫn còn, vợ chết mà con chưa lập, nay rốt lại định tiêu diêu xuất thế, có an tâm được chăng?” Tôi nói: “Vậy biết làm sao đây?” Đạm An nói: “Xin hãy tạm thời hạ cố đến ở tệ xá. Nghe nói ông Điện soạn (Điện soạn: Đời Minh, đời Thanh, các vị Trạng nguyên đều được trao chức Hàn lâm viện tu soạn, nên người ta cũng gọi Trạng nguyên là Điện soạn) Thạch Trác Đường vừa có thư xin nghỉ phép về quê, hãy ở chỗ tôi đợi đến khi ông ấy về thì cùng đến thăm một thể, ông ấy tất có cách bố trí một chân nào đó cho ông.” Tôi nói: “Tôi đang khi có tang còn chưa qua trăm ngày, mà các anh trong nhà còn có cha già, tôi đến e rất không tiện.” Áp Sơn. nói: “Ngu huynh đệ mời túc hạ lại nhà, cũng chính là ý của cha vậy. Nếu như túc hạ cứ giữ ý cho là bất tiện, thì ở mé tây lân cận có ngôi chùa, thầy phương trượng vốn rất thân thiết với tôi, kê một chỗ nằm cho túc hạ đến ở trong chùa, có được chăng?” Tôi bèn đồng ý.

Thanh Quân nói: “Gia sản ông nội con để lại, chẳng dưới ba, bốn ngàn lạng, cho dù chẳng lấy một phân một hào nào, nhưng hồ dễ đến hành lý cũng vứt bỏ cả hay sao? Con sẽ đến lấy, rồi mang thẳng tới chùa cho cha có được không?” Vì thế mà ngoài đồ hành lý của mình, Thanh Quân còn đem cho tôi cả mấy món tranh ảnh sách vở, ống bút, nghiên mực mà cha tôi để lại.

Sư chùa bố trí cho tôi ở trên gác Đại Bi. Gác quay hướng nam, phía đông đặt tượng Phật, cách đầu phía tây một gian, trổ cửa sổ ngắm trăng, đối diện trước gian thờ Phật, vốn là chỗ để những người làm Phật sự dùng trai thực, tôi bèn kê chỗ nằm ở đó. Trước cửa có tượng Quan Thánh đứng cầm đao, cực kỳ uy vũ. Trong sân có một cây ngân hạnh, lớn tới ba người ôm, bóng trùm hết cả căn gác, đêm yên tĩnh tiếng gió nghe như gầm thét.

Ấp Sơn thường đem rượu quả đến cùng đối ẩm, bảo: “Túc hạ một mình ở đây, đêm khuya không ngủ, có thấy sợ không?” Tôi nói: “Kẻ hèn này cả đời ngay thẳng, trong tâm không có uế niệm, có gì mà phải sợ?” Ở đó chưa bao lâu, thì có cơn mưa lớn như trút nước, hết ngày lại đêm, suốt hơn ba mươi hôm, tôi lúc nào cũng lo cây ngân hạnh gãy cành đà vào nóc gác. May nhờ thần linh phù hộ, rốt cuộc tôi cũng được bình yên vô sự. Trong khi ở ngoài phố, những nhà bị ở đổ tường sụp mái không thể đếm hết được bao nhiêu, những ruộng lúa ở gần đó cũng đều bị cuốn trôi hết sạch. Tôi thì ngày ngày chỉ cùng vẽ tranh với tăng nhân, chẳng nghe chẳng thấy gì hết.

Đầu tháng Bảy, trời mới tạnh. Cha của Ấp Sơn hiệu là Thuần Hương có việc buôn bán đến Sùng Minh, gọi tôi đi cùng để lo giúp việc sổ sách giấy tờ, được hai chục lạng bạc. Đến khi về, thì vừa kịp sắp đến ngày an táng cha tôi. Khải Đường sai Phùng Sâm đến bảo tôi rằng: “Chú vì việc tang của ông nên không đủ tiền chi dụng, muốn cha giúp cho một, hai chục lạng bạc.” Tôi định dốc hết túi ra đưa, nhưng Ấp Sơn không cho, chia lại một nửa. Tôi bèn dẫn Thanh Quân đến nơi đặt mộ trước. An táng cho xong xuôi, tôi lại quay về gác Đại Bi.

