Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Đề tựa Phù Sinh Lục Ký


Đề Phù Sinh Lục Ký của xử sĩ Thẩm Tam Bạch

Lưu, Phàn đôi lứa hiếm trên đời;

(Lưu, Phàn: theo Thần tiên truyện, đời Hán có Lưu Cương tự Bá Loan, vợ là Phàn phu nhân, cả hai đều giỏi đạo thuật, khi rảnh rỗi thường so đấu với nhau, về sau cả hai cùng thành tiên) 

Hoa, phượng cam lòng chớp mắt bay.

Còn lại buồng khuê câu tuyệt cú;

"Thu sang cúc mập, bóng người gầy.

(Nguyên chú: Người vợ ông giỏi làm thơ, đây là câu thơ còn lại chép trong tập này vậy. (Tức câu thơ: ‘Sương giăng hoa cúc mập; Thu lấn bóng người gầy, ở phần “Vui khuê phòng”.))

*

Trăng hoa mây khói tốn văn chương;

Khiến lúc thanh nhàn, việc lại mang.

Chẳng bởi trần ai giảm phúc trạch;

Chi nề suối đá sẵn tâm trường.

*

Trung niên trắc trở đến mười mươi;

Cốt nhục đâu nhiều, lại phải rời.

Đau đớn đường cùng, thay nhỏ lệ;

Tưởng đêm sông vắng, tuyết tơi bời.

*

Tần, Sở non sông mắt đã coi;

Lại lên chơi tận Việt vương đài.

Cuộc chơi thứ nhất, nên hằng nhớ;

Thuyền đậu sông Tư, trăng sáng soi.

*

Thuyền sứ xa khơi một thuở qua;

Trung Sơn phong thổ chép truyền ra.

Mây xuân đậu lại Lưu Ngân thất;

Nghe sóng, canh ba dậy nấu trà.

*

Bạch tuyết hoàng nha, luận hữu vô;

(Bạch tuyết hoàng nha: thuật ngữ trong thuật luyện đan của đạo giáo. Bạch tuyết chỉ thủy ngân, Hoàng nha chỉ chì, là hai thứ dùng trong luyện đan) 

Quy về tính mệnh, chẳng toàn hư.

Dưỡng sinh bí quyết lưu từ đó;

Chớ đến Lang Hoàn hỏi Tố thư. 

(Lang Hoàn: chỉ nơi tàng trữ kinh sách của trời. Tố thư: tức sách tiên của Hoàng Thạch Công)

Quản Di Ngạc,

tự Thụ Thuyên, người Dương Hồ.


Lời tựa sách “Phù Sinh Lục Ký” của Cận Tăng

Cuốn sách này hợp cùng với các cuốn Ảnh Mai am ức ngữ của Mạo Sào Dân, Vật lý tiểu thức của Phương Mật, Nhất gia ngôn của Lý Lạp Ông, Du ký của Từ Hà Khách, ngắn dài xâu chuỗi, thì ắt như riêu Ngũ Hầu (Riêu ngũ hầu, hay Ngũ hầu thinh, là món của Lâu Hộ đời Hán đem các thứ đồ ăn quý của nhà năm tước hầu họ Vương nấu lẫn cả cá, thịt với nhau mà thành), như Quần phương phổ, mà tình tự chẳng hoang tạp, tông chỉ cực u nhã. Lòng đẹp khá không cần sửa, cảm ngộ đâu thể tự nguôi, thực là ngoại thiên của Ly tao, nối tiếp của Vân tiên vậy (Ly tao là tác phẩm thơ ca của Khuất Nguyên đời Chiến Quốc, Vân tiên là tác phẩm thơ ca của Cát Lập Phương đời Tống). Trước nay, những tiểu thuyết gia thường tìm mới nêu lạ, dời bước đổi hình. Những tác giả về sau, cơ hồ không thể nào còn chỗ mà hạ bút, vậy mà sách này lại dựng một ngọn cờ riêng, chỉ tiếc rằng chương quyển không còn toàn vẹn, khiến độc giả phải tiếc nuối. Thế nhưng, vẻ diễm lệ thê lương, xinh tươi sống động, có thể khiến tinh thần sảng khoái, hồn phách phiêu diêu trong đó, thật cảm lòng người sâu sắc lắm vậy.

