Thứ Tư, 4 tháng 9, 2019

The Red Turtle



Cháu gái tự học bài, ông xem được phim trên HBO: “The Red Turtle” của Michaël Dudok de Wit. Họa hình thật đẹp, những khung hình sử dụng ít màu sắc, nhưng vẫn đầy đủ chi tiết, nét vẽ mô tả thiên nhiên và nhân vật. Cảnh biển xanh sâu thẳm đầy bí ẩn, rừng tre xào xạc hiền hoà, cho tới những cơn sóng thần phẫn nộ và huỷ diệt.

Năm 2001, nhà làm phim Michaël Dudok de Wit từng đoạt Oscar ở hạng mục dành cho phim hoạt hình ngắn với tác phẩm Father and Daughter. nhưng từng khung hình 2D của The Red Turtle lại đầy chất thơ. Những giai điệu sâu lắng của nhà soạn nhạc Laurent Perez del Mar luôn bổ trợ với phần hình ảnh, cùng những âm thanh của sóng biển, rừng cây, để tạo nên cảm xúc và những dư vị ngọt – đắng cuộc đời.

Tôi đã xem Father and Daughter của ông này. Thật tuyệt vời (độ dài 8 phút 30 giây, so với 2 tác phẩm khác của ông là Tom Sweep, 2 phút 30 giây và The Monk and the Fish, 6 phút 20 giây; trong đó tác phẩm The Monk and the Fish một giải Oscar vào năm 1995).
Với nét vẽ tuyệt vời. Nhạc nền, bản “Danube Waves” của Iosif Ivanovici hợp với nội dung phim một cách hoàn hảo. Đời ông, trước phim này, mới làm được 21 phút thước phim.
Bộ phim "Father and Daughter" có một kết cục mở, người xem có thể lựa chọn những cách theo ý mình. 
Nó như chứa đựng một ẩn dụ. Hình ảnh người cha lên thuyền đi xa là cái chết của ông. Hình ảnh người con gái ngóng đợi cha mình là sự tưởng nhớ về ông trong suốt cuộc đời của cô. Khi cô gái đã trở thành bà lão và đi xuống hồ, đó là lúc bà qua đời và đoàn tụ với người cha của mình, lại trở thành cô con gái bé nhỏ của ông. 

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

Màu sắc cổ đại

Màu sắc cổ đại: từ tranh hang động đến Cô Gái Đeo Hoa Tai Ngọc Trai



Phan Lặng Yên
  • Tranh Hang Động và màu Ochre
Mục đích của những bức tranh hang động đến hiện nay vẫn không rõ ràng, tuy đây là những sáng tạo đầu tiên của con người, nhưng liệu nó mang mục đích mỹ thuật hay trang trí? Vì các hang động thường là nơi ở tạm bợ trong đời sống du cư, và tranh lại ở những vị trí khó tiếp cận. Nếu mang mục đích “hội họa/mỹ thuật” thì thứ đầu tiên được vẽ phải là con người. Nhưng không, các hình vẽ chi tiết nhất là hình bò, ngựa, động vật: các nguồn thức ăn – với mong ước săn bắt được nhiều hơn (mang màu sắc tín ngưỡng sơ khai). Đồng thời đây là một cách giao tiếp với những người đến hang sau đó: “Tôi đã từng ở đây”. Con người đôi lúc xuất hiện trên tranh, trong cảnh săn bắn, nhưng chỉ bằng vài nét đen đơn giản.
Các bức tranh này được vẽ bằng màu Ochre – kết hợp giữa loại đất/đá son (hoàng thổ) chứa sắt oxide có màu từ vàng, cam đến nâu đỏ, pha trộn với mỡ động vật – là một màu tự nhiên dễ kiếm và bền với thời gian.





Có một tranh hang động khá độc đáo được tạo bằng cách bôi mỡ lên tường, đặt tay lên rồi thổi bột màu.

