Thứ Tư, 27 tháng 11, 2024

Ký sự hành hương


Người hành hương đến thánh địa Kushinagar
 

3- THÁNH ĐỊA KUSHINAGAR

Sáng 9-2-2013, khi sương mù còn giăng khắp, ô tô đưa chúng tôi đến cửa khẩu Lumbini. Sau khi làm thủ tục xuất cảnh, chúng tôi nhập cảnh Ấn Độ tại cửa khẩu Sonauli.
Hai nước ngăn cách bởi một cái cổng, nhưng nhịp sống khác hẳn. Lumbini tĩnh lặng, thong thả. Còn thị trấn Sonauli người xe đông đúc, phố xá ồn ào. Nhưng khi ô tô chạy ra vùng ngoại ô thì phong cảnh yên bình, thoáng đãng. Hai bên đường là ruộng lúa, vườn cọ và những cánh đồng bạt ngàn hoa cải… Trong nắng sớm, học sinh đạp xe đến trường, xe bò thong dong lăn bánh trên quốc lộ… Vượt quãng đường khoảng 150km, vào đầu giờ chiều, ô tô chở chúng tôi đến thị xã Kushinagar.
Theo kinh sách nhà Phật, sau khi chứng ngộ, Đức Phật đã thuyết pháp 45 năm và nhập Niết bàn vào năm 80 tuổi - thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, để ghi dấu ngày Đức Phật nhập Niết bàn ở Kushinagar, vua Ashoka đã cho xây dựng đền Parinirvana và bảo tháp tại nơi Ngài nhập Niết bàn. Bảo tháp có tên là Parinirvana, còn gọi là tháp Niết Bàn. Trong những triều đại sau đó, nhiều bảo tháp và điểm hành hương đã được xây dựng ở đây; trong đó có nhiều thánh tích Phật giáo quan trọng như: Đền Matha Kuar, nơi Đức Phật giảng bài kinh cuối cùng; tháp Angrachaya (còn được gọi là tháp Ramabhar, tháp Trà Tỳ), nơi hỏa táng Đức Phật… Theo sử sách, sau lễ hỏa táng, xá lợi Phật được chia thành 8 phần cho 8 vương quốc và bộ tộc thờ phụng. Khi vua Ashoka thống nhất Ấn Độ, ông cho thu hồi xá lợi Phật ở các nơi, chia thành 84.000 phần, cho vào 84.000 hộp nhỏ, rồi xây dựng 84.000 bảo tháp để thờ.


                                                   Tháp Niết Bàn ở Kushinagar
Chúng tôi cùng hướng dẫn viên Sagar Adhikari vào đền Parinirvana. Khuôn viên đền rất rộng, với nhiều thảm cỏ, vườn cây. Tháp Niết Bàn được xây dựng trên nền cao khoảng 3m, sơn màu trắng, nổi bật trên nền trời xanh. Xung quanh tháp có nhiều dấu vết của đền đài xưa như nền móng, tường gạch cũ… Lối vào Tháp Niết Bàn được lát gạch nung, hai bên là dậu cây hoa vàng lấm tấm. Leo lên bậc tam cấp của tháp, chúng tôi gặp hai nhân viên cảnh sát đứng gác. Sau khi kiểm tra, họ cho chúng tôi vào bên trong. Ở giữa gian phòng vắng lặng là pho tượng Đức Phật thếp vàng, nằm trên bệ đá, nghiêng bên phải, mặt quay về hướng Tây, được đắp tấm y màu vàng. Xung quanh tượng có lan can inox và vách ngăn bằng kính trong suốt. Người đàn ông giữ đền cho biết: Tượng Đức Phật được tạc từ đá nguyên khối, dài khoảng 6,1m, nằm trên bệ đá cao khoảng 1m.
Được cô bạn tu Hoàng Thắng hướng dẫn từ trước, tôi đem theo một tấm vải màu vàng cà sa kích thước 6m x 2m. Sagar Adhikari nói với người giữ đền là chúng tôi muốn dâng y lên Đức Phật. Người giữ đền và Sagar Adhikari dỡ tấm y cũ trên tượng Đức Phật và đắp tấm y mới của chúng tôi dâng lên Ngài. Sau khi sửa lại tấm y cho ngay ngắn, tôi chắp tay tạ ơn Đức Phật. Đi đến bên chân Đức Phật, tôi đặt hai tay và trán lên bàn chân Ngài, cầu nguyện…

                                         Tháp Niết Bàn - dâng y lên Đức Phật
Dâng y xong, tôi xin phép người giữ đền được ngồi thiền bên Ngài. Trong không gian tĩnh lặng, tôi bỗng nhớ lời cuối của Đức Phật nói tại nơi đây từ hơn 2.500 năm trước: “Là ánh sáng lên bản thân mình!”.
                            