Kẻ hèn này vốn người thất ý, tuổi đã xế chiều. Trước chiếu rộng của An Nhân, bụi phủ màn meo (An Nhân tức Phan Nhạc, tự An Nhân, nhà văn đời Tây Tấn. Ông có bài thơ Điệu vong thi tam thủ để tưởng niệm vợ mình là Dương thị, trong đó có câu: “Triển chuyển hễ chẩm tịch; Trường điệm cánh sàng không” - Trằn trọc trông chăn gối, Chiếu rộng lại giường không. Đây người viết lời tựa ý muốn nói mình cũng trong cảnh mất vợ); Dựa nhà cũ của Công Hà, tìm trồng thảo dược. (Tôi ở phía tây chùa Định Quang, là nơi nền cũ Dược Thảo sơn phòng của Châu Công Hà đời Minh trước đây.) Bể giời lưu lạc, nếm chua chát chốn sậy lau; Non nước ngao du, sẵn hào tình ngoài hoa cỏ. Nơi tớ từng trải, hoặc cũng giống anh; Lời anh nói ra, hầu đều trước tớ. Duy có dưỡng sinh nhác ý, học đạo trái lòng, cũng tự cảm thấy còn thiếu sót, lại có ai mà bổ sung giúp cho chăng? Phù sinh như mộng, ấn khắc ngọc mài (Tôi có giữ một cái ấn tròn bằng sừng tê cũ, khắc hai câu: “Phù sinh nhược mộng, Vi hoan kỷ hà.” - Phù sinh như mộng, vui thú là bao); Ghi việc đầu tiên, Quý Mùi cùng tuổi (Tam Bạch tiên sinh sinh năm Quý Mùi niên hiệu Càn Long, tôi sinh năm Quý Mùi niên hiệu Đạo Quang). Trước sau sáu chục năm, có các bậc tiền bối ở làng làm chứng cho tôi, ngẫm cũng kỳ lạ vậy. Xin làm mười bài thơ, há chỉ than ba nỗi:

Diễm phúc tài lành đôi ý hợp;

Tân Hương trên gác đọ tài thơ.

Canh khuya chén cháo hoa đào nếm;

Tương ngọt Song Tiên mới biết cho.

*

Bên đàn cười tựa mái đàu xanh;

Khoáng đạt phong lưu vốn tính linh.

Khéo học sơn gia phép trồng trọt;

Hiên Di Xuân dựng Hoạt hoa bình. 

(Hoạt hoa bình: tức bình phong hoa tươi mà nàng Vân làm ra ở nhà họ Hoa)

*

Hoa đẹp theo nhau đóa trổ đầy;

Sỏi to bình nhỏ thỏa trưng bày.

Cười ai nhỏ mọn Bản kiều ký;

(Tức Bản Kiều tạp ký - tác phẩm của Dư Hoài - tác giả cuối Minh đầu Thanh, viết thời Khang Hy, gồm ba quyển, ghi chép tản mạn các chuyện du ngoạn, mỹ nhân, giai thoại nhân vật...)

Chỉ hẹn Trương Khôi sớm tới đây.

(Trương Khôi: là nhân vật được chép trong Bản Kiều tạp ký quyển 3, giỏi thổi tiêu) 

*

“Đã qua bể biếc đâu là nước;

Trừ chốn non Vu chẳng phải mây.”

Giữ tấm tình chung với thiên cổ;

Tờ uyên nhân thế đốt đi ngay.

*

Họa tự trong nhà khá đáng thương;

Trong màn cái én bóng thê lương.

Gọi đèn mở cửa đêm đen chạy;

Quyên khóc đầu cây mấy oán hờn.

*

Hoa lê tiều tụy bóng trăng dài;

Mộng dứt ba xuân ở tối nay.

Bên lối ngọc câu như gặp lại;

Khôn kham chàng Thẩm tấm thân gầy.

*

Tuyết đổ sông băng vượt bén nguỵ;

Chân trời thăm thẳm biết làm chi?

Viết nên nỗi khổ người chinh lữ;

May chửa sinh vào thuở loạn lỵ.

*

Bên ngọn Thiết Hoa xuân đẹp đẽ

Cạnh non Đồng Tỉnh tuyết thơm tho.

Mở ra cảnh giới thơ từ ấy;

Hồ núi xinh tươi tựa cảnh nhà.

*

Trong mắt khói mây vờn ngọn bút;

Chợt say nhã thú, chợt tình nồng.

Thuyền hoa đèn đuốc, lều cao nguyệt;

Coi tựa Đăng Châu ảo ảnh trông.

*

Dẫu được thần tiên ấy cũng thường;

Kim đan khổ luyện khéo tham hòng.

Đảo tiên nghe nói thuyền qua được;

Cũng ở hư vô giữa có - không.

Đầu đông năm Giáp Tuất niên hiệu Đồng Trị (1874),

Cận Tăng ở Hương Thiền tinh xá đề.