Màu này cũng được dùng phổ biến ở Ai Cập cổ đại và tranh tường La Mã



Đất son đỏ được người Phi châu dùng suốt 200,000 năm qua. Ngày nay các cô gái Himba ở Namibia vẫn dùng phương pháp ấy (trộn bột đất với mỡ động vật) rồi bôi lên người lẫn tóc sau khi bện, tạo nên màu da đỏ rực rỡ độc đáo.
  • Lapis Lazuli – màu xanh quý giá
Lapis Lazuli – một màu xanh ấn tượng nghiền từ một loại đá bán quý khai thác từ từ các mỏ quặng ở Đông Bắc Afghanistan từ thời Đồ-đá-mới, cách đây 9,000 năm. Lapis Lazuli trở thành món trao đổi đắt giá ở nền văn minh lưu vực sông Ấn, nó được tìm thấy trong hầm mộ đương thời ở Mehrgarh (Pakistan), ở Caucasus, thậm chí ở ‘tận cùng thế giới’ Mauritius (Tây Bắc châu Phi), cách mười mấy ngàn km. Sáu ngàn năm sau nó được dùng để vẽ mắt và lông mày cho mặt nạ xác ướp pharaoh Tutankhamun, tác phẩm nghệ thuật cổ đại nổi tiếng nhất.

Cuối trung cổ, Lapis Lazuli đến châu Âu. Vì sự quý hiếm của nó nên thời Phục Hưng, Lapis Lazuli chỉ được dùng (và thành một chỉ dấu) cho các tranh vẽ Đức mẹ.

Màu xanh này cũng là một trong những lý do làm nên bí ẩn của bức “Cô gái đeo hoa tai ngọc trai”, Vermeer lúc đó là hoạ sĩ nghèo với 11+4 đứa con. Một cô gái với khóe miệng cười mặc trang phục người hầu trong một bức tranh được chăm chút tỉ mỉ, thay vì các quý ông, mệnh phụ, tiểu thư thuê vẽ như lệ thường thời ấy.

Lapis Lazuli cũng được Van Gogh dùng trong Starry night, lúc này màu đã được đóng tuýp không cần phải tự mài nữa. Thời hiện đại thì có Yves Klein một thời gian dài chỉ dùng duy nhất màu này để vẽ.



Màu Egyptian-Blue
Các lăng mộ Pharaoh là nơi lưu giữ xác ướp hoàng đế với mong ước được tái sinh nên xác ướp được giữ kèm vô số vàng bạc châu báu và những đồ quý giá. Không những vậy, trên tường hầm mộ còn vẽ kèm đủ loại quan quân, cung nữ, cây trái, cao lương mỹ vị để mang theo. Các màu sắc để vẽ đều sẵn từ đất đá tự nhiên: màu Ochre, màu xanh ngọc, màu trắng đá phấn…. Nhưng có một thứ cần đem theo nhưng không tìm được màu phù hợp: sông Nile. Thời đó màu Lapis Lazuli quý giá đã được mang về từ Afghanistan nhưng lại quá hiếm và đắt đỏ để vẽ lên cả bức tường. Thế rồi sau nhiều tìm tòi, Egyptian-Blue ra đời, đây là màu nhân tạo đầu tiên được biết đến. Đến thời La Mã thì nó ít được dùng dần và đi vào quên lãng, nhưng có lẽ nó được tạo bằng đá xanh ngọc nung với cát sa mạc. Màu nhân tạo đầu tiên không chỉ có ý nghĩa với mỹ thuật mà việc biến được chất này thành chất khác là một bước tiến, một nhận thức lớn của loài người. Nó xác lập nền móng để giả kim thuật ra đời, giả kim thuật tuy ngàn năm thất bại nhưng mang lại vô số phát minh ý nghĩa cho loài người và là nền tảng cho ngành hóa học hiện đại.



