Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2022

Người tỉnh nói chuyện mộng du

Người tỉnh nói chuyện mộng du

Nhắc tới Mạc Ngôn là nhắc tới tiểu thuyết và truyện ngắn. Nhà văn với các sáng tác Báu vật của đời, Cao lương đỏ, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận, … đã trở thành tên tuổi quen thuộc của độc giả. Sự góp mặt của tập tản văn “Người tỉnh nói chuyện mộng du” thật khiêm nhường nhưng là món ăn “thú vị” đối với người đọc. Suy nghĩ về con người và lẽ sống được bộc lộ trong nhiều bài viết.

Tập tản văn bao gồm 25 bài viết lớn nhỏ, ấn tượng về nước Nga, về thảo nguyên Nga và cuộc sống con người Nga. Tiếng chim, cánh đồng thảo nguyên màu mỡ, hoàng hôn và ánh trăng. Có các so sánh và liên tưởng rất thú vị trong tản văn Mạc Ngôn, “tiếng chim ríu rít như những em nhỏ vừa nghe chuông tan lớp” hay “Dãy núi nhấp nhô khiến tôi liên tưởng đến một thiếu nữ mơ màng đang nằm ngủ, những ngọn núi trông như những khuôn ngực đẫy đà”. Tâm hồn rộng mở, phóng khoáng có được niềm hạnh phúc khi cảm giác “nắm đầy ánh trăng trong lòng bàn tay… thậm chí cảm nhận được tiếng vỡ của trăng”.

Điều sâu sắc là nỗi lo lắng và dự cảm của nhà văn. Niềm tin tưởng vào sức lao động và sáng tạo của nhân dân lao động. Thiên nhiên Nga, con người Nga không những đem lại cho tác giả cảm xúc “huy hoàng” mà đôi khi cả những “thất vọng ê chề”. Bữa ăn trưa nhạt nhẽo chán chường khiến những tưởng tượng về một nước Nga văn học “bốc hơi” hết, may thay phụ nữ Nga đã tạo một cảm tình đặc biệt với tác giả.

Động vật

Những bài viết về chó, chim, ngựa cho thấy những tình cảm và kí ức không thể quên của nhà văn. Chuyện bị chó cắn khiến ông có những chuyển biến tâm lí sâu sắc, buộc lòng phải giết chó nhưng điều Mạc Ngôn đau lòng là mình không đánh chết nó “trong động tác đau khổ”. Sự gắn bó của loài chó và con người trong lịch sử tiến hóa nhân loại, những oan ức của chó, công lao của chó và cả những ẩn ức trong “đôi mắt” con chó nhà trước khi chết là sợi dây tình cảm khiến nhà văn suy nghĩ. Cách nói bỗ bã, nhưng giàu tình cảm là nét duyên của Mạc Ngôn trong văn chương. Cách mà ông miêu tả hình ảnh những con chó đội mũ nhung be bé nằm trong “khe núi vú” của những người đàn bà Nga cho thấy ông dành cho nước Nga và con người Nga một tình cảm trìu mến.

Dù ở đâu thì những ấn tượng về loài vật ở quê nhà vẫn đặc biệt. Chó nhà tuy không được bữa ăn ngon như giống chó Đức nhưng điều chúng có là sự tự do. Nói về mối quan hệ gắn bó giữa con người và loài vật, nhà văn gợi lên kỉ niêm khó quên về câu chuyện chân gãy của con ngựa. Chỉ có ở con quê mình, ông mới tìm được “chất phóng túng hoang dã” trên thân thể chúng. “Mấy chục con ngựa tung vó trên cánh đồng hoang sơ như một dòng sông nhiều màu sắc đang ầm ầm nổi sóng”.

Theo cách nói của Mạc Ngôn, ông đã “thâm nhập” vào “tâm linh” của loài vật mới có thể cảm nhận được nỗi đau và suy nghĩ của chúng. Nhà văn rất chân thật, ông dám nhìn thẳng vào đôi mắt từng con vật. Chuyện nhà văn báo cáo với cấp trên người đồng đội bắn giết chim vô tội vạ cùng chi tiết cái lưỡi khi chết của con chim gõ kiến cho thấy ông hiểu chúng như thế nào.

Cuộc sống ở Đông Bắc Cao Mật

Dành phần lớn cuốn sách của mình, tác giả viết về những vấn đề có mối quan hệ mật thiết với con người. Đó là chuyện ăn, chuyện ở, chuyện tắm và sở thích âm nhạc, đọc sách, … Nếu đã đọc tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng ta đều biết rằng, bối cảnh và con người trong nhiều tác phẩm đều có xuất phát từ quê hương Đông Bắc Cao Mật của ông. Đọc Người tỉnh nói chuyện mộng du, ta có được hình dung chân thực về nơi nhà văn sinh ra và lớn lên.

Chuyện “Tường hát” miêu tả một cách cụ thể và tỉ mỉ cái làng quê ấy. Con đường cát vàng giữa làng với hàng cây “vàng ươm” lá vào mùa thu, nắm đất đen qua “bàn tay điêu luyện” của tổ tiên ông đã thành những đồ gốm sứ, những thảm cỏ cùng nhiều loại thú trong thiên nhiên đã tạo nêm một không gian thôn dã thân quen và ấm áp. Những cái ao trên đồng cùng những truyền thuyết của nó gợi lên sự tò mò và thích thú cho người đọc về vùng đất này. Không chỉ có cảnh mà con người cũng là nhân tố đặc sắc của câu chuyện. Đó là những Hứa Bàn Tay To, những cô gái câm xinh đẹp gia tộc họ Tôn và bao lớp người ở Cao Mật. Hình ảnh “Chợ tuyết” mãi là kí ức đẹp nơi tâm hồn nhà văn. Cũng như bức tường biết hát dù đã sụp đổ nhưng những âm thanh thì đã thấm nhuần vào kí ức bao người và mãi mãi được lưu truyền.

Chuyện ăn

Viết về quê hương, về nơi mình sinh ra, trăn trở nhất trong sáng tác của tác giả là chuyện cái ăn. Ở cuốn tạp tản văn này, ông dành nhiều trang sách viết về cái đói. Chuyện ăn ám ảnh Mạc Ngôn. Bởi lẽ, ngay từ khi biết suy nghĩ, cái đói đã triền miên trong đời sống của ông. Nhà văn sinh năm 1955, suốt 20 năm gắn bó ở quê nhà cho tới ngày nhập ngũ (1976) là quãng thời gian đất nước Trung Quốc trải qua nhiều biến động, cũng như bao người dân Trung Quốc, Mạc Ngôn đã sống những ngày tối tăm nhất khi cái đói luôn rình rập, chực chờ và đe dọa. Tự nhận ham ăn thuộc về phẩm chất con người mình. Cho tới tận sau này, dù không còn lo chuyện ăn nữa, song cái ăn vẫn rất ám ảnh ông. Chuyện ông ăn nhiều, ăn nhanh hay “dáng ăn hùng hổ” không đơn giản chỉ vì đói. Vấn đề ăn và cái đói đã trở thành những ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn Mạc Ngôn.

Chuyện giành ăn với cô em họ, chuyện ăn vụng thức ăn thậm chí cả ăn trộm để ăn được Mạc Ngôn ghi chép một cách tỉ mỉ. Những kí ức kinh hoàng về cái đói luôn hiển hiện thường trực trong tâm trí nhà văn. U ám nhất là cái chết, người chết đói và bữa ăn ngày đói. Nhưng vượt lên những năm tháng hắc ám đó, Mạc Ngôn vẫn giữ được cái nhìn trong sáng về cuộc sống.

Cái đói trở thành nỗi vật vã của con người, phủ trùm bóng đen không gian cảnh vật, song trong cái đói, người ta cũng nhận được những giá trị đáng để sống tiếp. Nồi rau hổ lốn trong chiếc mũ sắt, bát canh thịt ngựa, miếng bánh ép khô, cảnh cả làng đi tìm cái ăn suốt 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Những kí ức tuổi thơ tuy ảm đạm nhưng vẫn ấm tình người. Và cũng chính những ngày tháng ấy đã để lại trong Mạc Ngôn nhiều trải nghiệm nhất để sau này trở thành nguồn tư liệu trong trang sách của ông.

Không chỉ dừng ở chuyện ăn, tản văn Mạc Ngôn nói về niềm hạnh phúc của con người. Đó có thể là chuyện tắm nước nóng, chuyện cảm thụ âm nhạc, chuyện về đôi cừu, chuyện uống trộm rượu, và hơn tất cả, trở đi trở lại trong tản văn của ông vẫn là những câu chuyện về quê hương, những ước mơ, khát vọng từ một cậu bé ham đọc đến giấc mộng đại học và trở thành nhà văn.