Thi Cuối tháng Chín, Ấp Sơn có ruộng ở bãi Vĩnh Thái, Đông Hải, lại kêu tôi cùng đi đến đó thu hoa lợi. Vất vả hai tháng, đến khi trở về thì đã cuối đông, tôi dời vào ngụ ở Tuyết Hồng tháo đường trong nhà qua Tết. Thực là người cốt nhục khác họ vậy.

Tháng Bảy năm Ất Sửu, (Tức năm 1805) Trác Đường mới từ kinh đô về tới làng. Trác Đường tên là Uẩn Ngọc, tự Chấp Như - Trác Đường là tên hiệu vậy - vốn giao du với tôi từ thuở bé, đậu Trạng nguyên năm Canh Tuất niên hiệu Càn Long (Tức năm 1790), được ra làm Quận thú Trùng Khánh, Tứ Xuyên. Loạn Bạch Liên giáo, ông lo việc binh mã ba năm, rất có công lao. Kịp khi về, chúng tôi cùng gặp nhau vui lắm. Chớp mắt, đến tiết Trùng cửu, Trác Đường đưa cả gia quyến lại tới nơi nhậm chức ở Trùng Khánh, Tứ Xuyên, mời tôi cùng đi. Tôi lập tức đến từ biệt mẹ ở chỗ nhà người em rể lấy cửu muội của tôi là Lục Thượng Ngô, vì nhà cũ của cha tôi đã về tay người khác rồi. Mẹ tôi dặn bảo: “Em trai con không thể trông cậy gì được, chuyện này con đi nên gắng sức. Chấn hưng lại tiếng tăm nhà ta, giờ chỉ trông chờ vào con đó!” Phùng Sâm tiên tôi đến nửa đường, bỗng rơi nước mắt khóc mãi không thôi, tôi đành bảo nó quay về không cần tiễn nữa.

Thuyền ra đến Kinh Khẩu, Trác Đường có người bạn cũ là Hiếu liêm Vương Dịch Phu hiện đang làm ở sở muối Hoài Dương, bèn vòng đến thăm, tôi cũng đi cùng, nên lại được đến thăm mộ Vân nương một bận. Thuyền quay lại, ngược dòng Trường Giang mà đi lên, dọc đường chơi thăm các nơi danh thắng. Đến Kinh Châu, Hồ Bắc, thì Trác Đường lại nhận được thư thăng lên làm Đồng Quan Quan sát, bèn để tôi ở lại với con trai của ông ấy là Đôn Phu cùng gia quyến tạm ngụ ở Kinh Châu. Còn Trác Đường thì đi ngựa cùng vài người tùy tòng đến Trùng Khánh, ăn Tết xong sẽ từ Thành Đô theo đường sạn đạo đến nơi nhậm chức.

Tháng Hai năm Bính Dần, gia quyến của Trác Đường mới theo đường thủy đến, tới Phan Thành thì lên bờ. Đường xa, phí lớn, xe nặng người nhiều, ngựa chết trục gãy, nếm đủ mùi vất vả. Đến được Đồng Quan thì đã vừa tháng Tư, Trác Đường lại thăng làm Liêm phỏng (Tức Án sát sứ) ở Sơn Tả (Tức Sơn Đông), quan lộ phơi phới. Quyến thuộc không thể cùng đi theo cả, phải mượn tạm Đồng Xuyên thư viện làm nơi cư ngụ.

Cuối tháng Mười, Trác Đường mới được chi tiền bổng của chức Liêm phỏng Sơn Tả, sai người đến đón thân quyến. Lại mang theo giúp cả thư của Thanh Quân gửi cho tôi, kinh hãi biết tin Phùng Sâm đã yểu vong tháng Tư vừa rồi! Mới hay, khi trước nó rơi nước mắt mà tiên tôi, ấy cũng là khi cha con vĩnh quyết vậy.

Ô hô! Vân chỉ có một đứa con trai, thế là đã không có người kế nối nữa! Trác Đường hay tin, cũng phải thở than hoài, rồi tặng cho tôi một người thiếp, khiến tôi lại bước vào một giấc mộng xuân. Từ đó rối rối bời bời, lại chẳng biết khi nào thì mộng tỉnh vậy. 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét