Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020

9. Vua Priam xin xác con


9. Vua Priam xin xác con như thế nào?

Tóm tắt lại một chút:
Achilles đi đánh thành Troy. Mất mát đầu tiên là bị đồng đội Agamemnon cướp người tình. Mất mát thứ hai là bị Hector, con vua Priam thành Troy, giết mất “bồ trai kiêm bạn thân” Patroclus.
Giận dữ, Achilles đi giết Hector rồi buộc xác Hector vào xe ngựa, kéo lê quanh thành.
Vua Priam phải đến xin xác con về.
*
Vua Priam chất đầy lễ vật lên xe rồi một thân một mình sang doanh trại của Achilles bên phía Hy Lạp.
Thần Zeus đã sai thần Hermes biến thành một chàng thanh niên đứng bên cổng doanh trại của Achilles đợi sẵn, đóng giả làm một lính hầu của Achilles.
Trước đó thần Hermes đã dùng chiếc đũa thần hóa phép khiến cho lính canh Hy Lạp ngủ mê mệt, rồi đưa vị vua già vào trong doanh trại.
Vào đến nơi, vị vua già tiến đến trước mặt Achilles – kẻ chỉ bằng tuổi con mình – quỳ xuống ôm lấy đầu gối chàng rồi nói trong nước mắt: “Hỡi người anh hùng Hy Lạp! Xin ngài hãy nhớ tới người cha của ngài, bởi ông ấy già cả như ta nhưng hạnh phúc hơn ta, vì ông ấy vẫn còn có ngài. Còn ta đã mất đi đứa con yêu quý, Hector. Ta đến đây, khẩn cầu ngài hãy kính trọng thần linh, nhận số lễ vật để trao trả thi hài của nó cho người cha già bất hạnh này. Ta là kẻ đáng thương, vì đã làm một việc mà không ai trên cõi đời này dám làm, đó là hôn bàn tay kẻ đã giết con mình!”
Lời nói của vị vua già thành Troy khiến Achilles vô cùng xúc động. Chàng đồng ý trao trả thi hài của Hector, đồng thời tuyên bố trong 10 ngày thành Troy làm lễ tang cho Hector, quân Hy Lạp sẽ đình chiến, không tấn công Troy.
Xác của Hector được đưa về Troy và được hỏa thiêu trong một lễ tang trọng thể. Di cốt của chàng được chôn dưới một nấm mồ đá. Hector chết, nhưng cuộc chiến Troy vẫn chưa kết thúc (còn con ngựa thành Troy nữa, bạn nhớ không?).

“Priam trong lều của Achilles”, 1695, của Francesco Solimena (1657- 1747), là một họa sĩ Ý vẽ rất nhiều, rất thành công, có rất nhiều đơn đặt hàng tranh tường, tranh cho nhà thờ; lại có một xưởng họa phình to thành như một học viện, với rất nhiều học trò đi theo trường phái Baroque La Mã mà ông theo đuổi. Tranh của Solimena có đặc điểm là ít những chi tiết cột, kèo, bậc thang…, mà tập trung vào các nhân vật và… vải vóc. Bức tranh nhỏ này (49 x 100cm) là một phác thảo bằng sơn dầu (còn gọi là bozzetto) cho một bức tranh lớn hơn (tuy nhiên bức tranh này về sau đã thất lạc!). Trong tranh, vua Priam (áo khoác đỏ) đang được một người dìu vào gặp Achilles. Bàn tay Achilles đưa ra lễ độ, không như ở một số bức của một số họa sĩ khác, thái độ Achilles rất…. đáng ghét. Nếu không được biết về kích cỡ thật của bức phác thảo này thì chắc không tài nào tưởng tượng được rằng nó lại khiêm tốn đến thế. Người ta có đầy đủ cảm giác khi đứng trước một bức tranh rất to Francesco Solimena thường được ca ngợi như một người vận dụng rất khéo léo màu sắc của bóng tối. Đối với lịch sử mỹ thuật, đó là một bước tiến.

“Vua Priam xin Achilles trả lại xác Hector” do họa sĩ Tân cổ điển Nga Alexander Ivanov vẽ năm 1824. Ivanov nổi tiếng nhất với kiệt tác “Chúa hiện ra trước dân chúng” mà ông phải mất 20 năm mới hoàn tất, nhưng tất cả các phác thảo cho bức tranh này cũng được liệt vào hàng… kiệt tác luôn. Trong bức “Vua Priam…” này, vẻ mặt của các nhân vật rất hay, từ sự lạnh lẽo, kiêu kỳ của Achilles, tới sự nén mình chịu nhún của vua Priam, rồi vẻ mặt dửng dưng bàn chuyện khác của những người đi theo Achilles…. Hãy để ý đến dải khăn trắng vắt trên cái bình đồng – một chi tiết rất nhỏ, tưởng như vô tình nhưng không thể thiếu: nó giống như một điểm chuẩn để cân bằng toàn bộ ánh sáng, bố cục và màu sắc trong bức tranh.

“Achilles và Priam”, vẽ năm 1876 của Jules Bastien-Lepage – họa sĩ người Pháp theo chủ nghĩa tự nhiên, sống vào thế kỷ 19. Mượn tích xưa để phô bày vẻ đẹp cơ thể là khuynh hướng của các họa sĩ theo trường phái này (?), nên Lepage vẫn cho Achilles khỏa thân trong một tình huống rất nên mặc quần áo. Bức này của Jules Bastien-Lepage không phải là một bức điển hình của ông. Có lẽ những bức thú vị hơn của ông là những bức vẽ các cô thôn nữ trên những cánh đồng cỏ. Bức này trông giống một bài học cơ bản. Dù thế nào, nó vẫn cho thấy tài nghệ của họa sĩ. Cái mà ông vẽ đạt nhất có lẽ là đám hòa sắc trắng, vàng với khuôn mặt của Priam. Còn nhân vật Achilles thì hơi nhựa, nhất là có cái đầu về tỉ lệ là hơi nhỏ so với thân. Hay là các anh hùng không cần nhiều óc, nhỉ?

“Achilles và Priam”, tranh không rõ của họa sĩ nào. Trông tranh như một bài tập để họa sĩ tập vẽ tư thế của thân thể. Phần hòa sắc trong bóng tối bị dính tịt vào nhau, trong khi đó ánh sáng của nền trời đằng sau lại quá mạnh, làm ảnh hưởng tới sự tập trung vào kịch tính trên khuôn mặt Priam. Cả mảng bụng tiếp giáp sườn Achilles là một sự thất bại, trông bè bè ra, dẹp lép. Hay bàn chân trái cũng thế, như teo tóp do phân bổ ánh sáng không tốt. Tuy nhiên vẻ mặt khó xử của Achilles lại rất hay.