Đôi nét về Mạc Ngôn

Mạc Ngôn ham đọc từ bé. Bằng cách này, cách khác, thưở nhỏ, ông đã đọc hầu hết các cuốn “nhàn thư” như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử truyện, Nho Lâm Ngoại Sử,… cũng như các bộ tiểu thuyết hiện đại mà mình mượn được. Mạc Ngôn bộc lộ một trí nhớ đặc biệt từ thưở bé. Dù trong điều kiện phải đọc giấu diếm và ngấu nghiến nhưng ông có thể nhớ được hầu hết các tình tiết và tên tuổi các nhân vật. Kỉ niệm về đọc sách thì nhiều, song niềm ham sách lưu lại trong Mạc Ngôn là chuyện đọc ké sách và giành sách với anh trai. Trong điều kiện cuộc sống khó khăn, mỗi cuốn sách đã đem lại cho nhà văn của chúng ta những ý nghĩa tinh thần vô cùng sâu sắc. Một đứa bé đang học tiểu học có thể xúc động phát khóc lên trước nỗi đau của nhân vật, rưng rưng những giọt nước mắt hạnh phúc trước mối tình của PaVen và ĐoNhiA, điều đó chứng tỏ khả năng cảm thụ văn học và tâm hồn đặc biệt nhạy cảm, vô cùng phong phú của tác giả.

Có lẽ Mạc Ngôn sinh ra là để làm một nhà văn. Mặc dù con đường học hành không được hanh thông, phải dừng học khi đang học dở lớp 5, nhưng tinh thần ham học của Mạc Ngôn thì vô cùng lớn. Tháng ngày ngắn ngủi ngồi ở trường tiểu học còn ghi đậm trong tâm trí nhà văn. Những bài văn có bút tích của thầy giáo Trương cùng chiếc quần không đáy và chiếc thắt lưng là kỉ niệm đáng nhớ nhất mà tác giả có được thời đi học.

Chính vào thời gian bị dừng học, phải trở thành người lao động, mộng văn chương đã hình thành trong ông. Ngay từ những năm 70, từ thực tế nơi địa phương, Mạc Ngôn đã tập tành sáng tác. Và sau nhiều lần chưa thành công, mùa thu năm 1981, truyện Mưa đêm xuân bay bay của ông được đăng trên báo. Mất học trở thành trẻ chăn trâu cắt cỏ, tưởng chừng tương lai đóng lại trước mặt, song bằng niềm ham học, Mạc Ngôn đã mở ra cho mình một cánh cửa vào đời khác. Niềm yêu thích văn học thôi thúc mãnh liệt trong ông. Thông qua con đường tự học, cậu bé nghèo ở một vùng quê còn nhiều lạc hậu đã từng bước trở thành một nhà văn danh tiếng, một người có địa vị bằng cấp trong xã hội (ông tốt nghiệp Học Viện Nghệ Thuật Quân Đội, lấy bằng Thạc sĩ tại Viện Văn Lỗ Tấn).

Phong cách văn chương 

Sinh ra vào một giai đoạn lịch sử đầy biến động, Mạc Ngôn phải sống một cuộc sống thiếu thốn từ bé. Lúc nhỏ khi giành ăn khoai với cô em họ, ông chỉ ước có thể được một lần ăn khoai no nê. Sau khi vào quân ngũ, những ngày no mới tồn tại trong ông. Khi dệt giấc mộng văn chương, điều thôi thúc ông trở thành nhà văn là có thể được ăn ngày ba bữa sủi cảo. Đọc tản văn Mạc Ngôn, nhiều điểm ở con người ông gây cho người ta sự bất ngờ. Nhà văn có ước mơ là xây cho mình một bể tắm nước nóng. Suy nghĩ “vui vui’ của ông “sẽ đón quý khách khắp nơi đến nhà tôi tắm nước nóng. Chúng ta vừa ngâm mình trong nước vừa bàn chuyện văn chuyện đời. Ôi! Cuộc sống sao mà hạnh phúc!”. Xuất phát điểm của mong muốn xây bể tắm được tác giả hun đúc từ kí ức tắm sông ở quê nhà và những lần tắm nước nóng tới 60 độ khi còn trong quân ngũ. Dòng sông quê nóng rực dưới ánh mặt trời và cái nóng khiến cơ thể đỏ lên như “con tôm luộc” trở thành “quầng sáng” và niềm “khoái cảm” trong cuộc đời Mạc Ngôn.

Là người viết văn, tâm hồn ông cũng rất dễ giao hòa với thế giới âm thanh – đó là âm nhạc. Lúc còn chăn trâu cắt cỏ ở quê, tiếng chim, tiếng bò, tiếng trâu đã tạo nên cảm xúc khó quên trong tâm hồn cậu bé Mạc Ngôn. Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê mà đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều thiếu thốn, Mạc Ngôn không có được những tháng ngày tuổi thơ nâng niu và bao bọc, nhưng những thiệt thòi về một mặt nào đó, lại khiến năng khiếu văn học của ông tỏa sáng.

Chính cuộc sống giữa tự nhiên bao la đã cho ông khả năng quan sát, kinh nghiệm sống, tạo nên một tâm hồn cực kỳ tinh tế và bén nhạy. Không chỉ có âm thanh của tự nhiên mà các hình thức âm nhạc địa phương như loại hình ca kịch Miêu Xoang, người kéo đàn nhị, những khúc ca tự tạo của mấy cô gái xóm giềng là những bài học giúp Mạc Ngôn có được những kiến thức về cảm thụ âm nhạc. Mặc dù chỉ cảm nhận âm nhạc từ quan sát đời sống nhưng những âm thanh kì diệu đã làm giàu có tâm hồn bay bổng và nhiều cảm xúc nơi ông.

Đúng như ông nói, cố hương đã trở thành “mạch nguồn” và là “động lực” trong hầu hết các sáng tác. Tác phẩm “Cao lương đỏ” cho ta bắt gặp cây cao lương đầy sinh khí như có hồn, có tính cách, tiểu thuyết “Đàn hương hình” lại mang đậm chất dân gian qua nghệ thuật Miêu Xoang, hay hàng loạt các trang viết khác thì vẫn là cảnh, là người ở vùng đất ấy. “Chùm ba bài”, “Dòng sông nóng bỏng”, “Cây cổ thụ thành tinh”, “Chuyện về ông nội” là các bài viết biểu hiện rất rõ con người Mạc Ngôn. Vùng kí ức không thể quên, cậu bé bị rơi xuống hố phân được anh trai bế ra dòng sông vào trưa hè giữa bao người dân quê. Việc chặt cây liễu cổ thụ đã gây nên tai nạn thương tâm tại làng quê (5 người chết và nhiều người bị thương).

Con người cần biết sợ trước sức mạnh của tự nhiên và bí ẩn của văn hóa. Ông nội trong cảm nhận của Mạc Ngôn là người nông dân tài hoa, kỹ thuật gặt lúa của ông “khó có ai có thể đọ được”, ông còn biết đan lưới, lồng chim, bắt cua, bắt cá, bắn chim. Cuộc sống nông thôn vào ngày mùa, khung cảnh lao động của người nông dân cùng bao truyện kể “kỳ lạ” về tài năng, phẩm chất của người lao động là những thực tế sinh động nhất về sự sống được nhà văn đưa lên trang sách.

Viết về miếng ăn, về cái đói, chuyện tắm, chuyện nghe nhạc hay viết về loài vật đi nữa thì điều mà ta cảm nhận qua tập tản văn là một tình cảm chân thành đầy ưu tư. Nhưng trên tất cả, dù những chuyện thật buồn, thật thê thảm về người, về cảnh ở một giai đoạn lịch sử nào đấy, tản văn Mạc Ngôn vẫn mang hơi thở nồng ấm. Giữa cái chết, cái đói, sự kì diệu của cuộc sống vẫn đâm hoa nảy mầm.

Văn Mạc Ngôn viết về những gì gắn bó máu thịt với ông, đó là những con người đã thành tên, thành tuổi, đó là ngôi nhà nơi ông ở, là con đường, là cánh đồng, là những cái ao làng, … Tất cả, dù thời gian có thay đổi, vẫn là người đấy, cảnh đấy. Dường như vẫn đang hiện hữu. Tất nhiên, ở cuốn tạp văn này, nhà văn cũng đồng thời đề cập tới nhiều vấn đề quan thiết như ảnh hưởng cụ thể của cố hương tới tiểu thuyết, bàn về Faulkner và Mishima Yukio – những nhà tiểu thuyết vĩ đại của thế giới hay chuyện làm phim Cao lương đỏ, chuyện đọc sách, chuyện anh hùng, về người đẹp, … Nhưng sâu sắc, ám ảnh người viết là các trang sách đã đề cập ở trên.

Tống Thị Thanh

 


Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2022

BÊN KIA SÔNG

 


BÊN KIA SÔNG

Truyện tình đẹp nhất của Thạch Lam

Bên Kia Sông là một truyện ngắn trong tuyển tập  tập Nắng Trong Vườn. Có lẽ đây là đoản thiên lãng mạn hay nhất của Thạch Lam, một trong những truyện tình hay nhất của Tự Lực Văn Đoàn, y hệt như không khí lãng mạn trong truyện ngắn Mối Tình Đầu (Premier Amour) của Ivan Tourgueniev, cũng có thể tác giả đã chịu ảnh hưởng của Tourgueniev.

Truyện một cậu học trò lớp ba, mới mười mấy tuổi yêu một thiếu nữ lớn hơn mình một cách ngây thơ chân thật.

Truyện được diễn tả bằng lời tự thuật chân thành của một cậu bé về khoảng thời gian ngắn ngủi mà cậu đã sống ở huyện Văn Dương và tình cảm của cậu. Thạch Lam có biệt tài biến những câu chuyện do bạn bè kể lại thành những đoản thiên kiệt tác, đa số những truyện dưới dạng tự thuật đều do người khác kể lại cho ông.

Vùng bến Sen ở bên kia sông ám ảnh trí tưởng tượng của cậu bé vì thường nghe người ta kể cho nhau nghe những chuyện sảy ra bên ấy, nhiều khi cậu ra sau nhà trèo lên mô đất cao để nhìn sang bến Sen. Từ sự tò mò cậu quen Tiên nhà ở bên ấy, nhân dịp ấy băng qua cầu sang Sen để thoả mãn trí tò mò của mình, và rồi được nếm mùi tình yêu quí báu.

Bên Kia Sông, một mối tình tuyệt diệu, kỳ ảo y như  truyện thần tiên! Nó ngây thơ chân thực quí báu và hiếm có thay! Một câu chuyện giản dị, đơn sơ đã được bút pháp thần sầu của Thạch Lam đưa lên thành một đoản thiên lãng mạn tuyệt vời, độc đáo, quí báu và hiếm có như mối tình thanh cao ấy với một chung cục đượm vẻ buồn mênh mang và hoang vắng như cảnh bên kia sông.(Trọng Đạt)


BÊN KIA SÔNG

Huyện lỵ nơi quê tôi là một huyện miền hạ du, cũng giống những huyện lỵ khác của nước ta, không có gì là đặc biệt. Huyện không to lắm, nhưng rất sầm uất và đông đúc. Nhờ có con đường xe hỏa đi qua, và một con sông nhỏ, nhánh của sông Nhị hà, nên sự buôn bán đâm ra thịnh vượng. Phố huyện có một giẫy - bên này là đường xe hỏa, một giẫy nhà lá trát vách hay tường gỗ, những cửa hàng nho nhỏ của người trong làng mở bán các thức lặt vặt. Trừ hai cái nhà gạch hai tầng và khá rộng: hai hiệu của người khách đến lập nghiệp ở đây không biết từ bao giờ, hai hiệu buôn to nắm hết cả quyền lợi buôn bán ở trong huyện. Sau quầy hàng bằng gỗ, lúc nào cũng thấy một hai chú Khách ngồi gảy bàn tính, và ông chủ hiệu, người béo tốt, hồng hào, đầu bóng như hòn bi, ngồi bệ vệ trong ghế bành, luôn tay châm mồi lửa vào cái điếu thuốc lào. Những người khách chú ấy, và cái cửa hàng đồ sộ của họ, là những người vật lần đầu gây cho tôi hình ảnh của sự giàu có, bởi làm cho tôi đoán thấy một nước lạ ở đâu đâu, nước kỳ dị mà họ ở đấy đến đây; thường ngày, có khi hàng giờ, tôi dừng lại đứng ngắm họ, nhìn nhận các cử chỉ của họ, và nghe tiếng họ nói líu lo, khiến tôi nghĩ đến một thế giới khác lạ lùng.

Hồi ấy, tôi mới mười ba tuổi. Thầy mẹ tôi ở Hà Nội vì buôn bán thua lỗ nên mới dọn hàng về huyện này - chỗ quê của thầy tôi - đã được hai năm. Chúng tôi ở một căn nhà nhỏ ba gian ngay giữa phố, mặt trước nhìn ra đường xe hỏa, mặt sau trông ra cảnh đồng ruộng. Mẹ tôi dọn một cửa hàng tạp hóa nhỏ để bán cho những người nhà quê quanh vùng đấy họ lên huyện những ngày phiên. Vì chợ họp ngay ở giữa phố, những hàng quà bánh, hàng gạo, hàng cà, quang gánh ngổn ngang và thúng mủng xếp hàng hai dẫy đối diện nhau. Dưới trời, tiếng ồn ào của người họp chợ, một tiếng ồn ào đặc biệt, vang động và sang sảng, từ đám đông ấy bốc lên như ngọn lửa, bao trùm lấy cả huyện; một đám đông hoạt động, và vui vẻ, rực rỡ nhiều màu, đầy ánh sáng và tiếng cười, lẫn những câu chửi rủa lanh lảnh như kim qua không khí.

Đó là tất cả nơi quê tôi, tất cả quang cảnh cái huyện Văn Dương miền hạ du, mà một người trong họ tôi sính làm thơ đã vịnh trong bốn câu tuyệt tác này:

Văn Dương xuân sắc cớ sao buồn,

Đủ mặt ta, tàu khắp bán buôn.

Dưới bến thuyền buôn chen chúc đậu.

Trên đường xe hỏa lại qua luôn!

Tôi qua ở đấy tất cả cái tuổi niên thiếu của tôi, sung sướng và nhảy nhót như một con chim giữa cuộc sống hoạt động kia bao bọc lấy tôi, để hết cả mắt mà trông, cả tai mà nghe, cả mũi mà ngửi cái mùi cát, mùi đất, lẫn mùi khói rác người ta đốt ở đầu làng buổi chiều, theo gió với sương mà tràn vào trong phố.

Tất cả chợ huyện, những kẽ ngách hay bãi không, đối với tôi đều quen thuộc, thân mật như một vật cũ trong nhà. Nhưng, bên kia sông, ở về phía huyện nha, cách chợ độ nửa cây số, có một nơi đối với tôi như một xứ bí mật, xa lạ. Nơi ấy, người trong phố vẫn gọi là bến Sen, và con sông đi qua chỗ ấy được gọi tên là sông Sen. Bến Sen là một túm nhà độ hơn mười nóc, lấp vào cây cối xanh um, ở hai bên vệ một con đường giải đá đi tăm tắp không biết về đâu. Phía sau, là một cánh đồng hoang, đầy bãi tha ma và bụi dứa; bên này, một con đê nhỏ và một rặng cây; bên kia, một cái quán cột đá, đứng cạnh con đường nhỏ ngoằn ngoèo đi vào làng có cây đa tiên, một cây đa cổ không biết mấy trăm năm, rễ thẳng xuống đất to mấy người ôm, khiến không ai có thể phân biệt được đâu là gốc, đâu là rễ. Gần đấy, có một cái phần mộ xây đá bỏ hoang, một vài tượng đá mốc rêu lẫn trong cỏ rậm, dưới hai gốc thông cao vút, chội lên cả một vùng.

Một cái cầu gỗ lung lay sắp đổ, một cái cầu nhà nước đã bỏ, bắc qua sông, nối liền bến Sen với chợ huyện bên này. Trong những dịp rất hiếm mà tôi được sang bên ấy, không lần nào tôi đi qua chiếc cầu đó mà không ghê sợ; các ván cầu cũ đã mọt rung động dưới bước đi, và qua khe hở, tôi trông thấy dòng sông thăm thẳm chảy. Nhưng những dịp sang chơi bến Sen rất ít, vì người ở bên này không hay giao thiệp với người bên ấy. Bến Sen ăn về tỉnh khác, tỉnh Bắc; những bọn cướp nhiều lần vào cướp ở phố huyện rồi lùi sang đó để trốn tránh sự tầm nã, lại càng làm cho vùng đó đối với dân huyện, đối với tôi, thành một vùng hay nhộn và đáng sợ. Người trong phố thường thì thầm kể với nhau những chuyện xảy ra bên ấy; và mỗi khi có người ở bến Sen sang, ai ai cũng chăm chú nhìn như một người ở chốn xa lạ nào đến.

Có lần, một ông cụ già râu bạc đến chơi nhà tôi, cùng thầy tôi uống rượu và ngâm thơ phú. Khi biết ông ta ở bên Sen, tôi nhìn ông ta khâm phục lắm, mẹ tôi lại bảo ông ta là một ông đồ rất hay chữ, ở cái làng ven sông phía bên kia, một làng nổi tiếng vì ngày xưa, đã có một thời mười tám ông tiến sĩ. Khi ông cụ ra về, tôi đưa ra đến đầu cầu, tôi dừng lại nhìn ông giương ô đi qua cánh đồng, đến khi ông nhỏ lấp ở chân trời.

Vùng bên Sen cứ luôn luôn ám ảnh trí tưởng tượng non nớt của tôi. Nhiều lần, tôi lẻn ra đằng sau nhà, đứng lên một mô đất nhìn sang bên kia sông, nhìn khu nhà nấp bên cây cối, cái quán trơ vơ và rặng cây trên bờ đê, bên con đường đi không biết về đâu, về những chốn xa xăm nào tận bên kia giải đồi núi lờ mờ xanh ở chân trời; với tôi, sinh trưởng ở chốn đồng bằng bùn lầy nước đọng, đồi núi quyến rũ như một tiếng gọi lạ lùng. Trong giải núi ấy, có một quả đồi mà những buổi chiều nắng trong, tôi thấy nổi đỏ lên trời xanh. Trên đỉnh đồi, người ta thấy rõ một chùm cây, mẹ tôi bảo đó là chùa Thiên Thai. Thiên Thai! cái tên huyền ảo thần tiên ấy khiến tôi nghĩ đến những chốn bồng lai xinh đẹp, chốn vui chơi của những tiên ông mà thầy tôi vẫn đọc đến tên trong các truyện và kể cho tôi nghe. Rồi tôi thơ thẩn cho đến buổi chiều, đến lúc mặt trời thấp xuống, để được trông cả vùng bên kia sông chói lòa, rực rỡ tia ánh nắng; rồi tối hơn nữa, lúc chỉ còn ráng chiều chiếu các nền mây, được trông dẫy nhà mờ đi và thấp xuống, lẫn vào mặt đất, và hai gốc thông cao lên, nổi đen trên da trời.

*

Dần dần, tôi được có nhiều dịp sang chơi bên Sen. Sự đó là nhờ ở anh Tiến, bạn tôi. Tôi đang học ở lớp ba trong trường, gần hết năm, thì Tiến xin vào học. Tôi yêu mến anh ta ngay; Tiến là một đứa trẻ mảnh dẻ và xinh xắn, mắt to và da trắng, tóc mềm như sợi tơ. Tôi yêu Tiến như yêu một cô con gái, Tiến thùy mị, hiền lành và hết lòng với bạn. Nhưng ngoài những nết tốt ấy, Tiến khiến tôi gần gụi và quyến rũ tôi là vì anh ở bên kia sông. Một cái đó đã khiến cho anh ta đối với tôi trở nên một đứa trẻ kỳ dị khác thường. Tôi kết bạn với Tiến rất là thân thiết, và chiều nào tan học, tôi cũng tiễn anh ta đến tận đầu cầu rồi mới trở về.

Một hôm chủ nhật, Tiến rủ tôi sang chơi nhà. Tôi sung sướng như một người sắp được đi phiêu lưu mạo hiểm, vì lần ấy là lần đầu tôi được sang bên kia sông. Tôi với Tiến cùng đi qua cầu; chúng tôi dừng lại tựa vào thành cầu nhìn xuống sông; mấy con thuyền của các người buôn bán chen nhau đậu bên bờ, trên có mấy đứa trẻ chơi đùa và con chó nằm cuộn tròn trên mui thuyền ngủ. Đó chính là những chiếc thuyền từ tỉnh Bắc về, chở những thứ hàng lạ. Tiến giơ tay chỉ vào đám thuyền bảo tôi:

- Ngày trên Bắc về đây, chúng tôi cũng đi một chiếc thuyền như thế này.

Tôi nhìn Tiến muốn hỏi anh ta về tỉnh Bắc xa xôi ấy, nhưng lại thôi. Tiến đã giắt tay tôi qua cầu đi đến phố Sen. Nhà Tiến ở cuối phố, sát ngay cánh đồng. Tôi thấy một cửa hàng tạp hóa cũng giống như cửa hàng của mẹ tôi, nhưng nhỏ hơn. Trên tấm phản, sau mấy ngăn hàng, một bà cụ già tóc bạc phơ, vẻ mặt nhân từ, đang ngồi tính tiền. Thấy tôi và Tiến bước vào, bà cụ tươi nét mặt hỏi:

- Cháu đi đâu về thế?

Tiến vừa lấy vạt áo lau mồ hôi, vừa đáp:

- Thưa bà, con sang chợ chơi ạ.

Bà cụ nhìn vào tôi, đứng nấp sau lưng Tiến, bảo:

- Cháu về mà uống nước. Cả cậu nữa, cậu vào chơi. Trời nắng thế này mà đi có nhọc không?

Tiếng bà cụ êm dịu và ngọt ngào, khiến tôi thấy dễ chịu và vui vẻ.

Tiến mời tôi vào trong nhà, bầy biện rất sơ sài, những đồ đạc rẻ tiền và cũ kỹ. Chúng tôi vừa ngồi thì bỗng trong nhà bước ra một người con gái độ mười bẩy mười tám tuổi. Tôi biết ngay là chị Tiến, vì giống Tiến như hệt, cũng nước da trắng, hai mắt to. Trông thấy em, chị Thúy nở một nụ cười trên đôi môi thắm, một nụ cười tươi và duyên sắc như trong đời tôi chưa từng thấy bao giờ.

- Em đã về đấy à?

Tiếng nói cũng êm dịu như tiếng bà cụ, nhưng trong hơn. Thúy lại gần chúng tôi, săn sóc hỏi em. Tôi ngây người trước cái sắc đẹp của nàng, trong lòng tự nhiên cảm động; tuy còn trẻ nhưng tôi cũng biết là tôi đương đứng bên một sự gì quý báu và hiếm có, một sự gì mong manh rồi sẽ không còn nữa.

Khi Thúy để tay lên vai tôi, tôi thấy rung động cả người, tôi cảm thấy tôi bắt đầu yêu nàng.

- Em cùng học một lớp với Tiến à?

- Vâng ạ.

Thúy vuốt sẽ qua tóc tôi, bảo:

- Em ngoan ngoãn quá.

Nàng tiếp:

- Ở đây chơi với em Tiến rồi ăn bánh nhé. Tiến, chị có để phần bánh trên bàn kia kìa.

Thúy không ăn, chỉ ngồi nhìn chúng tôi; tôi thấy nàng nhìn Tiến rất thương yêu khiến tôi ghen với bạn đã có người chị xinh đẹp và ân cần như thế. Nhưng nàng cũng hỏi chuyện tôi luôn, tôi trả lời hoạt bát và vui vẻ, không phải cốt nói, nhưng cốt được nghe cái tiếng trong trẻo và êm ái của nàng.

Ăn xong, Tiến rủ tôi ra chơi ngoài bãi tha ma đằng sau nhà. Lần đầu, tôi được đứng giữa cái vùng bí mật, được nhìn gần hai gốc thông với mấy tượng đá giấu trong cỏ. Tiếng thông reo rì rào như một tiếng đàn xa lạ, trầm như ở một cõi khác nào đưa lại, và cái quán cột đá lộng gió giữa cánh đồng hình như đang đợi chờ những người ở thời nào, lâu lắm, đến nghỉ chân.

Từ hôm ấy, thường thường tôi vẫn sang bên Sen luôn. Tôi muốn gần gụi cây cỏ bên vùng ấy, đối với tôi vẫn có một vẻ riêng khác hẳn cây cối bên này. Tôi muốn được luôn luôn trông thấy Thúy, được nghe tiếng nói của nàng, được nhìn cái miệng xinh tươi của nàng hé trên hàm răng đen nhánh. Cả bà cụ cũng khiến tôi yêu mến. Tôi không biết rõ gì về gia đình của Tiến, nhưng trên mặt các người trong nhà ấy, lúc nào tôi cũng thấy phảng phất một vẻ trầm mặc, một nét thoáng buồn, càng khiến họ đáng yêu. Tôi đoán trước khi đến buôn bán ở đây, họ đã có một cuộc đời lạ lùng và phong phú, mà vết tích còn lại là những đồ vật kỳ dị, như thanh gươm, cái khánh đồng, con rùa ngọc, để trong một cái tủ kính mà gỗ đã long sơn. Với lại họ khác những người vui vẻ, thô sơ bên này thế; chị Thúy và Tiến đều có nước da trắng xanh, chân tay nhỏ nhắn, những dáng điệu thanh nhã, tiếng nói nhẹ, không như các người hồng hào vì cục mịch ở trước nhà tôi. Hồi ấy, tôi cho là vì họ ở cái vùng bí mật ấy, hay là vì họ là những người khác thường nên mới dám đến ở đó.

Tôi chơi với Tiến càng ngày càng thân mật; tôi được coi như một người con của gia đình ấy. Chị Thúy coi tôi như em, cũng săn sóc và âu yếm tôi như Tiến. Nhiều khi chị để tôi ngả đầu xuống bên lòng, xoa tóc tôi, hỏi những câu chuyện ân cần. Đến bây giờ trải qua bao nhiêu lâu, tôi vẫn còn nhớ, lúc nhìn lên, đôi mắt trong và cái miệng xinh thắm của nàng cúi xuống tôi, bàn tay nhỏ nhắn của nàng đặt trên trán tôi nóng vì chạy nhảy ngoài cánh đồng. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh người con gái yểu điệu và tươi đẹp ấy, nổi lên trong thời niên thiếu của tôi như một nàng tiên hiền hậu, giữa một vùng cây cỏ lạ.

Nhưng không bao lâu, tôi phải từ giã người bạn nhỏ của tôi; thầy mẹ tôi dọn nhà lên Hà Nội, tôi cũng phải đi theo. Buổi cuối cùng của tôi với Tiến bên sông Sen vào một ngày mùa đông u ám và rét lạnh. Chúng tôi cùng nhau đi thăm một lần cuối cùng mấy ông tượng đá vẫn ngồi yên trong cỏ; giờ xa nhau gần đến, có lẽ không bao giờ còn gặp nhau nữa, song chúng tôi còn trẻ quá không biết buồn. Đến lúc Thúy đặt tay lên vai tôi, êm ái bảo:

- Bao giờ chị mới lại được gặp em?

Tôi bỗng thổn thức cả người, nước mắt tràn ra khóe mắt, tôi gục đầu vào vai Thúy khóc.

*

Câu chuyện phải có lúc hết. Mười năm sau tôi mới lại có dịp trở về Văn Dương. Quang cảnh khác xưa, phố chợ bây giờ sầm uất hơn, nhà ngói san sát. Những người cũ ngồi bán hàng đều già, râu tóc bạc, và những trẻ cùng học với tôi trước kia bây giờ đã ngồi thay vào đấy, thành những người lớn trông lạ hẳn đi.

Tôi sang bên kia sông; cái cầu sắt không còn nữa: một đêm gió to, cầu bị sập và người ta cũng không sửa chữa vì con đường sang Bắc ít người qua lại. Bây giờ qua sông phải dùng đò. Tôi qua đò lúc buổi chiều, lúc sương đã bắt đầu xuống lẫn với khói trong mấy chiếc thuyền chài đậu ở bến đưa ra. Một cảnh hoang tàn đợi tôi: bên kia sông, giờ chỉ còn là miếng đất bỏ hoang, cỏ mọc trên những thềm nền nhà cũ. Một cái quán nước siêu vẹo trống không bên một gốc đa cằn. Cả một dẫy phố đã mất đi, những cây cối lơ thơ và xơ xác dưới gió chiều: chỉ giặng cây bên đê vẫn còn, vẫn như cũ, bên con đường xa thẳm không biết về đâu, con đường sắp đầy ánh tối mênh mông, tận chân trời không có một bóng người nào.

Tôi không dám đi xa nữa; buồn rầu, tôi trở lại đò, qua dòng sông đã xám dưới sương mù. Tôi không hỏi người lái đò xem những người trước ở đây bây giờ đâu, tôi chắc anh ta cũng không biết. Thấy chân cầu gạch đen rêu phủ, tôi nhớ lại người bạn nhỏ của tôi, nhớ đến Thúy, dáng điệu thùy mị đáng yêu của nàng, cái vẻ buồn lúc nào cũng phảng phất trên mặt nàng, bây giờ tôi đoán biết đã che kín bao nhiêu sự đổi thay đau đớn. Đôi mắt nàng như vừng trời trong thẳm tôi đã được soi thấy cái dư vị của cuộc đời.

Lên bờ, tôi còn quay lại lần cuối nữa, nhìn rặng cây, cái quán, với làng mạc xa xa dưới chân giải núi tận đâu kia; vùng bên kia sông đối với tôi không còn bí mật nữa, chỉ còn cho tôi trông thấy cái buồn thảm của đất nghèo.

TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ

Tư tưởng của ông Nhu đi trước thời đại cả trăm năm, cho đến giờ một bài viết cách đây gần 70 năm mà vẫn đúng đắn và chính xác.
Thiên tài ở chỗ đó.


 
TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ

Ngô Đình Nhu


Phật dạy “TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ”. Thâm ý cao siêu của lời dạy trên bao trùm khắp vũ trụ. Sự tiến hóa của nhân loại đều căn cứ trên nguyên tắc nằm trong lời dạy trên. Có trụ mới có vị trí để mà tiến. Nhưng khi vị trí đã mất tác dụng, mà vẫn cứ cố bám để trụ vào đó thì mọi tiến hóa lại chấm dứt, và những kết quả đã thu hoạch được lại có thể bị mất.

Phải trụ vào cho đúng lúc mới tiến được. Và phải không trụ vào cho đúng lúc mới bảo đảm được vừa những thắng lợi đã chiếm, vừa con đường tiến cho tương lai.

TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ là một chân lý thể hiện trong những sự việc vĩ đại của loài người, cũng như trong các sự việc nhỏ nhặt của cá nhân trong đời sống thường ngày.

Nhiều Cộng Đồng đã phôi thai được một nền văn minh vì nhờ trong một lúc nào đó, các nhà lãnh đạo đã ý thức được một cách sung mãn những vị trí cần phải trụ vào. Nhưng sau đó hoặc vì sự thiếu lãnh đạo, hoặc vì thử thách, do hoàn cảnh bên ngoài đưa đến, vượt qua mức độ mà sinh lực của Cộng Đồng có thể ứng phó nổi, nên Cộng Đồng vẫn tiếp tục trụ vào một vị trí không còn là sinh lộ nữa. Do đó, nền văn minh vừa mới phôi thai, đã ngừng phát triển và lâu ngày thành cằn cỗi và chết dần như cây khô.

Các Dân Tộc Da Đỏ ở Bắc Mỹ đã phôi thai một nền văn minh trụ vào sự thích nghi hóa đời sống thường ngày với vũ trụ thiên nhiên bao quanh mình. Ví dụ, thay vì tìm cách chế áo dầy hoặc cách xây nhà cửa giữ được sức nóng để chống lại với giá lạnh của mùa Đông, người Da Đỏ lại chủ trương huấn luyện cơ thể từ lúc nhỏ để chịu đựng được các thời tiết.

Thái độ của người Da Đỏ là một thái độ tùng phục, cố gắng thích nghi hóa cơ thể với vũ trụ thiên nhiên. Thái độ mặc áo và xây nhà là một thái độ dùng phương tiện thiên nhiên để chế ngự thiên nhiên.

Vì đã lựa chọn con đường như vậy cho nên nền văn minh phôi thai của người Da Đỏ đã đào tạo được một loại người mà sức chịu đựng đối với thiên nhiên lên đến một mức độ phi thường. Và sự thông cảm của họ với thiên nhiên vượt đến một trình độ ít có.

Trên lĩnh vực này, người Da Đỏ đã khiến tất cả mọi người đều thán phục. Và người mà ông Baden Powell, nhà sáng lập ra phong trào hướng đạo thế giới, lấy làm mẫu là người Da Đỏ.

Tuy nhiên, sức chịu đựng của con người có giới hạn, sức mạnh của thiên nhiên lại vô bờ bến. Tự trụ mình vào công cuộc phi thường rèn luyện cơ thể để chống lại với thiên nhiên, người Da Đỏ đã dấn thân vào một con đường không có lối thoát.

Các nhà lãnh đạo Da Đỏ không nhìn thấy sự bế tắc đó nên không lúc nào nghĩ cần phải chấm dứt sự trụ vào đó. Vì vậy cho nên, vừa mới phôi thai, nền văn minh Da Đỏ đã ngưng phát triển và lần lần cằn cỗi.

Theo những tài liệu khảo cổ mà chúng ta được biết tới ngày nay thì các Dân Tộc ở chung quanh Bắc Cực và các Dân Tộc ở trên các Quần Đảo ở Thái Bình Dương đều lâm vào một tình trạng tương tự. Tự trụ vào công cuộc mang sức chịu đựng của con người để chống lại thiên nhiên. Lúc đầu khi trụ vào vị trí đó, Cộng Đồng phôi thai được một nền văn minh. Nhưng khi vị trí không còn thích nghi nữa, Cộng Đồng không biết thoát ra đúng lúc. Lỗi lầm đó đã đưa Cộng Đồng đến chỗ chết.

Ví dụ dưới đậy lại còn rõ rệt hơn nữa.

Luân lý Khổng Mạnh đã tạo cho Cộng Đồng Dân Tộc Trung Hoa, một trật tự xã hội bền vững với thời gian, một cách chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Suốt trong mấy ngàn năm, trật tự xã hội kiên cố, do luân lý Khổng Mạnh tạo nên, không có cuộc chấn động nào lay chuyển nổi. Nhờ trật tự xã hội vô cùng vững chắc đó, văn minh Trung Hoa phát triển đến tột độ và soi sáng khắp cả một bầu trời. Các triều đại Trung Hoa, kể cả các triều đại Hán Tộc và các triều đại ngoại lai, Mông Cổ và Mãn Thanh, đều bị chinh phục bởi sức kiên cố của trật tự xã hội của Khổng Mạnh. Các nhà lãnh đạo đều trụ vào đó và gia công xây đắp cho trật tự Khổng Mạnh càng thêm vững chắc.

Vì vậy mà cho đến khi nền văn minh Trung Hoa, vì quá trụ vào trật tự xã hội Khổng Mạnh, nên sinh lực phát triển đã suy đi, không một nhà lãnh đạo nào nhìn thấy. Mài miệt trong sự thán phục một trật tự xã hội đã cằn cỗi và thành đá, không một nhà lãnh đạo nào nhìn thấy nền văn minh Trung Hoa đã ngưng phát triển. Nếu không bị sự tấn công của Tây phương, có lẽ đến ngày nay, Trung Hoa còn ngon giấc triền miên trong cái trật tự xã hội Khổng Mạnh của mình. Trụ vào trật tự xã hội Khổng Mạnh để phát triển nền văn minh. Nhưng chính cũng vì trụ vào đó quá mức độ thời gian, nên văn minh đã ngưng phát triển.

Thâm ý của lời Phật dạy “Trụ mà không trụ” là bao quát như vậy đó.

Nhưng trong đời sống của cá nhân, lời dạy “trụ mà không trụ” cũng chi phối sâu xa đến các hành vi thông thường.

Trong sách Gia Ngữ có chép lại đại khái như sau:

Thầy Tử Hạ một hôm hỏi Đức Khổng Tử: “Đức Khổng Tử sánh với những người học trò như Nhan Hồi, Tử Cống và Tử Lộ thì sao ?

Đức Khổng Tử trả lời: “Nhan Hồi thủ tín hơn ta. Tử Cống thuyết khách hơn ta. Tử Lộ chiến trận hơn ta”.

Thầy Tử Hạ lại hỏi: “Thế vì sao Nhan Hồi, Tử Cống và Tử Lộ lại tôn Đức Khổng Tử làm thầy?”

Đức Khổng Tử trả lời: “Vì Nhan Hồi thủ tín mà không biết phản tín. Tử Cống hay biện thuyết mà bất cập tảo biện. Tử Lộ biết dũng mà không biết khiếp, biết cương mà không biết nhu”.

Thầy Nhan Hồi biết trụ vào chữ tín mà không biết không trụ vào chữ tín.

Thầy Tử Cống biết trụ vào biện thuyết mà không biết không trụ vào biện thuyết.

Thầy Tử Lộ biết trụ vào dũng mà không biết không trụ vào dũng.

Đức Khổng Tử vượt lên trên hết tất cả vì trong mọi trường hợp, ngài biết trụ vào đúng lúc và biết không trụ vào đúng lúc.

Phải biết trụ để có vị trí phát triển, nhưng phải biết không trụ để bảo đảm cho phát triển tiếp tục.

Sự phát triển của văn minh Tây phương đến mức độ bao trùm khắp nhân loại và khắp các lĩnh vực của đời sống, như chúng ta mục kích ngày nay, là một sự kiện chưa tìm có trong lịch sử nhân loại. Sinh lực đó bắt nguồn từ chỗ người Tây phương đã thấu triệt nguyên tắc “Trụ mà không trụ” và đã đưa nó lên thành một lợi khí khoa học và sắc bén để tìm hiểu vũ trụ. Trong bất cứ ngành nào của kỹ thuật Tây phương, lịch sử phát triển của ngành đó đều mang dấu vết của nguyên tắc “Trụ mà không trụ”. Ví dụ dưới đây là thông thường nhất.

Khi quang học mới phôi thai, tất cả các nhà vật lý học Tây phương lúc bấy giờ, Descartes, Fermat, Malus, Huygens đều trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng” để khảo sát, thí nghiệm và tìm ra những định luật của quang học hình học. Quang học hình học, như chúng ta đã biết, là những bậc thang đầu tiên và vô cùng quan trọng của quang học.

Nhưng, những thế hệ các Nhà Vật Lý Học sau đó, mục kích nhiều hiện tượng quang học mà thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng” không làm sao giải thích được. Fresnel, Young và Newton, mặc dầu vẫn công nhận sự nghiệp di sản của quang học hình học, đã nhìn thấy đúng lúc giới hạn của thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng” và nhận thức đã đến lúc không nên trụ vào đó nữa.

Nếu không trụ vào đó nữa, tất nhiên phải trụ vào một vị trí khác để tiếp tục phát triển Quang Học. Do đó, thế hệ các Nhà Quang Học này trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang theo làn sóng” để khảo cứu thí nghiệm và cuối cùng phát minh những định luật mới về quang học vừa bao quát, vừa phong phú hơn. Tất cả sự nghiệp quang học ba động đều xây dựng trên thuyết mới này.

Giả sử thế hệ các nhà vật lý học đầu tiên không trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng” thì sự nghiệp quang học hình học không bao giờ thành hình, và những bậc thang đầu tiên đó của ngành quang học, không bao giờ được xây dựng lên và sự phát triển của quang học không được manh nha.

Nhờ những bậc thang đầu tiên đó, thế hệ các Nhà Vật Lý Học sau mới vi tay lên được đến các hiện tượng lạ lùng đối với thuyết “ánh sáng phát quang theo đường thẳng”. Nhưng, giả sử các Nhà Vật Lý Học của thế hệ này không đập phá được sự trụ vào thuyết “đường thẳng’ thì sự phát triển của quang học đã ngừng ở đó và lâu ngày sẽ cằn cỗi mà chết dần.

Nhưng trong thực tế, họ đã biết không trụ đúng lúc nên đã bảo đảm được sự tiếp tục phát triển của quang học.

Đến giai đoạn này, lịch sử phát triển của quang học cũng đủ để thuyết minh cho tính cách sắc bén của nguyên tắc “Trụ mà không trụ”, trong mọi lĩnh vực phát triển.

Nhưng, quang học còn phát triển hơn nữa. Và thành tích phát triển gần đây của quang học, lại chỉ rõ hơn nữa rằng, văn minh Tây phương đã khoa học hóa và chính xác hóa nguyên tắc “Trụ mà không trụ” để biến nó thành một kỹ thuật vô cùng hiệu quả để phát triển.

Sau thế hệ các Nhà Quang Học ba động, một thế hệ vật lý học giả khác lại phát minh ra nhiều hiện tượng vật lý, mà thuyết “ánh sáng phát quang theo làn sóng” cũng không thể giải thích được. Cũng như lần trước, các Nhà Quang Học chấm dứt đúng lúc sự trụ vào quang học ba động. Nhưng lần này, các Nhà Quang Học đã xem việc không nên trụ vào quang học ba động, như là một phương pháp phát minh. Thế hệ của De Broglie lại trụ vào thuyết “ánh sáng phát quang thành ly tử di chuyển theo làn sóng” để khảo sát, thí nghiệm và phát minh nhiều định luật về quang học bao quát hơn thêm và phong phú hơn thêm. Tất cả sự nghiệp quang học xạ tử ba động đều xây dựng trên thuyết mới này. Và những phát minh tối tân nhất hiện nay về các quang tuyến đều căn cứ trên sự nghiệp quang học xạ tử ba động.

Nhưng sự nghiệp xạ tử ba động sẽ không bao giờ có, nếu sự nghiệp quang học ba động không thành hình. Và sự nghiệp ba động không bao giờ có nếu sự nghiệp quang học hình học không thành hình. Nhờ trụ mà có quang học hình học. Rồi nhờ không trụ mà có quang học phát triển. Rồi nhờ trụ mà quang học ba động thành hình. Rồi nhờ không trụ mà quang học ba động phát triển. Rồi nhờ trụ mà quang học xạ tử ba động thành hình.

Chúng ta có thể đoán rằng, cơ thức “Trụ mà không trụ” sẽ theo đó mà tiếp tục diễn tiến, và vạch con đường cho sự phát triển không ngừng của quang học.

Những sự kiện trên có giá trị, không phải riêng cho lĩnh vực quang học mà cho tất cả các ngành của khoa học Tây phương.

Những sự kiện trên có giá trị, không phải riêng cho lĩnh vực khoa học mà cho tất cả các ngành của khoa học Tây phương, nghĩa là cho tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó có lĩnh vực chính trị như chúng ta sẽ thấy dưới đây.

Tóm lại “Trụ mà không trụ” là một chân lý phát triển. Một điều đáng cho chúng ta nêu lên làm một câu hỏi, là chính Đông Phương đã tìm ra chân lý trên, nhưng vì sao văn minh Đông Phương, Ấn Độ, cũng như Trung Hoa, lại trụ vào một vị trí cố định từ mấy ngàn năm ? Những trả lời câu hỏi này vượt ra rất xa khuôn khổ của lời kết luận này.

 

Trở lại vấn đề chính trị của Cộng Đồng Dân Tộc Việt Nam trong thời kỳ hiện tại, đề tài của tập sách này, chúng ta nhận thấy các điểm sau đây:

Trong tình hình chính trị thế giới hiện nay và trong trình độ tiến hóa của nhân loại hiện nay, các vấn đề của Dân Tộc Việt Nam, trong thời kỳ này chỉ có thể tìm được một giải đáp nếu chúng ta trụ vào vị trí Dân Tộc.

Đương nhiên là vị trí Dân Tộc mà chúng ta đã quan niệm trong suốt mấy trăm trang của tập sách này, không thể là một vị trí Dân Tộc bế quan tỏa cảng, hẹp và nông như dưới các triều đại quân chủ xưa kia. Vị trí Dân Tộc mà chúng ta quan niệm là một vị trí Dân Tộc nằm trong khung cảnh thế giới, với tất cả các dây liên hệ tinh thần và vật chất cần phải có.

Nhưng vị trí trụ vào phải là vị trí Dân Tộc.

Đến lúc nào chúng ta cần phải chấm dứt sự trụ đóng vị trí Dân Tộc nói đây để bảo đảm cho sự phát triển tương lai của Dân Tộc, đúng theo nguyên tắc “TRỤ MÀ KHÔNG TRỤ”?

Chắc chắn trong thời kỳ này của Cộng Đồng Dân Tộc, chưa có sự chấm dứt nói đây. Thời kỳ này gồm nhiều thế hệ sắp đến. Chúng ta phải tin tưởng vào sự sáng suốt của các nhà lãnh đạo sau này, để quyết định đúng lúc sự thôi không trụ vào vị trí hiện tại.

Các nhà lãnh đạo cộng sản ở miền Bắc đã trụ vào lý thuyết cộng sản trong thời kỳ tranh giành độc lập. Chúng ta đã thấy trong các trang trên, sự đi đúng đường một phần nào của họ trong một giai đoạn. Nhưng chúng ta cũng đã phân tích các lý do vì sao sự tiếp tục trụ đóng vào phương tiện cộng sản hiện nay, là một lối bế tắc cho sự nghiệp tiến hóa của Dân Tộc. Chẳng những như chúng ta đã phân tích, sự tiếp tục trụ đóng vào lý thuyết cộng sản sẽ không làm sao giải quyết được công cuộc phát triển cho Dân Tộc, mà lại còn mở cửa đưa các thế hệ sau này, vào một đời sống vô cùng đen tối không lối thoát.

Trung Cộng tự mình cũng chưa giải quyết được vấn đề phát triển cho Dân Tộc Trung Hoa. Từ ngày các sự viện trợ của Nga đã chấm dứt, các công cuộc phát triển của Trung Cộng hoàn toàn đình trệ. Do đó, tự đặt mình vào vòng ảnh hưởng của cộng sản, nghĩa là của Trung Cộng, các nhà lãnh đạo Bắc Việt tự mình đã từ bỏ công cuộc phát triển cho Dân Tộc.

Hơn nữa, sự phát triển của một khối người gần 800 triệu dân như của Trung Cộng, là một mối đe dọa cho toàn thế giới. Và vì vậy công cuộc tìm phát triển của Trung Cộng tự nó, dù mà Trung Cộng không có gây hấn với ai cả, cũng gây nhiều kẻ thù. Những người này nhất định sẽ cản trở không để cho Trung Cộng phát triển.

Các biến cố chính trị gần đây đều xác nhận sự phân tích trên. Nay nếu chúng ta gắn liền số mạng của Dân Tộc Việt Nam vào với số mạng của Trung Cộng thì hành động đó có nghĩa là chúng ta sẽ từ bỏ công cuộc phát triển đang cần thiết cho sự sống còn của Dân Tộc.

Trung Cộng giải quyết không được công cuộc phát triển của Dân Tộc Trung Hoa. Nhưng số người 800 triệu dân cần phải nuôi, là một thực tế không thể phủ nhận được. Sự bành trướng mà Trung Cộng bắt buộc phải thực hiện dưới áp lực nhân khẩu kinh khủng đó đã mở màn. Nếu chúng ta không thức tỉnh thì một trong những nạn nhân đầu tiên của sự bành trướng nói trên sẽ là chúng ta. Chỉ tưởng tượng đến viễn cảnh đó cũng đủ cho chúng ta khủng khiếp.

Vì vậy cho nên, công cuộc chống sự xâm lăng của miền Bắc, không lúc nào khẩn thiết cho Cộng Đồng Dân Tộc Việt Nam bằng trong lúc này.

Và vì vậy cho nên, chúng ta thành khẩn mong mỏi các nhà lãnh đạo miền Bắc, kịp thời nhận định đã đến lúc, vì sự tiến hóa của Dân Tộc, không còn nên tiếp tục sự trụ đóng vào phương tiện cộng sản nữa.

Ngô Đình Nhu – Chính Đề Việt Nam

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2022

TRANG TỬ NAM HOA KINH: CHƯƠNG 01 - TIÊU DAO DU 莊子 南華經

 TRANG TỬ NAM HOA KINH: CHƯƠNG 01 - TIÊU DAO DU 莊子 南華經

Lão tử và Trang tử là hai triết gia làm tốn giấy mực cho đời sau nhiều nhất: mỗi nhà ít gì cũng được cả trăm người khác chú giải. Một phần là vì triết thuyết của họ rất sâu sắc, ảnh hưởng tới tư tưởng và đời sống Trung Hoa. Nhưng nguyên nhân chính là văn của họ cô động quá, hàm súc quá, có thể hiểu được nhiều cách, nhiều chỗ không ai biết chắc được họ muốn nói gì, đành phải suy đoán. Hai bộ Đạo Đức kinh và Trang tử (Nam Hoa kinh) so với hai bộ Luận ngữ và Mạnh tử về phương diện sáng sủa thực khác nhau xa quá: một bên mù mờ bao nhiêu, một bên sáng sủa bấy nhiêu.

 

Trang Chu lúc về già

1

Biển Bắc có con cá gọi là cá côn, mình dài không biết mấy ngàn dặm. Nó biến thành con chim gọi là chim bằng[61], lưng rộng không biết mấy ngàn dặm, khi tung cánh bay thì cánh nó như đám mây trên trời. Biển (Bắc) động thì nó dời về biển Nam, biển Nam là Ao trời.

Tề Hài là sách[62] ghi những chuyện quái dị. Sách đó bảo khi con chim bằng dời xuống biển Nam, nó đập nước tung tóe lên ba ngàn dặm rồi nương gió lốc cuốn lên cao chin vạn dặm. Nó xuống biển Nam vào tháng 6, lúc gió nổi lên.[63]

(Ở dưới nó là) Hơi nước bốc lên – coi tựa như những con ngựa hoang – và bụi cát, cùng hơi thở các sinh vật. (Mà ở trên nó) màu thanh thiên kia phải là bản sắc của trời không hay là vì trời xa thăm thẳm mà ta nhìn thấy như vậy? Vì từ trên cao nhìn xuống thì cũng thấy một màu đó.[64]

Nước không sâu thì không chở được thuyền lớn. Đổ một chén nước xuống một chỗ lõm ở trước sân thì thả một cọng cỏ xuống làm thuyền được; nếu thả cái chén đó xuống thì chén chạm đất, không nổi được, vì nước nông mà thuyền lớn. Lớp không khí mà không dày thì không đỡ được những cánh chim lớn. Cho nên con chim bằng phải bay lên cao chin vạn dặm để có lớp không khí dày đỡ nó ở dưới, rồi lưng nó mới đội trời xanh, không hề bị cản trở, mà bay xuống biển Nam được.

Con ve sầu và con chim cưu[65] cười con chim bằng rằng: “Chúng tao bay vù lên cây du, cây phương[66], có lúc bay không tới mà rớt xuống đất. Hà tất phải bay cao chín vạn dặm để xuống phương Nam?”

Người nào muốn tới một chỗ gần ở ngoài thành thì chỉ cần mang theo lương thực cho đủ ba bữa, mà khi về bụng hãy còn no[67]. Kẻ nào muốn đi một trăm dặm thì phải chuẩn bị lương thực để nghỉ đêm[68]; muốn đi một ngàn dặm thì phải chuẩn bị lương thực cho ba tháng. Hai con vật nhỏ kia (tức con ve sầu và con chim cưu) biết đâu lẽ đó.

Trí lực nhỏ không thể so sánh với trí lực lớn; cuộc đời ngắn không thể so sánh được với cuộc đời dài. Làm sao biết được điều ấy? Như cây nấm chỉ sống một buổi sáng thì không biết được trọn một ngày[69], con huệ cô (một loại ve sầu, sinh mùa xuân thì mùa hè chết, sinh mùa hè thì mùa thu chết), không biết được trọn một năm; đó là những loài cuộc đời ngắn ngủi. Ở miền Nam nước Sở, có một con rùa thiêng[70], mùa xuân của nó dài năm trăm năm; mùa thu dài năm trăm năm; đời thượng cổ có một cây “xuân” lớn, mà mùa xuân dài tới tám ngàn năm, mùa thu dài cũng tám ngàn năm, đó là những loài cuộc đời lâu dài. Ông Bành Tổ (chỉ sống bảy trăm năm) mà ngày nay hễ nói tới thọ, ai cũng cho ông bậc nhất, chẳng đáng buồn ư?[71]

Trong cuộc đàm thoại giữa ông Thang và ông Cách[72] cũng có một đoạn như vầy: Ở phương Bắc hoang dã có một cái biển gọi là “Ao trời”, trong biển có một con cá chiều ngang rộng mấy ngàn dặm, không biết chiều dài là bao nhiêu, gọi là cá côn; có một con chim gọi là chim bằng, lưng lớn như núi Thái Sơn, cánh như đám mây rủ ở trên trời, nó nương ngọn gió lốc, xoắn như sừng cừu, bay lên cao chín vạn dặm, vượt lên khỏi các đám mây, lưng đội trời xanh mà bay về biển Nam.