                                                Tháp Niết Bàn - tạ ơn Đức Phật
*
Tạm biệt thánh địa Kushinagar, chúng tôi tiếp tục hành trình 331km và đến thị trấn Bodh Gaya lúc tối mịt. Nơi chúng tôi nghỉ là khách sạn Lumbini, cách Bồ Đề đạo tràng không xa.

                                                 Thánh địa Kushinagar - kỷ niệm không quên...

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2024

Ký sự hành hương

Trục trung tâm của Vườn Lumbini - Ảnh: risingnepaldaily.com

 2- VƯỜN LUMBINI

Sáng 8-2-2013, chúng tôi dậy sớm. Nhiệt độ ngoài trời khoảng 7 độ C. Anh Sagar Gurung – người Nepal, bạn của con trai tôi – lái ô tô đưa chúng tôi ra sân bay quốc tế Tribhuvan. Khoảng 10 giờ, máy bay cất cánh. Bên ngoài ô cửa máy bay, làng mạc, đồi núi Kathmandu nhỏ dần. Chỉ ít phút sau, một khung cảnh hùng vĩ hiện ra sau mây: những ngọn núi tuyết của dãy Himalaya nối tiếp nhau lấp lóa dưới ánh mặt trời. Nếu vị trí ngồi trên máy bay của bạn phù hợp, có thể nhìn thấy/ chụp ảnh đỉnh Everest huyền thoại.
Sau nửa giờ bay, chúng tôi đến thị trấn Lumbini, cách Kathmandu khoảng 260km về hướng Tây Nam. Nhờ Sagar Gurung đặt xe trước, chúng tôi có ngay ô tô đưa về khách sạn Siddhartha ở Lumbini.
Đầu giờ chiều, từ khách sạn, chúng tôi cùng anh hướng dẫn viên Nepal đi ô tô đến Vườn Lumbini. Chiều nắng vàng se lạnh. Hai bên đường là đồng lúa xanh và những cánh đồng vàng hoa cải.
Theo thông tin của một đơn vị điều hành du lịch địa phương: Vườn Lumbini hiện tại có chiều dài gần 5km tính theo hướng Bắc Nam và chiều rộng khoảng 1,6km tính theo hướng Đông Tây. Phía Bắc của Vườn là Làng Lumbini mới với các công trình: Chùa Hòa bình Thế giới, khách sạn, nhà nghỉ, Trung tâm văn hóa Lumbini, Bảo tàng Lumbini, khu bảo tồn chim… Chùa Hòa bình Thế giới là điểm bắt đầu của trục trung tâm (hướng Bắc Nam) trong Quy hoạch tổng thể Vườn Lumbini; điểm cuối là đền thờ Hoàng hậu Maya – Thân mẫu của Đức Phật; khoảng cách giữa hai điểm khoảng 3,2km.


Kênh Lumbini

Một trong những điểm nhấn của Vườn Lumbini là kênh đào Lumbini, dài khoảng 1,5km nằm trên trục trung tâm. Kênh bắt đầu từ khu vực Trung tâm văn hóa Lumbini, cuối kênh là biểu tượng Ngọn lửa hòa bình vĩnh cửu, được đặt trên một bệ đá. Hai bên bờ kênh có lối đi rộng lát gạch đỏ và vườn cây. Phía Đông và phía Tây của kênh có nhiều tu viện, chùa của các nước châu Á, châu Âu và Phật giáo Tây Tạng, trong đó có Việt Nam Phật quốc tự - Lâm Tỳ Ni của Phật tử Việt Nam. Chính phủ Nepal cho phép các nước thuê đất tại Lumbini trong 100 năm để xây dựng tu viện, chùa chiền của mình.


                                                         Ngọn lửa hòa bình vĩnh cửu

Từ điểm cuối kênh Lumbini, có một con đường chạy trên trục trung tâm đi đến khu Vườn thiêng (diện tích khoảng 2,5km2), nơi có đền thờ Hoàng hậu Maya. Vườn Lumbini được quy hoạch với ý tưởng mô tả hành trình của người Phật tử: Lối vào Vườn được đặt ở phía Bắc, trong Làng Lumbini mới. Người hành hương bắt đầu cuộc hành trình từ đây, nơi có các hoạt động thế gian. Sau đó, người hành hương đi đến khu vực có Trung tâm văn hóa và các tu viện, để tìm hiểu kiến thức và thanh lọc tinh thần. Chặng cuối là con đường đi đến khu Vườn thiêng, nơi bắt đầu hành trình giác ngộ.


                                       Đường vào khu Vườn thiêng ở Lumbini

Theo quy định, trong phạm vi của Vườn chỉ được xây dựng các cơ sở giáo dục và tôn giáo; không được xây dựng cửa hàng, khách sạn, nhà hàng hoặc các cơ sở du lịch thương mại. Năm 1997, UNESCO công nhận Vườn Lumbini là Di sản thế giới.
Xe đỗ trước cổng Vườn Lumbini. Theo con đường đất, chúng tôi đi bộ vào bên trong. Điểm đầu tiên chúng tôi tham quan là Ngọn lửa hòa bình vĩnh cửu, được xây dựng năm 1986, kỷ niệm Năm Quốc tế Hòa bình của Liên Hợp Quốc. Tiếp đó, chúng tôi theo con đường trên trục trung tâm đi vào khu Vườn thiêng. Hai bên đường là những bãi cỏ, vườn cây. Bên trái đường, ở phía xa có một hồ nước rộng nằm bên cánh rừng thưa, trông rất thơ mộng.
Hơn 2.500 năm trước, Đức Phật được sinh ở nơi đây. Tương truyền, Hoàng hậu Maya cùng đoàn tùy tùng trên đường về thăm quê, đi qua cánh rừng Lumbini có nhiều cây sala. Bỗng Hoàng hậu cảm thấy chuyển dạ. Đoàn tùy tùng liền che một chiếc màn quanh bà rồi đi ra chỗ khác. Trong lúc bà đứng, tay bám lấy một cành cây sala thì người con được sinh ra. Đó chính là Đức Phật. Ngài được sinh ra dưới cây. Về sau, Ngài chứng ngộ dưới cây và nhập Niết bàn cũng dưới cây.


                                Đền thờ Hoàng hậu Maya bên hồ thiêng Puskami

Đến gần khu đền thờ, chúng tôi gặp nhiều người hành hương các nước châu Âu, châu Á. Mọi người xếp hàng gửi hành lý, mũ nón. Bắt đầu từ đây, người hành hương bỏ lại giày dép, chân mang bít tất đi vào đền thờ. Nhiệt độ ngoài trời lúc này khoảng 19-20 độC.
Con đường nhỏ dẫn đến đền thờ được lát bằng những viên gạch nung, hai bên là thảm cỏ với những giậu cây duối nở hoa vàng. Đền thờ Hoàng hậu Maya được sơn màu trắng, nổi bật trên nền trời xanh.
Theo đoàn người hành hương, chúng tôi xếp hàng đi vào cửa sau của đền thờ. Nền của thánh tích có nhiều móng nhà làm bằng gạch và đá. Lối đi cho người hành hương được làm bằng những giá đỡ sắt, cao hơn nền di tích khoảng 1m. Sau này tôi mới biết, phần tường và mái đền thờ (được xây dựng sau này) chủ yếu để bảo vệ nền móng di tích bên trong khỏi bị mưa nắng làm hư hại.


           Trụ đá do vua Ashoka cho xây dựng, xác nhận nơi Đức Phật ra đời
Ở khoảng giữa nền di tích có một phù điêu bằng đá, mô tả cảnh Hoàng hậu Maya tay nắm một cành sala khi sinh Đức Phật. Các nhà nghiên cứu cho rằng, vào thế kỷ 14, vua Ripu Malla đã cho làm phù điêu này. Ở gần lối ra của di tích có phiến đá khắc một dấu chân nhỏ, được đặt trong hộp kính chống đạn. Theo sử sách, vua Ashoka (A Dục) đã cho làm phiến đá này vào năm 249 trước Công nguyên để đánh dấu vị trí Đức Phật ra đời.
Để cúng dường khi thăm đền, tôi đem từ Việt Nam sang chuỗi hạt đeo tay làm bằng gỗ hóa thạch, đặt trong hộp mica. Được nhân viên bảo vệ đồng ý, tôi đặt chuỗi hạt bên cạnh hộp kính, chắp tay tạ ơn Hoàng hậu Maya và Đức Phật.
Đi ra mặt trước đền, chúng tôi chiêm bái cột đá do vua Ashoka cho xây dựng, xác nhận nơi Đức Phật ra đời. Cột đá có rào sắt xung quanh. Trên cột có khắc nhiều hàng chữ cổ Brahmi. Nhờ những hàng chữ này mà các nhà khảo cổ biết được di tích đền thờ Hoàng hậu Maya.
Tiếp đó, chúng tôi thăm hồ thiêng Puskami ở bên phải đền. Đây được cho là nơi Hoàng hậu Maya đã tắm trước khi sinh Thái tử Tất Đạt Đa. Cạnh hồ có cây Bồ Đề thiêng với nhiều dây cờ ngũ sắc. Cùng với Phật nhiều nước, chúng tôi đã ngồi thiền dưới tán Bồ Đề linh thiêng này…


                         Ngồi thiền dưới tán Bồ Đề linh thiêng

Sau đó, chúng tôi đi ra cổng. Trời chiều lộng gió. Tôi bước đi trong chánh niệm, lòng thư thái và cảm nhận rõ ràng từng hơi thở ra vào buồng phổi. Ở bên đường – trên cột điện, trên cây, dưới hồ nước – có những tấm biển ghi lời Đức Phật:
“Mọi sự đều vô thường, do đó bám víu hay ghét bỏ chỉ mang lại đau khổ”.
“Nếu một người nói hoặc hành động với tâm địa xấu xa thì đau khổ sẽ đi theo người đó, giống như chiếc xe kéo theo sau con bò”.
“Hận thù không bao giờ chấm dứt bởi hận thù. Hận thù chấm dứt thông qua tình yêu. Đây là luật bất di bất dịch”.


              Vườn Lumbini - tấm biển ghi lời Đức Phật

Lumbini – tiếng Nepal có nghĩa là “đẹp đẽ” – là một trong những địa chỉ hành hương thiêng liêng nhất của Phật tử toàn thế giới. Tạm biệt Vườn thiêng Lumbini, nơi sinh ra Đức Phật – người chỉ cho nhân loại con đường thoát khỏi sinh tử, luân hồi…

*
Ô tô đưa chúng tôi đến thăm Việt Nam Phật quốc tự - Lâm Tỳ Ni, ngôi chùa Việt Nam đầu tiên và cũng là ngôi chùa nước ngoài đầu tiên được xây dựng ở Lumbini.
Theo chia sẻ của Thầy Huyền Diệu: Năm 1969, lần đầu tiên khi đến thăm Lumbini, thấy cảnh thánh địa hoang tàn, Thầy ước nguyện được nhìn thấy Lumbini hồi sinh trước khi từ giã cõi đời và phát tâm xây dựng một ngôi chùa Việt Nam ở đây. Năm 1993, Quốc vương Nepal đồng ý cấp cho Thầy mảnh đất 2ha trong Vườn Lumbini để xây dựng chùa. Ngày 8-8-1993, chùa được khởi công. Sau nhiều năm xây dựng, Đại lễ hoàn nguyện Việt Nam Phật quốc tự - Lâm Tỳ Ni được tổ chức tại chùa vào lúc 12 giờ 12 phút 12 giây, ngày 12-12-2012, với sự tham dự của đại diện chính quyền Nepal và các đoàn đại biểu Phật giáo của nhiều nước trên thế giới.


                                      Việt Nam Phật quốc tự - Lâm Tỳ Ni

Ô tô dừng trước cổng chùa. Chúng tôi đi bộ qua cổng tam quan vào bên trong. Con đường rợp bóng cây dẫn chúng tôi đi về phía tòa chánh điện ba tầng. Phía trước ngôi chánh điện là mô hình ngọn núi Everest tuyết phủ. Tiếp đến là lối đi lên chánh điện với 53 bậc tam cấp. Hôm ấy, Thầy trụ trì Huyền Diệu đi vắng. Một chú tiểu người Việt dẫn chúng tôi lên chánh điện. Thắp hương lễ Phật xong, chúng tôi ra ngoài, ngắm cảnh xung quanh.
Từ tầng ba chánh điện nhìn ra cổng tam quan, vườn chùa xanh mát gợi nhớ hình ảnh đất nước Việt Nam: Ở giữa vườn là mô hình bản đồ Tổ quốc làm bằng xi măng với địa giới 63 tỉnh thành. Bên trái là thửa ruộng nhỏ với tượng mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo. Gần đó là mô hình chùa Một Cột, với lối vào chùa là 7 lá sen được làm bằng xi măng, tượng trưng cho 7 bước chân đầu tiên của Đức Phật khi mới ra đời.
Bên phải chánh điện là giảng đường và khu cư xá hơn 100 phòng. Phía trước cư xá là khu vườn có hồ nước nhỏ với hàng dương liễu và chiếc cầu xi măng bắc qua. Những chú hồng hạc mảnh mai thong thả lội nước kiếm mồi. Thầy Huyền Diệu kể: Khi bắt đầu xây chùa, một hôm có đôi hồng hạc hạ cánh xuống vườn với cử chỉ thân thiện. Là người yêu thiên nhiên, chim chóc, Thầy Huyền Diệu cùng đệ tử tạo môi trường thuận lợi cho hồng hạc sinh sống, đồng thời vận động dân làng xung quanh bảo vệ loài chim quý này. Nhờ thế, hồng hạc bay đến vùng này ngày càng nhiều.
Tạm biệt Việt Nam Phật quốc tự - Lâm Tỳ Ni, ô tô đưa chúng tôi đi trên con đường lớn có nhiều chùa chiền, tu viện của các nước. Mỗi chùa, tu viện giống như một đại sứ quán của Phật tử ở Lumbini, là cầu nối trên con đường hành hương về đất Phật.
*
Chiều tối, chúng tôi trở về khách sạn Siddhartha. Theo kế hoạch, sáng mai chúng tôi lên đường sang Ấn Độ. Để hành trình thuận tiện, chúng tôi nhờ Sagar Gurung thuê ô tô Innova 7 chỗ. Đi cùng chúng tôi có tài xế và hướng dẫn viên du lịch người Nepal là anh Sagar Adhikari.
Đêm Lumbini hôm đó rất lạnh. Bên ngoài gió thổi ào ào, mưa như quất mạnh vào cửa kính. Nệm và chăn đều dày, nhưng chúng tôi vẫn phải mặc thêm quần áo cho đủ ấm. Trải qua một ngày di chuyển liên tục từ sáng sớm đến tối, nhưng tôi không thấy mệt.
Đêm nay, tôi được ngủ trên quê hương Đức Phật, nơi cách xa Sài Gòn hơn 3.000km. Duyên nghiệp nào đã đưa tôi đến đây, đã dẫn lối cho tôi trên hành trình trở về nguồn cội?
Thiền sư Ajahn Brahm nói: “Tất cả các truyền thống Phật giáo đều nói rằng đời người rất đáng quý, nhất là một cuộc sống như thế này, nơi mà bạn gặp được những lời Phật dạy. Bây giờ, bạn có cơ hội để hành tập. Bạn có thể không nhận ra đã phải mất bao nhiêu kiếp, và bạn đã phải tích lũy biết bao công đức mới đến được nơi bạn đang ở, ở ngay bây giờ. Bạn đã đầu tư bao nhiêu kiếp thiện nghiệp mới đạt được sự gần gũi này với giáo pháp”.
Có lẽ, chuyến hành hương này là tâm nguyện của tôi trong nhiều kiếp rồi…

Ký sự hành hương

Ký sự hành hương

Tìm về nơi chón linh thiêng

  Tác giả Trần Xuân Hòa 


LỜI TẠ ƠN

Con xin tạ ơn các chư Phật, các vị Bồ tát, các Bậc thầy!
Xin cảm ơn Migola Travel, Vietnam CEO Club & Himalaya Vietnam Buddhist Foundation đã giúp tôi hành hương về đất Phật!
Xin cảm ơn các bạn tu, các bạn kora Kaillash đã tác duyên, chia sẻ ý tưởng, thông tin và hình ảnh giúp tôi hoàn thành tập sách này!
Cảm ơn con trai Việt Phương đã đưa bà nội, bố, các cô, chú hành hương Nepal, Ấn Độ 4 lần!
Ebooks này sử dụng một số thông tin trên Internet và trong sách của Osho bằng tiếng Việt. Xin cảm ơn các tác giả, dịch giả!

Ảnh: Trước núi Kailash linh thiêng (chinadiscovery.com
)

MỞ ĐẦU
Dịp tết Nguyên đán Nhâm Thìn 2012, tôi dự định du lịch châu Âu.
Tôi chia sẻ ý định này với nữ nhà báo Hoàng Thắng, một đồng nghiệp cùng cơ quan Báo Thanh Niên. Cô ấy nói: “Anh muốn đi đâu cũng được, nhưng trước hết hãy đến Bồ Đề đạo tràng, Ấn Độ”.
Tôi nghe theo lời khuyên của Hoàng Thắng mà không biết chuyến hành hương về đất Phật của mình bắt đầu…


Ảnh: Sân bay quốc tế Tribhuvan, Kathmandu - chuẩn bị bay đi Lumbini




1-THUNG LŨNG DI SẢN KATHMANDU
Ngày 6-2-2013, từ Sài Gòn, tôi và con trai Việt Phương bay đi Bangkok. Sáng sớm hôm sau, từ sân bay quốc tế Đôn Mường, chúng tôi bay đến Kathmandu, gần trưa thì đến nơi. Theo lịch trình, sáng hôm sau chúng tôi sẽ bay đi Lumbini. Vì vậy, buổi chiều cùng ngày, chúng tôi tranh thủ tham quan một số điểm hành hương nổi tiếng ở thủ đô Kathmandu.

         
                        Một quần thể kiến trúc ở quảng trường Durbar, Kathmandu

Theo tài liệu nghiên cứu, thung lũng Kathmandu có diện tích khoảng 570km2, độ cao 1.425m so với mặt biển, gồm nhiều huyện và đô thị, trong đó có thành phố Kathmandu. Thung lũng có hơn 130 di tích lịch sử, văn hóa quan trọng; 7 địa danh được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Trong số 7 địa danh này, có hai địa chỉ hành hương quan trọng là đền Pashupatinath và bảo tháp Boudhanath.
Từ khách sạn, chúng tôi đi taxi cùng một nam hướng dẫn viên du lịch người Nepal. Chiều Kathmandu se lạnh, bầu trời trong xanh rực nắng. Xe chạy qua những đường lớn xe cộ ồn ào, những con phố nghèo đông đúc rồi dừng tại một con đường vắng rợp bóng cây. Từ đây, chúng tôi đi bộ vào đền Pashupatinath.

                                       
                                                             Dãy miếu vòm ở đền Pashupatinath


Pashupatinath là quần thể đền thờ Hindu giáo, nằm bên sông Bagmati, cách thủ đô Kathmandu khoảng 5km về phía Đông Bắc. Đền tọa lạc trên diện tích 264 hecta, với 518 đền thờ và di tích liên quan. Quần thể đền thờ này được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1979.
Sau khi hai nữ cảnh sát Nepal kiểm tra giấy tờ, chúng tôi vào đền từ cổng phía Tây. Hai bên đường vào khu vực đền chính là những dãy nhà xây gạch đỏ, với nhiều cột gỗ được chạm khắc công phu. Trên khoảng sân rộng bên phải đường có nhiều bồ câu và bò.
Đến trước cổng vào đền thờ chính, người gác đền cho biết chỉ tín đồ Hindu mới được vào. Chúng tôi trở ra và gặp một ô tô nhỏ dừng ở sân đền. Từ trên xe, người ta khiêng ra một xác người quấn vải màu vàng. Hai thanh niên dùng cáng khiêng xác ra phía bờ sông. Chúng tôi đi theo.