“Achilles và Priam” của Alessandro Varotari (1588 –1649), thường hay được gọi là il Padovanino, là một họa sĩ Ý cuối trào của trường phái kiểu cách (manerism) và đầu trường phái Baroque. Ông bị ảnh hưởng nặng của Titian, về sau làm thêm nghề copy tranh của các danh họa Phục hưng. Trong tranh này có quá nhiều vải, mà họa sĩ lại không phải là người giỏi về vẽ vải. Trong nghệ thuật điêu khắc Hi Lap, các nếp vải được bố cục rất khéo để tôn lên cơ bắp và sự hoạt động của con người… Còn ở tác phẩm này, những nếp vải quá nặng nề, về màu sắc thì rời rạc, thiếu tự nhiên, hòa sắc không hoạt; ví dụ phần tối của áo choàng màu vàng vua Priam mặc chỉ là màu vàng được pha thêm chút tối để thành vàng đậm hơn, trong khi trên thực tế, một màu vàng khuất trong tối có thể biến thành một màu khác. Nhiều vải thế này thì rất có thể Varotari đã vẽ tranh này theo đơn đặt hàng của một… ông chủ tiệm vải.

Một bức tranh không rõ tác giả, có tên “Achilles trưng xác Hector ra trước vua Priam và xác Patroclus”, vẽ vào đầu thế kỷ 19, tại Pháp, hiện trưng bày tại bảo tàng Mỹ thuật Boston. Trong tranh, Patroclus vẫn nằm trên giường (vô lý dễ sợ, nếu tính ngày tháng phân hủy xác). Xác Hector dù bị ngựa kéo nhưng vẫn phẳng phiu (đó là nhờ thần Apollo che chở). Dáng điệu của vua Priam rất đẹp, với lưng còng xuống trong đau buồn của một người cha. Cũng thú vị khi được xem một phiên bản đen trắng như thế này. Nhờ đó ta có thể loại bỏ sự hấp dẫn về màu sắc mà tập trung nhìn vào sắc thái đậm nhạt trong tranh. Các họa sỹ xưa khi xây dựng tác phẩm thường hoàn thiện nó trước bằng đen và trắng rồi sau đó mới phủ màu lên. Tác giả ở đây không còn phụ thộc vào một nguồn sáng cố định mà khá chủ động rọi sáng vào từng nhóm nhân vật và cho chìm đi những gì không quan trọng. Điểm sáng của ngọn nến trở thành điểm để cân bằng lại ánh sáng được rọi vào Hector khi nhân vật này được đặt quá gần mép tranh phía dưới. Tuy nhiên phần hậu cảnh của tranh với những đám mây và cây cọ chỉ làm rối tranh, đồng thời trông như một phông sân khấu. Tính sân khấu càng rõ khi cái xác của Hector như được rọi đèn.

“Vua Priam cầu xin Achilles trả xác Hector” của họa sĩ Tân cổ điển chuyên vẽ tích sử người Scotland, Gavin Hamilton, thế kỷ 18. Gần như cả đời sống tại Rome, Hamilton theo đuổi các tích La Mã và Hy Lạp. Ông còn là một nhà khảo cổ học và buôn đồ cổ, nổi tiếng là lương thiện. Trong tranh này, Hamilton không cho thấy trực diện mặt vua Piram, chỉ có dáng quỳ làm người xem thắt cả ruột, phụ trợ bằng những điệu bộ và gương mặt áy náy của những người xung quanh.

“Những cảnh đời Achilles”, phù điêu La Mã, làm tại Attica, Hy Lạp, A.D. 180-220, diễn tả cảnh vua Piram đến xin mang xác con về. Theo sau là hai người mang lễ vật. Một bức phù điêu tuyệt vời, nhip điệu thật cân đối và uyển chuyển; cân bằng đến mức khó có thể thêm bất cứ gì vào đó mà không gây hỏng bức phù điêu. Vốn rất giỏi khi ken nhiều lớp nhân vật để tạo chiều sâu, với bức phù điêu này, nghệ sỹ Hi Lạp đã để một khoảng trống lớn trên lưng của vua Priam. Rồi bằng một cây gậy rất mảnh được đặt vào đó, toàn bộ chiều sâu của bức phù điêu nhờ một chi tiết nhỏ vậy thôi đã tạo cho ta cảm giác sự việc diễn ra trong một cung điện lớn. Hãy để ý tới các nếp vải: nó được tạo ra để bổ sung đắc lực cho cơ thể người. Để vải chạy vào, chạy ra và cuốn lấy cơ thể nhân vật là một thủ pháp tuyệt vời để tao chiều sâu không gian cho bức phù điêu.

Trong toàn vụ Achilles-Hector, xét theo quan điểm “quân tử” của châu Á thì Achilles hành xử như vậy rất mất điểm. Nhưng xét theo quan điểm tình yêu thì không nói được: Hector đã cướp mất người mà Achillesyêu nhất – chàng Patroclus, thì nay có phanh thây “y” làm 4, 8, 16, hay 32 mảnh cũng không hả giận được. Vả lại, mới sinh ra đã được nhúng trong sông Âm phủ, biết đâu đó cũng là yếu tố khiến Achilles dữ dằn?
Tuy nhiên, quyết định trả xác và ngưng chiến 10 ngày để cho thành Troy làm tang Hector có lẽ là quyết định của… người sáng tác ra thần thoại Hy Lạp. Mà cũng phải để Achilles có chút nhân đạo chứ, sau này đóng phim Con ngựa thành Troy Brad Pitt vào vai Achilles còn có đất để người ta thương!


10. Đám con lai các thần giết nhau


10. Đám con lai các thần giết nhau, để cậu con nhà trần kết thúc 
GiGi và MM tổng hợp, bình tranh
Thành Troy, mặc dù mất đi người bảo vệ dũng mãnh là Hector, nhưng đã được sự tiếp sức bởi hai đồng minh hùng mạnh.
Đầu tiên là nàng Penthesileia, người cầm đầu một đội nữ kị vô cùng thiện chiến. Penthesileia chính là con gái lai của thần chiến tranh Ares (Marc) với nữ hoàng Amazon (tóm lại là Aphrodite ăn nem thì chồng nàng là Ares cũng xơi chả!) Người ta đồn rằng những nữ chiến binh Amazon dưới quyền nàng đã tự nguyện gọt đi một bầu vú để thuận tiện cho việc giương cung bắn tên (còn nàng thì sao nhỉ?).
Đạo quân Amazon tuy phần nào giúp người Troy chống lại được sức tấn công mạnh mẽ của quân Hy Lạp, nhưng Penthesileia đâu phải là đối thủ xứng tầm của Achilles. Bước vào giao tranh, chỉ một ngọn lao đồng, Achilles đã đâm trúng ngực Penthesileia khiến nàng tử thương.
Lột bộ giáp trụ của Penthesileia làm chiến lợi phẩm, khi nâng vành mũ đồng che vầng trán và khuôn mặt của Penthesileia lên, Achilles sững sờ trước vẻ đẹp của nàng. Chàng lúc ấy chỉ biết tiếc thương cho một người đẹp như thế mà phải chịu một số phận bất hạnh dưới mũi lao của chính mình. Đúng lúc ấy, một viên tướng Hy Lạp có thân hình xấu xí là Thersites lò dò đi đến. Y nhạo báng sự đa cảm của Achilles, đồng thời lấy ngọn giáo nhọn đâm thủng hai con mắt của Penthesileia xinh đẹp. Vô cùng tức giận trước sự hỗn hào của Thersites, Achilles vung tay tát một cái mạnh đến nỗi y ngã lăn ra đất, vỡ óc chết thẳng cẳng (cũng có tích nói Achilles đã bắt sống được Penthesileia và bắt nàng về làm vợ; còn cái chết của Thersites là do y âm mưu phản loạn nhưng bị Odysseus phát hiện và trừng trị).

“Trận chiến của những người Amazons” của họa sĩ Anselm Feuerbach (1829 –1880) – một trong những họa sĩ hàng đầu của phong trào Tân cổ điển Đức vào thế kỷ 19. Trong tích thì Penthesilea đi đánh thành Troy có 12 nữ chiến binh đi cùng. Nhưng trong tranh thì có 14 nữ chiến binh, 7 cô đã bị giết, bị thương; 7 cô còn lại đang đánh nhau với 7 chiến binh Hy Lạp. Penthesilea ở cạnh dưới tranh, như hình bên dưới. Cảnh chém giết trong tranh không thấy đổ máu. Bức tranh này vẽ ra bị một nhà báo là Daniel Spitzer chê quá là chê, đến nỗi không bán được. Sau khi họa sĩ chết, mẹ kế họa sĩ đem tặng cho thành phố Nürnberg. Trong tranh này, quả thực, về mặt hình họa, kĩ thuật diễn tả của Anselm Feuerbach thì không thể chê vào đâu được. Nó đạt đến sự hoàn hảo đến từng chi tiết. Tuy vậy, toàn bộ tranh lại cho ta cảm giác về sự nặng nề. Sự nặng nề không ở đề tài mà có lẽ do cách bố cục quá dàn trải, đầy ắp hành động ở khắp mặt tranh. Nhìn tranh, có thể nhận thấy tác giả đã đặt mẫu và nghiên cứu rất kĩ lưỡng cho từng nhân vật. Thế nhưng tinh thần từ những nghiên cứu đó khi chuyển hóa lên tranh thì lại không cho ta cảm giác trước một cuộc đánh trận.

Penthesilea trong “Trận chiến của những người Amazons” của họa sĩ Anselm Feuerbach. Về họa sĩ: Anselm Feuerbach say mê kiến thức cổ điển, cấu trúc tranh ông có sự nghiêm cẩn và đơn giản của nghệ thuật Hy Lạp. Hơn ai hết, ông là người nhận ra sự nguy hiểm nếu không nắm vững kỹ thuật, và biết rằng thuần thục tay nghề là một điều cần thiết để diễn tả ngay cả những điều cao siêu nhất.

“Cái chết của Penthesilea” của họa sĩ Đức Johann Heinrich Wilhelm Tischbein, còn gọi là Goethe-Tischbein (1751 – 1828). Trong bức tranh này, Achilles thảng thốt nhìn trời, trên tay ôm xác Penthesilea. Toàn bộ màu sắc của bức tranh u tối và buồn bã rất gần với tâm trạng của Achilles. Có lẽ cái yếu nhất trong bức tranh này là những nếp vải. Cái áo choàng đỏ của Achilles quá cứng, mặc dù tác giả đã cố công diễn tả nó bay trong gió, và cả cái ống vải trên đùi Achilles cũng vậy. Tư thế của chân trái trông không có vẻ thõng thượi của một xác chết…. Như nhiều họa sĩ cùng thời, Tischbein có một thời gian “tu nghiệp” tại Rome (cái này rất hay: vừa học nghề, vừa có một thời gian sống tại một trung tâm lịch sử, tôn giáo, văn hóa…). Tại đây, ông đổi phong cách, từ Rococo sang Tân cổ điển. Ông thường vẽ phong cảnh, các tích lịch sử, và tĩnh vật. Gọi ông là Goethe-Tischbein vì ông chơi thân với Goethe trong thời gian ở Rome, có lúc đã tháp tùng Goethe ngao du tới Naples và vẽ tranh Goethe (những bức này hiện treo ở các bảo tàng lớn). Về sau, Tischbein trở thành họa sĩ của triều đình.

“Cái chết của Penthesilea”, tranh Yves Pereira – một họa sĩ Pháp, điện thoại 06 21 72 84 71 (tức là… thời nay). Tìm thông tin về Yves rất khó, ngoài mấy trang bán tranh với giá khoảng 400 – 1000 euro. Chiến binh nằm úp mặt bên cạnh, đầu đội mũ sắt có ngù đỏ chắc là Achilles đang vật mình vật mẩy khóc than. Những người lính trong hàng quân xì xào với nhau (có lẽ là về thân hình của Penthesilea). Những tảng đá vỡ ở đây rõ là đạo cụ của họa sĩ cho tranh dày dặn hơn.

Penthesilea là cung thủ, và tư thế của cung thủ cũng hấp dẫn các điêu khắc gia. Nhưng bức tượng đất nung Penthesilea này của Antoine Bouraine, 1925 thì không có gì thú vị, từa tựa như một bài tập của sinh viên điêu khắc. Nó làm ta liên tưởng đến các nhóm tượng “công nông binh” mà các điêu khắc nhà ta hay dùng làm tượng đài.

“Penthesilea” cũng là để tài mang lại cảm hứng cho Max Slevogt (1868 – 1932) – một họa sĩ ấn tượng Đức, nổi tiếng với… tranh phong cảnh. Ông là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của Đức vẽ ngoài trời. Với những nét vẽ thoáng hoạt, gần với một phác thảo, thế nhưng bức tranh này quả thực rất xứng danh với một họa sỹ ấn tượng: Max Slevogt đã thực sự tạo được cảm giác khá thật về một trận chiến, trông còn “chiến” hơn bức “Trận chiến của những người Amazons” của Anselm Feuerbach ở đầu bài.

Người thứ hai là hoàng tử Phi châu Memnon, dẫn đạo quân các chiến binh Ethiopi đến giúp thành Troy. Chàng là con trai của nữ thần rạng đông Eos và người anh hùng Tithonos. Như vậy, Memnon cũng là con lai của một nữ thần và một người trần, như Achilles, như Penthesileia. Cũng như Achilles, áo giáp, vũ khí của Memnon là do một tay thần thợ rèn Hephaestos rèn nên (Trời! Cái ông này! Rèn vũ khí cho bất kể phe nào!). Đội quân của chàng lớn đến nỗi đếm không xuể. Bởi vậy nên cuộc giao tranh giữa hai người thật là kinh thiên động địa.
Vì đã có lệnh không được can thiệp, hai nữ thần Thetis và Eos đành ngồi trên đỉnh Olympus quan sát cuộc chiến đấu một mất một còn của hai đứa con.
Cuộc đấu ấy diễn ra vô cùng ác liệt, gần như bất phân thắng bại. Hai người phóng lao vào nhau nhưng người này chỉ làm cho người kia bị thương. Không còn lao, họ rút gươm ra quyết một trận tử chiến.
Từ trên đỉnh Olympus, hai nữ thần Thetis và Eos cùng cầu khẩn thần Zeus giúp cho con của họ chiến thắng. Một lần nữa, thần Zeus lại vác chiếc cân số mệnh ra và đặt miếng đồng tượng trưng cho số phận của hai chàng trai lên hai đĩa cân. Lần này, đĩa cân bên phía Memnon lại nghiêng về phía thần âm phủ Hades. Memnon sẽ phải chết! Bằng một cú đánh điêu luyện chết người, Achilles thọc lưỡi gươm vào giữa ngực Memnon và viên tướng chỉ huy đạo quân Ethiopi gục chết.
Nữ thần rạng đông Eos vô cùng đau đớn khóc than cho số phận bi thảm của đứa con trai. Thần Zeus xót thương liền ban cho Memnon sự bất tử. Thi hài của Memnon được bọc trong tấm vải đỏ rực rỡ và được các thần gió đưa đến an táng bên một bờ sông xa xôi ở xứ sở Tiểu Á. Còn các chiến binh Ethiopi được các thần biến thành bầy chim mang tên Memnondides, hàng năm bay về hạ cánh bên ngôi mộ của Memnon để khóc than. Những giọt nước mắt khóc con của nữ thần Eos cũng được thần Zeus biến thành bất tử – đó là những giọt sương sớm mai vẫn đọng trên lá cây ngọn cỏ… Đọc đến đây chắc bạn thắc mắc, vì sao Zeus lại ưu ái nữ thần Eos thế? Họ là bồ của nhau mà, thậm chí có một đứa con chung là Carae. Cậu này hình như vô tích sự.

Tượng Memnon – niên đại không rõ, mang những nét đặc trưng của người châu Phi: mắt lộ, môi dày…

Tranh khắc Memnon của Bernard Picart (1673-1733). Có lẽ là con của thần bình minh nên tranh phải khắc Memnon nhìn về… bình minh. Quang cảnh mà Memnon nhìn tới rất giống một thành phố hiện đại! Về họa sĩ: Bernard Picart được sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm tranh khắc của Paris. Mới 16 tuổi ông đã được nhận bằng danh dự của đại học Paris. Sau đó ông sang sống ở Hà lan và mất ở đây. Thời ông, Hà Lan là trung tâm của các nhà xuất bản và xưởng in, những bản khắc của ông đã phục vụ cho việc xuất bản sách. Bức tranh này nằm trong bộ tranh “The Temple of the Muses” gồm 60 bức – một trong những bộ tranh được ông làm vào cuối đời. Tinh tế và kĩ lưỡng là phẩm chất trong những bức tranh khắc của Bernard Picart.

“Tượng Memnon khổng lồ” tuy mang tên Memnon nhưng lại là tượng Pharaoh Amenhotep III, sừng sững đứng suốt 3400 years (từ 1350 trước CN) tại thung lũng các vị vua (nghĩa địa Theban), bên kia sông Nile. Gọi tên là Memnon vì nghe đồn một trong hai bức tượng thường phát ra tiếng khóc vào lúc bình minh, đặc biệt vào tháng Hai và tháng Ba. Bức tượng này bị xé toạc phần thân dưới sau một trận động đất. Người ta giải thích âm thanh phát ra có thể là do nhiệt độ tăng lên, sương đọng trong khe đá nứt bị bốc hơi mà thành.

Đã giới thiệu thì giới thiệu cho chót: đây là bức “Memnon Colossi lúc bình minh”, tranh David Roberts vẽ khoảng 1840s. Bức tranh này ông vẽ trong một đợt đi dài dọc Ai Cập. Nhắc lại một lần nữa, hai bức tượng này chẳng liên quan gì đến Achilles lẫn Memnon, chỉ là liên quan đến… bình minh.

Còn đây là chân dung “phụ huynh” của Memnon: nữ thần Eos (Aurora) và người anh hùng Tithonus, trong bức “Aurora rời Tithonus” của họa sĩ Ý Francesco Solimena, vẽ năm 1704. Trong bức này, nữ thần phải dậy sớm, rời người tình để đi thắp bình minh. Tithonus lúc này trông đã hơi già, và Eos nhìn mặt có vẻ lạnh lẽo. Chẳng bao lâu sau nàng sẽ nhốt ông này vào một nơi tăm tối, vì nhờ phép thần của Zeus, ông cứ sống mãi, sống mãi, nhưng không trẻ mà cứ già mãi, già mãi…làm Eos phát ngán và xấu hổ. Rồi cuối cùng ông teo quắt thành một… con châu chấu.

Giết chết Memnon rồi, Achilles tiếp tục dẫn quân Hy Lạp công phá thành Troy. Thần Apollo muốn cứu thành Troy nên đến ngăn chàng lại, liền bị Achilles đe dọa, rằng ngọn lao trong tay chàng không có mắt đâu đấy, bất kể đó là người trần hay thần thánh!
Cả thành Troy lúc này còn mỗi Paris – cũng chính là kẻ vì ham vợ người mà mang lại tai họa cho ngôi thành này. Paris chẳng biết làm gì ngoài việc liên tiếp bắn tên về phía quân Hy Lạp. Và đáng ra Paris yếu đuối đã chết tươi, nếu không nhờ Apollo thù dai nhớ lâu hóa thành một đám mây đen che mắt tất cả mọi người, rồi “nắn” hướng một mũi tên của Paris, nhằm đúng gót chân của Achilles, nơi duy nhất có thể bị tổn thương trên cả cơ thể mình đồng da sắt của người anh hùng.
Ác nghiệt thay khi một vị thần đã ra tay! Achilles thấy đau nhói ở gót chân và biết số phận mình đã tận. Chàng tiếp tục xông lên chém giết quân Troy, nhưng rồi sức đuối dần, Achilles gục chết ngay bên cổng Scaean (bên trái) của thành Troy, đối diện với doanh trại quân Hy Lạp, đúng như lời nguyền của Hector trước khi chết.
(Câu hỏi là: mẹ Thetis của chàng ngồi trên trời quan sát mà sao không thấy? Luật đã cấm các thần can thiệp mà sao Apollo lại được ra tay? Zeus ở đâu? Đang mải an ủi Eos hay sao? Nếu mà cứ chặt chẽ như nhà nước tiên tiến ngày nay thì làm gì có thần thoại Hy Lạp mà đọc, mà vẽ, đúng không?)

“Cái chết của Achilles” tranh của Gavin Hamilton, vẽ khoảng 1782-1784. Trong tranh, Achilles sức cùng lực kiệt, giơ dao đòi đâm Paris (đang giương cung). Mẹ Achilles là Thetis thì gần như ngất lịm. Gavin Hamilton là một họa sỹ thuộc trường phái Tân cổ điển, là hậu duệ của dòng họ Hamilton cổ xưa ở Anh. Ông đã say mê những đề tài tranh lịch sử từ rất sớm. Sau khi đến Rome, ông tiếp thu và chịu ảnh hưởng của hội họa Italia; cũng tại đây, ông cũng khá nổi tiếng với cương vị là một nhà khảo cổ học. Trong những bức tranh của vẽ về đề tài Hi Lạp, ông rất thích dùng những mái vòm. Ở bức tranh này, tiền cảnh là đám nhân vật đang nhốn nháo thì cái mái vòm là một giải pháp làm cho toàn bộ bức tranh trở nên chắc chắn và tạo được chiều sâu.

Tượng “Achilles bị thương” của Jean Baptiste Giraud (1752-1830). Bức tượng này hiện nằm trong một bảo tàng ở Aix en Provence. Achilles bị thương ở gót chân nào thì mỗi người vẽ một cách, nặn một cách; người thì gót trái, người lại gót phải. Về tác giả: Jean Baptiste Giraud được đào tạo nghề kim hoàn ở Paris. Nhưng sau đó, ông sang Italia và học tập ở đây 8 năm. Tác phẩm này được đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuât điêu khắc Tân cổ điển. Cũng nhờ tác phẩm này mà ông đã được tiếp nhận vào Viện Hàn lâm Hoàng gia Paris. Hãy nhìn sự sống động, tinh tế của đường tĩnh mạch trên cánh tay của Achilles. Quả thực như có máu đang chảy bên trong.

“Cái chết của Achilles”, tranh của Peter Paul Rubens, sơn dầu, 107 x 109 cm, vẽ khoảng 1632. HIện ở bảo tàng Boijmans Van Beuningen, Rotterdam. Chẳng hiểu Rubens nghĩ sao mà lại để mũi tên như là xuyên từ lòng bàn chân lên đến mu bàn chân, chứ chẳng dính gì đến gót!
Người anh hùng vĩ đại nhất trong số các chiến binh Hy Lạp đã tử trận trong cuộc chiến thành Troy, sau khi lập nên vô số chiến công hiển hách. Thi thể chàng được người Hy Lạp hỏa thiêu trọng thể, tro cốt cho vào chiếc hộp khảm vàng, chôn bên bờ biển, bên cạnh nấm mồ của người bạn thân thiết Patrocles. Hai con ngựa bất tử của Achilles là Balius và Santhus, món quà của người cha Peleus trước khi ra trận, đã giằng đứt dây cương và không để cho bất cứ ai thắng chúng vào xe nữa…
Đám con lai của thần linh chết hết rồi, sau cái chết của Achilles, cuộc chiến thành Troy bước sang một giai đoạn mới.

11. Odysseus – Kẻ có lắm mẹo vặt


11. Odysseus – Kẻ có lắm mẹo vặt chết người 
GiGi tổng hợp
Lại nói về cuộc chiến thành Troy. Sau khi dũng tướng trấn giữ thành Troy là Hector bị Achilles giết chết, rồi đến lượt Achilles lại bị Paris – với sự giúp đỡ của thần Apollo – hạ thủ bởi một phát tên bắn trúng gót chân, có vẻ cán cân lợi thế nghiêng về phía quân Hy Lạp nhiều hơn. Đơn giản bởi họ có nhiều dũng sĩ thiện chiến hơn – toàn là những người từng tham gia cầu hôn nàng Helen kiều diễm; đám này ra đi để thực hiện lời thề khi xưa thì ít mà để cướp phá, cướp đoạt chiến lợi phẩm từ thành bang Troy giàu có thì nhiều! (Helen chắc cũng hú vía, may đã không lấy “lão” nào trong số này!)
Dù thất thế hơn đối phương nhưng quân dân thành Troy vẫn kiên cường chống cự. Dẫu có được xây dựng trên ngọn đồi lú lẫn, nhưng các kiến trúc sư và thợ xây thời cổ đại, do không có thói quen ăn bớt vật liệu cũng như khai khống các hạng mục công trình, đã xây thành Troy rất chắc chắn, đủ khả năng chống cự lại những đợt công thành dữ dội của quân Hy Lạp. Cuộc chiến thành Troy, vì thế, đã bước sang năm thứ mười…
Trong hàng ngũ quân Hy Lạp, sau khi mất đi người anh hùng Achilles, vẫn còn vô số những chiến tướng, mà nổi bật nhất trong số này phải kể đến Odysseus.
Có thể nói đây là một nhân vật cơ trí vào bậc nhất trong thần thoại Hy Lạp, một sự pha trộn giữa cái tuyệt trí của Khổng Minh với cái tuyệt mưu của Tào Tháo trong Tam Quốc diễn nghĩa ở văn học phương Đông.
Những mưu mẹo của Odysseus là đề tài vô tận của các tác phẩm văn học, mỹ thuật cổ điển. Thậm chí, chuyến hành trình gian truân của Odysseus trở về nhà sau cuộc chiến thành Troy đã là đề tài chính cho thiên sử thi Odyssey của Homer vĩ đại. Nhưng đó là chuyện khác…
Ở Odysseus có cả một kho những mẹo vặt lẫn những mưu kế chiến lược đủ để làm thay đổi và quyết định cục diện của cả một cuộc chiến lớn như thành Troy.
Hẳn mọi người còn nhớ chuyện Odysseus cùng với vua xứ Argos là Diomedes được người Hy Lạp giao nhiệm vụ đi chiêu mộ Achilles, khi ấy đang giả gái trong cung vua Lycomedes ở đảo Scyros. Chỉ bằng một mẹo nhỏ, Odysseus đã khiến Achilles bộc lộ thân phận và buộc phải tham gia cuộc viễn chinh đánh thành Troy cùng với các chiến tướng Hy Lạp.
Mẹo vặt đó chỉ gián tiếp gây chết người (Achilles bị bộc lộ thân phận buộc phải ra trận, sau này chết ở Troy), nhưng có những mẹo vặt khác của Odysseus thì gây chết người ngay tức khắc!
Khi đoàn chiến thuyền hùng hậu gồm 1186 chiếc của người Hy Lạp tiến vào gần khu vực thành bang Troy, quân Troy, dưới sự chỉ huy của dũng tướng Hector mũ trụ long lanh, con trai cả vua Priam, đã dàn quân nghênh đón, sẵn sàng mang cái chết đến cho những người Hy Lạp dám cả gan đến xâm chiếm. Đoàn thuyền đi vào cửa sông Simois, con sông đánh dấu lãnh địa Troy. Trên bờ, Hector đang nóng ruột chờ đợi.
Trước khi xuất phát, những người Hy Lạp đã nhận được một lời tiên tri báo rằng bất cứ ai là người đầu tiên đặt chân lên lãnh địa của Troy, người đó sẽ phải chết. Toàn quân Hy Lạp, từ viên tổng chỉ huy Agamemnon đến tên lính quèn đều biết rõ lời tiên tri đó. Bởi vậy mà khi các chiến thuyền cập sát bờ, các dũng tướng Hy Lạp bắt đầu nhìn nhau. Vinh quang, của cải, phụ nữ đẹp thì ai cũng muốn rồi, nhưng phải sống thì mới hưởng được tất cả những cái đó, chứ một xác chết thì chỉ để đem thiêu mà thôi!
Trong số các dũng tướng Hy Lạp, Odysseus biết rõ lời tiên tri chết người kia, nhưng cũng biết rằng nếu không có ai làm gương xung phong ngay trong trận đánh mở màn này thì cái giá phải trả sẽ rất lớn. Bởi vậy nên Odysseus bèn ném chiếc khiên của mình lên bờ rồi nhảy vọt lên đứng trên đó!
Thấy Odysseus đã nhảy lên bờ rồi, một dũng tướng khác là Protesilaus, con trai của Iphicles xứ Thessali, tung mình nhảy vọt theo, chắc mẩm rằng Odysseus là người đầu tiên đặt chân lên lãnh địa Troy và sẽ phải hứng chịu lời nguyền chết người kia. Hỡi ôi! Protesilaus đâu có biết rằng Odysseus đã vô cùng khôn ngoan nhảy lên đứng trên chiếc khiên của mình và như vậy, tuy nhảy lên trước nhưng Odysseus không phải là người đầu tiên đặt chân lên đất Troy!
Chỉ bằng một mẹo nhỏ này, Odysseus đã “nhường” cái chết cho Protesilaus!
Hậu quả đến ngay với Protesilaus. Vừa mới đặt chân lên bờ, chàng vung gươm, giương khiên lao vào giao đấu với Hector, con trai vua Priam. Protesilaus nào phải đối thủ xứng tầm với Hector. Tráng sĩ thành Troy, bằng một mũi lao ác hiểm, đã đâm xuyên qua tầm khiên dày trước ngực Protesilaus, cắm sâu vào trái tim người anh hùng Hy Lạp. Cho đến lúc tử thần mang đi, có lẽ Protesilaus vẫn còn ngạc nhiên, không hiểu vì sao mình chỉ là người thứ hai chạm chân lên đất Troy mà vẫn phải chết! (kèm theo câu chuyện này còn một tích nữa là Protesilaus, ngay trước khi ra trận, vừa mới lấy vợ, nàng Laodamia xinh đẹp, con gái của người anh hùng Argo là Acastus. Khi nghe tin Protesilaus tử trận, nàng Laodamia khóc than vật vã, cầu xin các thần linh hãy mang người chồng mới cưới về cho nàng gặp mặt một lần nữa. Lời cầu khẩn này được các thần linh chuẩn y và thần Hermet đã mang Protesilaus từ thế giới tăm tối của thần Hades quay trở lại dương gian để cặp vợ chồng mới cưới gặp nhau. Nhưng thời gian mà các thần linh cho cặp vợ chồng mới cưới có hạn. Đến lúc Protesilaus phải từ biệt vợ mới cưới để quay trở lại Âm phủ thì nàng Laodamia đã quyết định đi cùng chồng: nàng rút gươm đâm vào ngực để tự sát).
Cuộc chiến thành Troy đã khởi đầu bằng một mẹo nhỏ và hai cái chết như thế.

“Protesilaus” – tượng đầu người, không rõ nguồn.

“Laodamia” của George William Joy (1844 – 1925), một họa sĩ Ái Nhĩ Lan rất gắn bó với hoàng gia. Tranh ông mượt mà, thường là mô tả con người, trong các tích, các câu chuyện sử. Trong tranh, Laodamia than khóc trước mộ chồng, nhưng để mô tả cơ thể người, họa sĩ không ngại ngần gì mà không cho nhân vật cởi trần, dù là trong một hoàn cảnh đáng ra phải mặc áo nhất.

“Protesilaus và Laodamia” của Carolo Adelio Galimberti – một họa sĩ Ý (sinh năm nào không rõ, có lẽ khoảng những năm 1960s), rất am hiểu về sử, là tác giả và đồng tác giả của những bài viết về lý thuyết mỹ thuật và lịch sử trên các chuyên trang mỹ thuật. Ông hay đi diễn thuyết về những đề tài này, đồng thời là tư vấn cho nhiều công ty khác nhau ở Ý khi các công ty này có nhu cầu về loại mỹ thuật liên quan đến các đề tài lịch sử (hay xây dựng logo cần dùng các biểu tượng gắn với lịch sử…) Bức tranh diễn tả lúc Protesilaus đã chết, thành ma về nhà thăm vợ (lưu ý: đáng lẽ thân mình Protesilaus là ma nên trong suốt thì ở đây cẳng chân Laodamia lại trong veo!)

Còn để hình dung về Odysseus, mời các bạn xem tạm những bức vẽ đoạn đời ly kỳ nhất của ông: trở về từ thành Troy. Đoạn trước, các họa sĩ sao ít vẽ ông, có lẽ vì Achilles và Hector còn sống, mà hai người ấy vừa trẻ vừa đẹp hơn ông nhiều.
Tích Oysseus lang bạt thì sau này SOI sẽ có các bài nhỏ. Nhưng tựu chung là người anh hùng sẽ khốn khổ vì những “yêu nữ” trên đường, khiến khi ông về tới nhà thì người vợ yêu đã thành một bà trung niên.

“Odysseus và Calypso”, sơn dầu, vẽ năm 1943, của Max Beckmann, một họa sĩ Đức (1884 – 1950) có đặc điểm tranh là nhân vật túm tụm với nhau, với nét viền rất sắc. Chủ đề tranh Beckmann rất phức tạp, thậm chí không có kiến thức thì khó mà hiểu nổi. Mặc dầu được xếp vào nhóm các họa sĩ Biểu hiện nhưng Beckmann từ chối cả thuật ngữ này lẫn phong trào này: vào những năm 1920, ông gia nhập New Objectivity (Khách quan mới), là một phong trào từ chủ nghĩa Biểu hiện mà ra nhưng chống lại thói đa cảm “giấu vào trong” của chủ nghĩa này. Bức tranh diễn tả Odysseus giai đoạn sau chiến tranh thành Troy, trên đường về nhà thì bị hết nữ thần xinh đẹp này quyến rũ đến nữ thần yêu kiều khác bắt cóc (ước mơ của các chiến binh chăng?) Calypso là nữ thần đã bắt Odysseus làm nô lệ suốt 7 năm, sau ông phải dùng bùa mới thoát được.

“Odysseus và những nàng tiên cá” do H.J. Draper vẽ năm 1909. Patrickbowman bình luận bức này như sau: Đây là một cảnh tượng rất lãng mạn và phổ biến về các nàng tiên cá, nhưng mà hoàn toàn sai. Tiên cá thì không bơi cũng không bay. Tiên cá chỉ ngồi trên bãi cỏ và hát, xung quanh là những thi thể mục ruỗng của những tên đàn ông đã chịu không nổi họ. Trong tác phẩm Odyssey cũng chẳng thấy tả họ gần như khỏa thân hết như thế này, và chúng ta đều biết là nét hấp dẫn của họ là từ giọng hát mà ra, chứ không phải từ sắc đẹp (nữ Trương Chi chăng?) Họa sĩ Draper chắc chắn là phải am tường điều này, nhưng ông vẽ thế cho tranh nó đẹp. Ông đã làm được một việc tuyệt vời là lột tả được sự giận dữ trên mặt Odysseus khi nghe “bọn” tiên cá hát, trong khi những tay chèo khác thì vì tai bịt sáp ong, không nghe thấy nên mặt mày lãnh đạm.

“Odysseus và Nausicaa” của họa sĩ Đức Joachim von Sandart (1606 - 1688), diễn tả lúc Odysseus dạt vào bờ biển trên đường từ thành Troy về nhà.Ông trần như nhộng và gặp trúng công chúa Nausicaa cùng đám thị nữ đi… giặt đồ (giặt ngoài biển! Nghe vô lý chưa!). Nausicaa đúng ra phải rất đẹp, trẻ trung, là mẫu người vừa trong trắng như nhân tình vừa bao dung như mẹ, nhưng trong tranh này thì như một bà tám con! Trong bức tranh, trên bầu trời là ai có bạn nào biết thì chỉ giùm.

12. Nọc rắn, nọc phụ nữ


12. Nọc rắn, nọc phụ nữ, nọc nào cũng chết 
GiGi và MM tổng hợp, bình tranh
Nguồn: Soi.today




Chúng ta đã biết, quân Hy Lạp muốn thắng quân Troy thì phải có được bộ cung tên của Hercules, hiện nằm trong tay người bạn thân chàng là Philoctetes.
Nhưng Philoctetes đang ở đâu?
Lại phải quay lại thời kỳ đầu của cuộc viễn chinh, khi người Hy Lạp bắt đầu đưa hạm đội hùng mạnh của mình vượt đại dương tiến về phía Troy. Philoctetes cũng là một trong số những người tham gia cuộc viễn chinh.
Trên đường đi, ngang qua đảo Chryse, Philoctetes thấy trên đảo có một ngôi đền thờ thần Athene. Chàng bèn lên đảo, đang chuẩn bị sửa soạn cúng tế thì bất thần, một con rắn từ trên bàn thờ lao xuống cắn vào chân. Đám binh sỹ Hy Lạp vội vàng đưa Philoctetes xuống thuyền thì nọc rắn đã làm vết thương sưng tấy, bốc mùi hôi thối hết sức khó chịu. Đau đớn không chịu nổi, Philoctetes kêu la ầm ĩ.
Cuộc viễn chinh vừa mới bắt đầu, sợ chuyện xui xẻo của Philoctetes làm ảnh hưởng đến tinh thần binh sỹ, hai anh em người cầm đầu quân Hy Lạp Agamemnon bàn với Odysseus hay là để quách Philoctetes lại chỗ nào đó cho nhẹ nợ!
Thế là nhân lúc Philoctetes đang ngủ say, Odysseus sai binh sỹ đưa Philoctetes lên một cái thuyền nhỏ, rồi chèo vào một đảo hoang có tên là Lemnos, để lại cả thuyền lẫn người ở lại đó! Cũng may là Odysseus còn ra lệnh để lại cho Philoctetes một ít thức ăn đủ để sống một thời gian…
Bị bỏ lại trên đảo hoang, Philoctetes không chết, cứ thế sống trong hang, uống nước suối, săn bắn kiếm ăn cho qua ngày. Vết thương do rắn cắn, qua mười năm – tức là suốt thời gian quân Hy Lạp vây hãm Troy – vẫn chưa khỏi (!) Trong lòng Philoctetes chỉ ôm một mối hận với hai anh em nhà Agamemnon cùng Odysseus, tự nhủ lòng nếu có cơ hội gặp lại ba người thì sẽ dùng cung tên bắn chết cả ba, khỏi phải phân bua chi cho dài dòng!
Bây giờ phải đi tìm lại Philoctetes để thuyết phục chàng mang bộ cung tên có tẩm độc của Hercules quay lại chiến đấu với quân Troy, Odysseus cũng hơi ngán ngẩm, nhưng vẫn phải đi.
Dĩ nhiên đời nào Philoctetes nhận lời. Không những thế, nếu không có người ngoài can ngăn thì Odysseus đã nhận một mũi tên độc của Philoctetes rồi! Đúng vào lúc hai bên đang căng thẳng, bỗng nhiên sấm rền, ánh sáng tỏa ra rực rỡ, hồn phách của Hercules, sau khi chết đã được lên đỉnh Olympus, xuất hiện. Hercules ra lệnh cho bạn mình phải dẹp bỏ hết oán thù cá nhân để sát cánh cùng với những người Hy Lạp chiến đấu hạ thành Troy. Hơn thế nữa, Hercules cho biết: chỉ có quay lại hàng ngũ Hy Lạp, vết thương do rắn cắn của Philoctetes mới được một danh y là Podalirius chữa khỏi.
Nghe lời người bạn anh hùng, Philoctetes quyết định đi cùng Odysseus quay lại Troy chiến đấu.



Nhân vật Philoctetes với một cái chân bị thương ở trên đảo có vẻ là một chủ đề rất nhiều họa sĩ quan tâm. Trong hình là “Philoctetes bị rắn cắn”, tranh của họa sĩ Thụy Sĩ Gotthard Ringgli, đầu thế kỷ 17. Tranh vẽ có lầm không chứ Philoctetes lên đảo là để làm lễ cúng thần chứ đâu phải để đi bắn chim đâu mà rắn cắn trong lúc đang giương ná!

"Philoctetes bị thương" của họa sĩ Đan Mạch Nikolaj Abraham Abildgaard (1743 – 1809). Họa sĩ này chịu ảnh hưởng hội họa cổ điển của các bậc thầy Pháp như Claude Lorrain và Nicolas Poussin. Ông từng học ở Paris dưới sự chỉ dẫn của Francois Boucher trước khi trở thành thành viên của viện Hàn lâm Nghệ thuật Hoàng gia Đan Mạch. Ông cũng đã giành được huy chương của học viện từ những năm 1764 đến 1767. Đây là bức tranh khá nổi tiếng của ông. Nó được coi như một đại diện về nghệ thuật của ông trong vô vàn những bức tranh và công trình trang trí cho Hoàng gia Đan Mạch mà ông đã tham gia. Cả bức tranh đều tuyệt hảo từ ánh sáng cho đến màu sắc. Cách dồn bố cục thật chặt và lược bớt những không gian không cần thiết để tập trung vào diễn tả trạng thái nhân vật là một bước tiến của ông so với các bậc thầy mà ông từng theo học. Thế nhưng, ở đây có một chút chi tiết hơi gợn: hai đường cong mông của Philocteses hơi đều và thiếu sự rắn chắc đang lên gân của cơ bắp trong cơn đau. Có thể rất đúng với giải phẫu học nhưng cách tạo khối hơi đều làm cho hai mông bị yếu đi và không liên kết lắm với chân trái của nhân vật.

“Phong cảnh với Philoctetes trên đảo Lemnos”, sơn dầu của Achille-Etna Michallon (1796-1822). Philoctetes vừa mới bắn được một con chim (trông như bồ câu), đang nhặt về để làm thức ăn. Thật tiếc cho một tài năng đã qua đời sớm ở tuổi 26. Năm 1817, Achille-Etna Michallon đã giành được giải Prix de Rome và sau đó đã đến Ý trong hai năm. Chuyến đi đó đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến màu sắc trong tranh phong cảnh của ông: rất tươi sáng.

“Philoctetes hấp hối trên đảo Lemnos” của họa sĩ Ý Vincenzo Baldacci (đầu thế kỷ 19). Trong tranh này, Philoctetes bị thương bên chân trái, không giống những tranh khác là bị thương chân phải. Cũng lại một họa sỹ nữa qua đời khi còn rất trẻ. Ông từng học ở học viện Anccademi di San Luca ở Rome. Tác phẩm của ông để lại không nhiều. Người ta đồ rằng bức tranh này (theo những tài liệu đã tìm được) là một bài tập và ông đã vẽ nó để chứng minh sự tiến bộ của mình khi theo học tại học viện.

”Philoctetes trên đảo Lemnos” bức sơn dầu cuối cùng của họa sĩ Pháp yểu mệnh Jean Germain Drouais (1763 – 1788). Tuy trẻ nhưng tài năng, khi mất đi ở tuổi 25, ông đã kịp có tranh bày trong Louvre và để lại rất nhiều môn đệ.

“Ulysses và Neoptolemus nhận cung tên của Hercules từ Philoctetes”, sơn dầu của họa sĩ Pháp François- Xavier Fabre (1766 – 1833) – người đã cưới vợ góa của người bạn, rồi khi bà này chết thì được thừa hưởng tài sản, đủ để mở trường mỹ thuật và lập bảo tàng Fabre ở Montpellier (Pháp). Động tác của Philoctetes không có vẻ gì là “giao” cung nỏ, trông cứ như là bị cướp trên tay.

Sau khi được chữa khỏi vết thương do rắn cắn, Philoctetes hoàn toàn khôi phục lại sức lực và hăng hái ra trận. Nạn nhân đầu tiên của Philoctetes chính là hoàng tử mê gái Paris. Không biết tài thần xạ của Philoctetes, Paris mù quáng xông về phía đối phương. Philoctetes giương cung đặt tên, nói: “Thằng giặc này chính là căn nguyên của mọi tai họa. Giờ chết của mi đã điểm!”
Mũi tên độc vút đi trúng bụng Paris. Quân Troy vội vàng ào ra cứu hoàng tử của họ vào thành. Nhưng “mặc dù đã tận tình cứu chữa”, chất độc vẫn phát tác, không tài nào chữa khỏi. Paris nhớ đến lời người vợ thuở ban đầu, nàng Oenone, khi chàng còn chăn cừu trên núi Ida. Khi ấy, Paris vẫn chỉ biết chấm cừu béo, cừu gầy, chứ chưa được chấm thi hoa hậu cho ba nữ thần đẹp nhất thế gian… Hồi ấy, Oenone đã nói với Paris rằng nàng biết một loại thuốc có thể giải được mọi thứ nọc độc trên đời.
Lúc này, Paris vội vàng nhờ người hầu cáng chàng lên núi tìm lại người vợ cũ với hy vọng nàng sẽ giải độc cho. Nhưng hỡi ôi, khi gặp lại Oenone, nàng đã cương quyết cự tuyệt lời cầu xin của Paris. Paris đành quay xuống núi và trên đường về, chàng qua đời.
Đúng bản chất phụ nữ, khi nghe chồng cũ chết, nàng Oenone lại đổi sang vô cùng hối hận. Nàng đến tận nơi đang diễn ra lễ hỏa táng của chồng rồi gieo mình vào đống lửa, tự tận.
Trong vụ này, có thể nói, Paris đã chết cú đúp: đầu tiên là nọc rắn, kế tới là nọc vợ (cũ).
Câu chuyện rắn rết cũng hết. 



Paris và Oenone cũng là một cặp rất được các họa sĩ chuộng. Họa sĩ và nhà thiết kế nội thất người Hà Lan Jacob de Wit (1695-1754) trong bức “Paris và Oenone” diễn tả cặp vợ chồng chăn cừu này rất hạnh phúc nhưng hơi “phàm phu tục tử”. Paris cũng không đẹp tí nào như trong tích nói. Jacob de Wit rất nổi tiếng về vẽ cửa và trần nhà. Nhiều căn nhà ở Amsterdam còn lưu những bức tranh trang trí của ông.

Họa sĩ Hà Lan Pieter Lastman (1583 – 1633) là họa sĩ Hà Lan, thầy của Rembrandt và Jan Lievens. Tranh của ông có đặc điểm tập trung rất nhiều vào vẻ mặt, đôi tay, và bàn chân. Trong tranh này, Pieter Lastman mô tả cặp Paris đang định làm “trò mèo” với Oenone thì có người bắt gặp. Oenone tuy là tiên núi, con của một vị thần sông, nhưng trong tranh này như một bà nông dân đứng tuổi có chồng trẻ! Trang phục cũng là trang phục của thời họa sĩ sống, có lẽ đây là một bức vẽ theo kiểu “lấy tên tích cổ đặt cảnh thời nay”: vẽ một cặp chăn cừu thì lấy tên một cặp có trong tích cổ; như kiểu vẽ mẹ và con thì đặt là “Vệ Nữ và Cupid”.

"Paris và Oenone” của Jean-François de Troy (1679 – 1752) – một họa sĩ Pháp theo trường phái Roccoco và chuyên vẽ thảm – có lẽ vẽ Paris và Oenon đúng tuổi, đúng sắc nhất. Tuy nhiên tư thế của Paris rất kỳ, không biết khớp hông chàng này cấu tạo kiểu gì mà vặn người được ghê thế.

Bức sơn dầu khổ 163 x 131 cm “Paris et Oenone” của Adrien Thevenot (1889 – 1922), có giá ước lượng USD 55,000 – 62,000 (hồi 2007) lại mô tả cặp chăn cừu này tuy ăn mặc cổ nhưng vẻ mặt, đầu tóc thì quá hiện đại, đặc biệt là Paris.

Thế rồi như ta đã biết, Paris được Venus mai mối cho “chân dài tai họa” Helen. Đây là bức “Sự ve vãn của Paris với Helen” của Jacques-Louis David (1748- 1825). Là một họa sỹ lớn nhưng Jacques-Louis David cũng có một khởi đầu khó khăn. Năm lần có gắng tìm kiếm giải thưởng Prix de Rome thất bại đã làm ông chán ghét và trở nên hận thù với tổ chức này. Việc đó đã đẩy ông tới việc ủng hộ nhiệt thành cuộc cách mạng Pháp. Chính những sự thăng trầm của cuộc đời đã biến ông thành một họa sỹ cách tân thành công… Trong tranh này, Paris trông công tử, không có vẻ gì là “cựu chăn cừu”. Gặp Helen khiến Paris bỏ người vợ “giỏi nghề thuốc” Oenone.

Rồi đến khi bị tên độc tẩm nọc rắn bắn trúng, thì “Oenone từ chối cứu Paris, bị Philoctète sát thương” (bức này do Thomas Degeorge vẽ năm 1816, by (1786-1854). Nửa thân dưới Paris lúc này đã tím xanh loang lổ kiểu hoại tử… Lại một bức tranh của một họa sĩ thất bại trong tham vọng tìm kiếm giải thưởng Prix de Rome, một giải thưởng uy tín mà rất nhiều họa sỹ ngày ấy mong ước. Thomas Degeorge sau đó bằng lòng với việc vẽ tranh lịch sử. Những những bức tranh này không được đánh giá cao bởi chất lượng tầm tầm. Thế nhưng, những bức chân dung phụ nữ của ông lại được đánh giá cao vì tính nữ tính.

Còn đây là bức tranh (không rõ tên) của Antoine Jean- Baptiste Thomas vẽ năm 1816, bày trong trường Cao đẳng Quốc gia Mỹ thuật tại Paris. Mặt Paris đã đờ đẫn của một người bị nhiễm độc, nửa thân trên đã ngả tím và cánh tay phải buông xuôi bất lực. Có thể nói, cái gây chú ý trong bức tranh này là cử chỉ của những bàn tay của các nhân vật, với mỗi bàn tay là một ngôn ngữ.