Một con chim cút ở trong cái đầm nhỏ cười nó: “Con đó bay đi đâu vậy? Tôi lên cao độ vài nhẫn[73] rồi xuống, bay liệng trong đám cỏ bồng cỏ cảo, cho bay như vậy là đủ rồi. Con đó bay đi đâu vậy kìa?”.[74]

Lớn với nhỏ khác nhau như vậy đó.

Có người tài trí đủ để làm một chức quan, có người hạnh làm gương được cho một làng, có người đức đáng làm vua mà được cả nước phục[75], nhưng dù thuộc hạng nào thì cũng đều tự đắc như con chim cút kia vậy.

Ông Vinh tử nước Tống[76] cười họ. Dù cả nước khen ông, ông cũng không mừng, cả nước chê ông, ông cũng không buồn, vì ông biết phân biệt nội và ngoại[77], vinh và nhục. Người như ông thật hiếm ở đời, nhưng ông chỉ biết tự thủ (tự giữ mình) thôi, chứ chưa tự thích nghi với vật mà thành bậc đại[78].

Ông Liệt tử[79] cưỡi gió mà bay, thật nhẹ nhàng, khoan khoái, mười lăm ngày rồi về. Có phúc lớn như ông thật hiếm ở đời, tuy khỏi phải đi, nhưng ông vẫn còn tùy thuộc một cái gì (tức đợi cho gió nổi lên).

Đến như hạng người làm chủ được cái chính đạo của trời đất, chế ngự được lục khí[80] để ngao du trong vũ trụ vô biên, thì còn tùy thuộc cái gì nữa đâu? Cho nên người ta bảo “Bậc chí nhân (có đức tuyệt cao) thì quên mình, bậc thần nhân thì không lập công, bậc thánh nhân thì không lưu danh”[81].

 

2

Vua Nghiêu muốn nhường ngôi cho Hứa Do[82], bảo:

- Mặt trời, mặt trăng đã xuất hiện, đuốc làm sao còn sáng được nữa mà không tắt đi? Mưa đã đổ mà còn tưới ruộng làm gì cho phí sức? Phu tử[83] mà lên ngôi thì nước sẽ trị; tôi còn giữ hư vị này (như người đại diện cho người chết trong tang lễ), tự lấy làm xấu hổ. Tôi xin giao thiên hạ cho phu tử.

Hứa Do đáp:

- Nhà vua trị nước, mà nước được bình trị. Bây giờ tôi lên thay, thế là cầu danh ư? Danh là khách của cái thực[84], tôi đóng cái vai khách sao? Con chim tiêu liêu (một loài chim nhỏ), làm tổ trong rừng, chiếm bất quá một cành cây; con “yển thử”[85] uống nước sông, bất quá đầy bụng thì thôi. Xin nhà vua cứ giữ ngôi. Tôi có biết dùng thiên hạ làm gì đâu. Nếu người bếp mà không biết nấu nướng thì người đại diện cho người chết[86] và người chủ tế cũng không bỏ chức vụ của mình mà thay người bếp được.

 

3

Kiên Ngô hỏi Liên Thúc:

- Tôi thấy Tiếp Dư[87] nói những lời khoa đại và không xác thực, đi mà không trở về[88], tôi sợ rằng những lời đó không biết đâu là cùng như dải Ngân hà, quái đản, bất cận nhân tình.

Liên Thúc hỏi:

- Ông ấy nói gì?

- Trên núi Cô Dạ xa xôi, có thần nhân ở, da họ trong trắng như băng tuyết, họ đẹp đẽ, mềm mại như gái trinh. Họ không ăn ngũ cốc, chỉ hít gió uống sương mà sống; họ cưỡi mây và rồng bay mà đi chơi khắp ngoài cõi bốn bể. Họ định thần mà làm cho vạn vật không bị bệnh tật, mùa màng năm nào cũng trúng. Tôi cho là nói bậy, không tin.

Liên Thúc bảo:

- Đúng vậy! Kẻ đui không thấy được những màu sắc, đường nét đẹp đẽ, kẻ điếc không nghe được tiếng chuông, tiếng trống. Nào phải chỉ hình hài mới đui điếc, trí tuệ cũng đui điếc nữa. Lời đó là nói về anh đấy. Những thần nhân đó có đức cao nên hòa đồng được với vạn vật.

Người đời có cầu họ trị nước, họ cũng không thèm chịu khó nhọc về việc cõi tục này. Không có vật gì có thể làm hại họ được; nước có dâng lên tới trời, họ cũng không bị chết đuối; trời có đại hạn tới nỗi kim thạch chảy ra, cháy cả rừng núi, đồng ruộng, họ cũng không thấy nóng. Dùng những trần cấu, cặn bã của họ có thể tạo thành những người như Nghiêu, Thuấn. Họ đâu có chịu lo những việc trần tục của chúng ta.

Một người nước Tống đem mũ lễ qua nước Việt bán. Nhưng người nước Việt cắt tóc, xâm mình, đâu có dùng những mũ ấy.

Vua Nghiêu trị dân, bình định hải nội rồi, bèn lên núi Cô Dạ ra mắt bốn hiền nhân [là Hứa Do, Niết Khuyết, Vương Nghê, Bị Y]. Khi trở về tới phía Bắc sông Phần[89], ông không biết gì nữa, quên mất thiên hạ của ông[90].

 

4

Huệ tử[91] bảo Trang tử:

- Vua Ngụy cho tôi một hột giống bầu lớn, tôi đem trồng được những trái chứa được năm thạch[92]. Dùng cả một trái để chứa nước thì nó không đủ cứng để chịu được, khiêng đi sẽ bể; nếu xẻ nó thành nhiều phần thì lại nông quá, không chứa được bao nhiêu. Thành thử tuy nó lớn mà vô dụng, cho nên tôi đã đập bỏ.

Trang tử bảo:

- Vậy là ông vụng sử dụng những vật lớn rồi. Một người nước Tống chế được một thứ thuốc bôi ngón tay cho khỏi nứt nẻ. Gia đình người đó đời đời làm công việc đập lụa. Một người lạ hay tin, lại trả một trăm đồng tiền vàng để mua phương thuốc. Người đó họp cả họ lại, bảo: “Chúng ta đời đời đập lụa, chỉ kiếm được vài đồng tiền vàng. Bây giờ chỉ trong một buổi có thể thu được một trăm đồng. Nên bán cho họ đi”. Người lạ kia được phương thuốc rồi, lại thuyết vua Ngô. Lúc đó nước Việt đang gây chiến với Ngô, vua Ngô bèn phong người đó làm tướng. Mùa đông, hai bên thủy chiến với nhau, Việt đại bại[93] phải cắt đất[94] cho Ngô, vua Ngô đem đất đó phong cho ông ta.

Cùng dùng một thứ thuốc mà người thì được phong đất, kẻ vẫn phải đập lụa, chỉ vì cách dùng khác nhau. Nay ông có trái bầu chứa được năm thạch, sao không nghĩ cách dùng nó làm một trái nổi để qua sông, hở? Phàn nàn rằng xẻ ra thì nó nông quá, không chứa gì được, chính là vì lòng của ông không thông đạt[95] đấy.

 

5

Huệ tử bảo Trang tử:

- Có một cây lớn gọi là cây xư[96]. Thân nó nổi u, chỗ lồi chỗ lõm, không dùng dây mực của thợ mộc mà vạch đường được; cành nhỏ của nó cong queo không dùng cái qui[97] và thước vuông để xẻ được. Nó mọc ở ngay bên đường mà không một người thợ mộc nào thèm ngó tới. Thuyết của ông cũng vậy, rộng lớn mà không dùng được, nên không ai theo.

Trang tử đáp:

- Ông có thấy con li tinh[98] không? Nó nép mình để rình mồi, nó nhảy qua đông qua tây, chẳng kể cao thấp, nhưng có ngày nó cũng chết vì bẫy, vì lưới. Còn con thai ngưu[99] thân lớn như đám mây trên trời mà không bắt nổi một con chuột. Ông có một cây lớn mà lo rằng nó vô dụng. Sao không trồng nó ở chỗ hư vô tịch mịch, trong cánh đồng mênh mông, để những kẻ nhàn rỗi thơ thẩn dạo chung quanh thảnh thơi ngủ dưới bóng mát của nó? Nó không sợ bị búa rìu đốn, hoặc bị ngoại vật làm hại. Nó không dùng được vào việc gì, thì tai họa làm sao mà đến?[100]

 

NHẬN XÉT