                                            Đài hoả táng bên sông Bagmati, Kathmandu


Con sông nhỏ nước đen, nhiều rác và than củi. Dọc mép nước có nhiều bệ hỏa táng làm bằng đá và xi măng. Ở phía hạ lưu, khói nghi ngút bốc lên từ những bệ hỏa táng. Dưới bến sông có nhiều bậc tam cấp, người ta khiêng một xác người quấn vải, rồi nhúng xuống nước. Hình như đó là một nghi thức của người địa phương trước khi hỏa táng. Sau đó, thi thể người quá cố được khiêng lên và đặt trên một giàn củi xếp sẵn trên bệ hỏa táng. Một người dùng ngọn đuốc châm lửa vào giàn củi tẩm xăng. Hỏa táng xong, tro cốt sẽ được rải xuống sông, thân người trở về cát bụi…
Đi qua chiếc cầu nhỏ, chúng tôi sang bờ sông bên kia. Ven sông, bọn khỉ leo trèo, chạy nhảy trên dãy miếu vòm (người Hindu gọi là Gumbaz Mandir). Cạnh một ngôi miếu nhỏ, mấy đạo sĩ Hindu mặc áo vàng, đầu quấn khăn đang ngồi phơi nắng. Chúng tôi bắt chuyện, chụp ảnh cùng các đạo sĩ, rồi biếu họ ít tiền.


                                      Chụp ảnh lưu niệm với các đạo sĩ Hindu

Từ bờ sông, chúng tôi theo con đường dốc với nhiều bậc tam cấp đá đi lên đồi. Hai bên đường rợp bóng cây có những dãy miếu vòm và tháp cổ. Có lẽ ở nơi đây, tôn giáo đã phát triển rực rỡ một thời. Điều đáng khâm phục là qua nhiều thăng trầm, đất nước Nepal nghèo khó vẫn giữ được những công trình kiến trúc cổ kính và bản sắc tôn giáo xa xưa.
*

                                                Bảo tháp Boudhanath, Kathmandu

Điểm thứ hai chúng tôi đến thăm là bảo tháp Boudhanath. Đây là một trong những bảo tháp lớn nhất thế giới, là đền thờ Phật giáo linh thiêng của người Tây Tạng ở Nepal. Theo sử sách, khu bảo tháp này có từ thế kỷ thứ 5, nằm trên tuyến giao thương cổ của người Nepal và Tây Tạng. Bảo tháp hiện tại có đường kính khoảng 100m, cao hơn 36m. Năm 1979, UNESCO công nhận bảo tháp là Di sản thế giới.
Bên trong khu vực bảo tháp có nhiều đền thờ, tu viện, nhà cửa với phong cách kiến trúc và sắc màu Tây Tạng. Người định cư, buôn bán ở đây phần lớn là Phật tử người Tạng. Hàng hóa bày bán chủ yếu là đồ lưu niệm và các vật phẩm tôn giáo như: tượng Phật, khăn kata, chuỗi hạt… Đi qua cổng vào khu bảo tháp, bạn sẽ thấy khung cảnh nhộn nhịp: cờ ngũ sắc giăng trên nhà cửa, lối đi; người hành hương với nhiều sắc màu quần áo đi như trảy hội. Có người lầm rầm đọc kinh, có người quay dàn bánh xe mani dưới chân bảo tháp với lời cầu nguyện Om Many Padme Hum. Thỉnh thoảng, từng đàn bồ câu sà xuống khoảng sân ăn thóc rồi vỗ cánh bay lên…


Một nhà sư Tây Tạng

Sau khi đi một vòng quanh bảo tháp Boudhanath, chúng tôi vào một ngôi đền nhỏ, quay bánh xe mani, thắp hương, cúng dường; rồi thăm xưởng vẽ tranh thangka, dệt thổ cẩm của người Tạng. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc gần với người Tạng. Trông ai cũng thư thái, gương mặt bình thản, đôn hậu.
*
Chiều đến, ô tô đưa chúng tôi về nghỉ tại một resort ở ngoại ô Kathmandu. Resort này nằm sát một sân golf, bên cạnh là cánh rừng thông. Ở đây có nhiều quạ, kền kền và khỉ nhưng người ta không săn bắt. Có thể thấy khỉ leo cây, chạy trên nóc nhà, vặt bóng đèn trên cột điện. Vì vậy, du khách được thông báo hạn chế mở cửa sổ, đề phòng khỉ đột nhập quấy phá.


Khung cảnh thanh bình ở bảo tháp Boudhanath