  • Những màu sắc từ thời cổ đại khác
Màu đen carbon xuất hiện khi con người tìm ra lửa, rồi tìm ra cách đốt củi thành than nơi kín khí. Họa sĩ mọi thời đại luôn dùng than rồi than chì để vẽ phác trước khi vẽ nét. Chất liệu này hiện diện trong cả sơn dầu lẫn màu nước, đến cả mực in máy photocopy và máy in laser hiện tại. Trước kia, hai màu đen carbon nổi tiếng nhất là đen nho, được tạo thành khi đốt cây và cành nho, màu còn lại có được nhờ thu thập muội đèn.
Một màu đen khác xuất hiện từ thời cổ đại và được dùng đến ngày nay, màu đen-xương. Như tên gọi, nó được tạo thành bằng cách đốt xương hoặc những mẩu ngà voi bỏ đi, sắc đen nhạt hơn nhưng màu sệt hơn. Đây là màu yêu thích của danh họa Rembrandt, như trong tranh chân dung Philips Lucasz này


Cùng thời cổ đại, màu đỏ nâu đậm hơn ba màu Ochre vàng-cam-đỏ là màu umber,  đến từ một loại đá có oxit và hidroxit của sắt và mangan.

Cuối cùng, màu trắng, lime green, thời cổ thì đơn giản là một mẩu đá vôi. Sau này thì có thêm loại “Bianco san Giovanni” (tên một vị thánh tử đạo), được ngâm và thay nước 8 ngày rồi đem đi phơi nắng, tạo nên một hỗn hợp của đá vôi và Ca(OH)2

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2019

Vở ballet Đôi giày đỏ


FB Phan Lặng Yên
"Vở ballet Đôi giày đỏ dựa trên một câu chuyện cổ tích của Andersen. Một cô gái bị nuốt chửng bởi ham muốn được tham dự vũ hội trong một đôi giày đỏ. Vậy là cô mang giày vào và đến buổi dạ tiệc. Ban đầu, mọi chuyện đều tốt đẹp và cô rất hạnh phúc. Đến khi tàn tiệc, cô thấy mệt nhoài và muốn về nhà, nhưng đôi giày đỏ vẫn chưa mệt. Thật ra, đôi giày đỏ không bao giờ biết mệt. Nó buộc cô tiếp tục nhảy múa trên đường, qua những ngọn núi và thung lũng, qua những cánh đồng và rừng sâu, qua cả ban ngày lẫn đêm đen. Thời gian trôi qua, tình yêu trôi qua, cuộc đời trôi qua, nhưng đôi giày đỏ vẫn nhảy. Cô gái nhảy múa đến chết."
The Red Shoes ra mắt năm 1948 tức sau thế chiến 2 không lâu mà hình ảnh rực rỡ xa hoa như một buổi đại tiệc, lại vừa ám ảnh đáng sợ như một cơn ác mộng. Này chắc chắn là phim về ballet đẹp nhất mọi thời đại và một trong những phim hiếm hoi có thể nói là hoàn hảo về mọi khía cạnh: hình ảnh đẹp đến nghẹt thở, thoại sắc như dao găm, cách xây dựng nhân vật & kể chuyện & diễn xuất chắc như đóng đinh... phim này mang lại những vết thương ngọt ngào tựa như một đôi giày đỏ.
Nói chứ, thế giới này quả thật bất công khi không còn ai nhớ tới bộ đôi làm phim huyền thoại The Archers của The Red Shoes, trong khi lóa mắt nức nở vì cái phim Black Swan. Mình thích cô Natalie Portman, cô diễn xuất giỏi nhưng cái phần cô huơ huơ tay kiểu ballet cứ làm mình trợn tròn mắt. Mà trừ diễn xuất của cô ra thì chính ra phim này chả có gì đáng nói. Mấy cái motif về split personality được sao chép từ Perfect Blue, trong khi chủ đề "art consumes life" đã được làm quá tốt trong The Red Shoes. Còn thoại, trời ạ, thoại còn kinh dị hơn nội dung phim. 

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2019

Cây Sống sót (Survivor Tree)

Cây Sống sót (Survivor Tree): Cây Lê callery kiên cường trụ vững trong ngày 11/9:
Những cái cây đặc biệt của nước Mỹ, biểu tượng nước Mỹ, cây cổ thụ đặc biệt được xem như báu vật của nước Mỹ
(Ảnh: Amusing Planet).


Khi những công nhân dọn dẹp phát hiện ra phần thân đã cháy thành than của cây Lê callery với phần thân đã cháy thành than này dưới đống gạch vụn 1 tháng sau thảm họa 11/9, họ không hy vọng rằng nó có thể sống sót. Chỉ với đúng 1 cành còn có dấu hiệu của sự sống, cây Lê kiên cường này được gửi đi phục hồi dưới sự chăm sóc của Bộ phận Quản lý Công viên và Giải trí thành phố New York.


Sau 9 năm được chăm sóc tại một vườn cây ở Bronx, Cây Sống sót này được đưa về trồng tại Bảo tàng và Đài tưởng niệm 11/9 Quốc Gia. Cảm động trước hình ảnh cây lê kiên cường này, người dân Mỹ trân trọng đặt tên cho nó là Cây Sống Sót (The Survival Tree). Nó đã vươn lên mạnh mẽ ở một nơi trang nghiêm với đầy ắp những kỷ niệm và ngập tràn sự sống này. “Những phiến lá non tơ mọc ra từ gốc cây xương xẩu, tạo ra sự phân chia ranh giới có thể nhìn thấy bằng mắt thường giữa quá khứ và hiện tại”, Bảo tàng viết, “Hôm nay, cái cây này đứng tại đây như một lời nhắc nhở về sức bật, khát vọng sinh tồn và tái sinh !”.



Jean-Marc Ayrault - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp – 
đón nhận giống chiết từ Cây Sống Sót

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2019

Heracles và Lichas

Phan Lặng Yên


Heracles và Lichas
Heracles đánh vật thắng thần sông Achelous, giành được nàng Deianira về làm vợ. Achelous ban đầu là thần của mọi nguồn nước - các con sông là gân trên người ông, sau này được xem là thần của sông Achelous, sông lớn nhất Hy Lạp, sếp sòng các thần sông khác. Trên đường về Tiryns, ngang qua một dòng sông chảy xiết, nhân mã Nessus nhận cõng giúp nàng Deianira trong lúc Heracles bơi sang. Như mọi nhân mã khác, Nessus tính cuỗm luôn nàng ấy khi lên bờ trước, liền bị Heracles bắn bằng mũi tên tẩm máu độc quái vật 9 đầu Hydra. Trước khi chết, để báo thù, Nessus tặng cái áo thấm máu cho Deianira làm bùa yêu quyến rũ chồng (ngu ngơ tin người vcđ, hết chồng rồi vợ bị con ngựa lừa).
Nhiều năm sau, có tin đồn chồng lăng nhăng với công chúa Iole xứ Oechalia (chuyện quá thường với Heracles, con rơi cả bầy, nửa gene từ ông bố còn gì), Deianira bèn đưa chiếc áo ấy cho chồng, nhờ tay chàng hầu Lichas. Chiếc áo thấm máu độc ấy làm bỏng cháy da thịt Hecrales, đến tận xương. Hiểu nhầm và nổi điên lên, mặc cho Lichas van xin, Heracles túm lấy đầu xoay mất vòng rồi ném thẳng xuống biển. Cú ném quá mạnh, quá cao (lạnh), cùng với nỗi sợ hãi tột độ khiến Lichas đông cứng lại, thành một đảo đá trên biển Euboean. Chưa chết, Heracles lêt lên núi Oeta nhổ cây tự dựng giàn thiêu cho mình, phần hồn được Zeus hốt về Olympus vui thú điền viên.
Bức tượng tráng lệ, bắt lấy sức mạnh, sự điên cuồng và nỗi sợ hãi được Antonio Canova hoàn thành trong 20 năm, cho một thân vương Ý, giữa nhiều biến động từ cách mạng Pháp đến thất bại cuối cùng của Napoleon (xem cận cảnh chi tiết ở bit.ly/2ZofCUO).

 Bức tranh cùng tên được họa sĩ Nga Pavel Sorokin vẽ năm 1849, khi chỉ mới 13 tuổi (!)