*

Lời tựa sách “Phù Sinh Lục Ký” của Dương Dẫn Truyền cư sĩ

Sách Phù sinh lục ký này, tôi tìm được trong một quán nhỏ ở quận thành. Sáu đoạn ký đã thiếu mất hai, là bản thảo chính tay tác giả viết. Theo như những gì ông ghi chép mà suy, thì biết rằng họ Thẩm, tự Tam Bạch, mà tên thì đã không rõ, tôi hỏi khắp trong thành nhưng chẳng có ai hay biết cả. Cuốn sách thì các ông Thứ sử Diệp Đồng Quân người Vũ Lâm, Mậu tài Phan Lân Sinh, sơn nhân Cố Vân Tiều, minh kinh Đào Dĩ Tôn, ai đọc rồi cũng đều lấy làm say lòng vậy. Ông Vương Thao Viên gửi tới cho xem sáu bài tuyệt cú đề Phù Sinh Lục Ký của họ Quản ở Dương Hồ, tôi mới biết rằng phần bị mất có Trải Trung Sơn, là vì ông từng đến Lưu Cầu vậy. Những cái hay của sách này, đã ghi tường tận trong lời tựa của Lân Sinh. Cận Tăng tức là biệt hiệu của Lân Sinh, lại lấy con dấu Phù sinh nhược mộng, vi hoan kỷ hà đóng ở đầu cuốn sách.

Ngày mồng Bảy, tháng Bảy, năm Quang Tự thứ ba (1877),

Độc Ngộ am cư sĩ Dương Dẫn Truyền đề thức.

 

Lời bạt sách “Phù Sinh Lục Ký” của Vương Thao

Anh vợ tôi là minh kinh Dương Tô Bổ từng mua được cuốn Phù sinh lục ký đã rách nát ở một quán nhỏ, đọc thấy bút mực buồn thảm vấn vương, ý tình vô cùng sâu nặng trong chuyện vợ chồng lại càng thống thiết lắm. Tác giả nhà ở bên đình Thương Lang, có đủ thắng cảnh suối đá rừng cây, mỗi khi trà đượm hương nồng, trăng lên hoa nở, vợ chồng cùng bày chén đối ẩm, tìm câu nối thơ, điều lạc thú tưởng kẻ trong chốn thần tiên cũng chẳng bằng được vậy. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, tất thảy đều thành hư ảo. Ấy là lý do mà tập ký này ra đời vậy.

Khi tôi còn trẻ từng bạt vào sau cuốn sách rằng: “Xưa nay, lý có chỗ chẳng thể biết, việc có chỗ chẳng tất nhiên, tình có chỗ chẳng đừng được. Vợ chồng cùng nhau một đời, mà có người được thế, có người chẳng đến được thế, là sao vậy? Ấy là vì, được một người vợ đẹp, nếu chẳng phải là tu mấy đời thì chẳng thể có. Vợ mà lại vừa có tài vừa có sắc, thì tất bị tạo vật đố kỵ, chẳng ở góa cũng chết yểu. Cho nên chong với vợ suốt xưa tới nay chẳng cùng hợp với nhau một nơi, nếu có tạm hợp, thì cũng lập tức thành góa hay chết yểu, thật đáng tiếc thay! Chính vì cái sự góa yểu ấy, mà cái tình càng thêm sâu. Nếu không, thì dẫu trăm năm chung sống, cũng ích gì nữa? Ô hô! Người ta có cái cảm thán không được gặp gỡ, hoa lan hoa đỗ có nỗi bị thương phải chịu úa tàn. Trước nay, những người vợ tài sắc, phải chung thân mai một, phiền muộn chán chường, thậm chí có người sa chân lỡ bước cũng chẳng ít vậy, mà số người chịu chết yểu để được gặp gỡ như mình mong muốn, cũng khó có vậy. Thế nên kẻ hậu nhân điếu viếng, hoặc than thở về nỗi mệnh chẳng gặp lúc, hoặc thương xót cho điều thọ chẳng dài lâu. Những kẻ tầm thường kia dẫu cho có cùng nhau trăm năm, mà chẳng cần đến trăm năm cũng đã mai một đi rồi vậy. Bị tạo vật đem lòng đố kỵ, cũng chính là được tạo vật giúp cho làm nên chăng?” Ngoảnh lại, viết lời bạt này chưa đầy một năm, thì bèn phải soạn bài phú điếu vong (Vương Thao viết lời này chưa đầy một năm, thì vợ ông qua đời), nhẽ lời này cũng là lời sấm vậy.

Cuốn sách này tôi lấy làm tiếc rằng chưa kịp chép lại một phó bản cho mình, từ khi lữ ngụ ở Việt đến nay chẳng lúc nào không nghĩ đến nó. Nay nghe, Tô Bổ đã trao cuốn sách cho chủ nhân Tôn Văn Các để sắp chữ in ấn, tôi đặc ý gửi đến bài bạt này, phụ in vào cuối sách, để ghi nhớ cái thuở ban đầu vậy.

Trung tuần tháng Chín, mùa thu năm Đinh Sửu (1877),

Ngọc Thẩm sinh Vương Thao người Tùng Bắc

đề thức trong khi nằm bệnh.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét