Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2023

Dấu Chân Người Về.






Dấu Chân Người Về. 

Truyện ngắn Hoàng Ngọc Tuấn

Chàng đứng trước cánh cửa sổ nối liền với hàng rào thép gai bao quanh sân nhà. Nếu chàng mở cánh cửa, một cử động thật ngắn ngủi và dễ dàng, là ngôi nhà của chàng đó. Ánh đèn điện sẽ bừng sáng, cánh cửa đóng kín trước nhà sẽ mở ào ra như một cơn gió, chàng sẽ tìm thấy lại một khuôn mặt kinh ngạc lẫn mừng rỡ của người mẹ chàng và mấy đứa em nhỏ. Nhưng chàng vẫn đứng im, bàn tay nắm chặt chiếc xắc tay nhẹ bổng với một vài bộ áo quần. Chàng nhìn mũi giày của chàng xoay nhè nhẹ trên cát, ở cái thành phố miền biển này, cát trải đầy dưới chân của mọi người khắp nơi và bây giờ, cát bám đầy một màu vàng mù mịt trên đôi giày của chàng.

Bây giờ đêm chưa khuya lắm nhưng ánh đèn đã tắt trong nhà chàng, nhà hàng xóm cũng thế. Xóm này có thói quen đi ngủ sớm, tất cả những cánh cửa đều đã khép kín, bóng tối từ những tàng lá rậm của cây keo tây làm cho khu xóm tối tăm thêm. Chàng mỉm cười nhớ lại ngày xưa chàng vẫn rất ghét cái thói quen đi ngủ sớm của xóm này. Chàng vẫn thường ra ngồi một mình trên tầng cấp trước nhà, nhìn bâng quơ khắp xóm để tìm một khung cửa nào đó còn có ánh đèn, nhưng chàng không bao giờ được hài lòng. Chàng thấy mình thèm một hơi thuốc lá, ánh lửa của que diêm soi mập mờ lên mặt kính đồng hồ cho chàng biết là chàng đã đứng ở đây khá lâu, đứng bất động như một tượng đá. Tay chàng đặt nhẹ lên cánh cửa gỗ, những tiếng kêu gọi nào như nói bên tai chàng, chỉ cần hất cái then cài cửa qua một bên và đi vào sân, chậm rãi bước lên những bậc thềm, gõ tay vào cánh cửa lớn trước nhà. Rồi lắng nghe những tiếng ồn ào xao động dần dần vang rõ từ bên trong, tiếng động của những bước chân chạy vội vã. Có lẽ chàng sẽ tìm thấy cảnh tượng của gia đình giống đúc như hồi chàng còn ở nhà. Người mẹ chàng với thân hình mập mạp sẽ tất tả chạy ra, đứa em gái của chàng có đôi mắt thật to và chiếc cổ dài như một con hươu cao cổ, đứa em trai út ốm tong teo với cặp giò dài như ống tre, vừa dụi mắt vừa la hét ầm ĩ.

Cánh cửa mở ra thật dễ dàng, một tiếng động thật nhỏ nhoi gần như mơ hồ trong đêm, nhưng sẽ mở ra biết bao nụ cười náo nhiệt. Chàng bồn chồn thầm nghĩ không biết gian phòng khách của căn nhà có còn bày biện như xưa không, cánh cửa sổ có còn được giăng bằng bức màn vải màu xanh, dưới tấm kính trong veo trên chiếc bàn có còn đặt tấm hình chụp chàng hồi nhỏ đang ngồi chễm chệ trên một con ngựa đá. Chàng cũng nhớ đến căn phòng nhỏ riêng tư của chàng, tối tăm và đầy những mạng nhện, sách báo vứt bừa bãi trong các xó xỉnh bây giờ chắc đã làm thức ăn cho bấy mối, trên tường tấm lịch xưa cũ màu đỏ có bức tranh một bầy ngựa bạch đang soãi vó trên cánh đồng xanh. Rồi căn phòng cuối cùng mái lợp tôn là nhà bếp, chàng vẫn thường xuống đó để nhìn cô em gái của chàng lúi húi vo gạo nấu cơm. Hồi nhỏ chàng thích ăn mặn có tiếng nên thường lén xuống bếp bỏ thêm muối hay nước mắm vào những món ăn đang sôi trên bếp lửa. Chàng nhớ nhiều nhất đến cánh cửa nhỏ sau cùng hết của căn nhà, ăn thông ra một con ngõ tối, cánh cửa mà chàng nắm hết những bí mật mở ra và đóng kín lại thật nhẹ nhàng để đêm đêm có ít tiền trong túi, chàng một mình mở cửa đi ra khỏi nhà, la cà ở những tiệm cà phê, những quán nước ngoài bãi biển, tiệm bi da cho đến gần sáng mới trở về mà trong nhà không ai hay biết.

Bây giờ nếu chàng muốn biết những điều đó có thay đổi gì không, chàng chỉ việc mở cánh cửa là tìm lại tất cả. Không khí nhỏ bé ấm áp của gia đình, những đồ vật thân thuộc gần như những người, khuôn mặt yêu dấu của người mẹ và bầy em. Tất cả. Tất cả từ một cử động nhỏ. Nhưng tiếng động ấy đã không vang lên một cách hồn nhiên, bàn tay đã lệ thuộc vào sự nghĩ ngợi của trí óc. Và những gì dính dấp đến trí óc thật là kinh khủng, chúng làm chàng phải chọn lựa. Chàng đứng bất động trong cảm giác băn khoăn do dự thật vô lý nhưng chàng không thể nào xua đuổi nổi.

*

Cách đây đã lâu chàng có về nhà một lần. Gia đình thật vui vẻ và náo nhiệt trong một vài ngày đầu. Những đứa em bao quanh lấy chàng và chàng cho chúng những món đồ lặt vặt như sách báo trẻ em, cặp da, một bộ sưu tập tem quốc tế cho đứa em trai và một xấp vải áo cho cô em gái. Người mẹ hỏi han chàng đôi chút về những ngày chàng ở xa đây, chuyện học hành sinh sống. Bà trách chàng về cái tật làm biếng viết thư về cho gia đình. Mỗi khi nghe thành phố chàng ở bị pháo kích hay khủng bố, bà phải vội vàng mua báo để dò tên chàng trong danh sách những nạn nhân, nhưng dĩ nhiên là không bao giờ có tên chàng cả. Bữa cơm đầu tiên dưới mái nhà thật ngon lành, món cá ngừ kho với nhiều ớt chín thơm phức, dĩa thịt bò tái có nhiều rau sống và nước tương, tô canh thơm cá hồng ngọt lịm, dĩa cà muối và rau muống luộc tươi xanh, ly bia mát lạnh trong miệng. Người mẹ hỏi chàng ăn uống ra sao khi xa nhà, chàng trả lời rằng chàng ăn sơ sài cho qua bữa, dĩa cơm gì đó với ly trà đá ở quán cóc bên đường. Người mẹ lắc đầu nói hèn gì trông chàng ngày càng ốm yếu hẳn đi, nhưng những đứa em nói rằng chúng rất khoái được ăn cơm ở những quán bên đường, chúng cũng đòi chàng kể cho chúng nghe về những chuyện ở thành phố đầy đặc xe hơi bóng loáng và nhà cửa đồ sộ.

Sau bữa cơm, cả nhà đều đi ngủ trưa ngoại trừ chàng. Chàng nằm dài trên chiếc ghế bành, mắt mở thao láo nhìn quanh khắp căn nhà, quan sát tò mò những đồ vật tầm thường nhất, như bàn ghế, chiếc bình hoa, chiếc vỏ ốc dùng để gạt tàn thuốc. Chàng hút một điếu thuốc lá có mùi là lạ, khác với thứ thuốc chàng hay hút. Người mẹ vừa đưa tiền cho đứa em chàng mua mười bao thuốc lá đủ hiệu, Winston, Montclair, Philip Morris, Chesterfield, Lucky gì đó cũng được, toàn là những thứ chàng ít thích hút nhưng bây giờ mùi vị lạ khác nhau của từng loại thuốc làm chàng thích thú.

Chàng nhấp nháp một ly rượu nhẹ, ngẫm nghĩ đến những ngày chàng ở xa đây, những ngày tháng toàn là rong chơi vui đùa, quay cuồng, no đói thất thường và đôi khi buồn chán đến chết được. Cứ thế chàng nằm duỗi dài người cho đến chiều tối, hay chập chờn trôi vào một giấc ngủ nửa tỉnh nửa mê. Trong căn phòng vắng lặng, chỉ có tiếng quạt máy quay nhè nhẹ, tiếng đàn dồn dập của một nhạc công tây ban cầm danh tiếng trong những nhạc điệu lãng mạn, từ chiếc máy hát nhỏ. Chàng cảm thấy mình lâng lâng sung sướng như một thi sĩ đầu bạc trắng đã gạt bỏ hết mọi chuyện đời.

Một vài ngày nhàn hạ tiếp theo, rồi không khí của gia đình không còn thanh thản như chàng mơ ước. Người mẹ bận rộn suốt ngày, tất tả đi qua đi lại nhà hàng xóm trong những vụ hụi hè, mượn tiền, cho vay. Nhà chàng tấp nập những con bạc đến vay nợ, trả tiền, đôi khi có người khênh cả tủ lạnh hay máy hát đến cầm thế. Phần đông con bạc là những cô gái lấy Mỹ ở trong xóm, những gã lính Mỹ thường bận công tác xa nhà nên các cô nàng có đủ thì giờ rộng rãi chui đầu vào sòng bạc suốt ngày đêm.

Chàng không muốn nhưng vẫn nhìn thấy hoạt cảnh quay cuồng xảy ra thường trực trong nhà. Người mẹ mặc cả kỳ kèo từng đồng bạc với khách, giận dữ la ó, cằn nhằn đủ chuyện mỗi khi có con bạc nào đó không trả nợ đúng kỳ hạn. Bữa cơm ngột ngạt không còn làm chàng ngon miệng, hai đứa em sợ hãi ăn từng miếng một, chàng ngồi lặng lẽ câm như miệng hến. Chàng biết người mẹ sẽ tìm đủ cớ để trách la mọi người cho hả giận. Bà mắng hai đứa em về những lý do mơ hồ nào đó, rồi cau có quay sang chàng:

“Tiền bạc càng ngày càng khó kiếm, không đủ chi tiêu trong gia đình. Con không lo học hành cho chóng xong, không tìm công việc gì làm kiếm tiền sống tự túc. Mẹ đã tốn kém biết bao vì con từ khi con nhỏ cho đến bây giờ”.

Chàng im lặng. Người mẹ bỏ chén cơm không buồn ăn, bà tiếp tục:

“Con trai lớn mà không giúp đỡ gì cho gia đình được cả, ở nhà thì cứ tiêu hoang, xa nhà đã lâu mà cũng không khá được gì. Con không noi gương tụi thằng Hai, thằng Dũng con bà Bảy, chúng đi làm sở Mỹ kiếm mỗi tháng cả mấy chục ngàn, chạy áp phe dư tiền nuôi cha mẹ, nuôi em. Con phải biết “liệu cơm gắp mắm” chứ, nhà đâu có đủ tiền cho con ăn học suốt đời, phải biết tùy thời mà xoay sở, học hành coi bộ sau này cũng không làm gì được thì phải lo kiếm nghề ngỗng làm có tiền nuôi thân và nuôi gia đình, mẹ đâu có đủ sức nuôi con mãi đâu…”

Chàng cảm thấy miếng cơm đắng nghét trong miệng, chàng hớp vội một miếng nước. Những đứa em chàng đã ăn xong vội vàng, chúng đang lo sửa soạn sách vở đi học. Người mẹ uống một ly bia, mặt bà đỏ gay và lấm tấm mồ hôi. Bà vẫn chưa chấm dứt bản điệp khúc của bà:

” Mẹ đã lớn tuổi rồi, sợ không đủ sức nuôi mấy em được nữa. Những người bằng tuổi mẹ đáng lẽ là nghỉ ngơi rồi, thế mà mẹ vẫn suốt ngày quần quật làm ăn. Hồi trước ai cũng trông đợi, đặt hy vọng vào nơi con cả, mong con sớm làm ăn nuôi gia đình. Bây giờ không thấy con lo lắng gì cho gia đình cả, con cứ sống lông bông ở đâu đó, thỉnh thoảng về nhà một lần rồi lại đi. Con không cần biết gì về gia đình cả…”

Người mẹ đưa tay lên chùi mắt:

“Con không biết thương ai cả. Hồi còn nhỏ mẹ khổ sở biết mấy vì con, giờ con càng ngày càng có vẻ thờ ơ, sống trong gia đình mà cứ như một khách lạ”.

Chàng rời khỏi bàn ăn. Không khí ngột ngạt khó thở làm chàng nóng nực, mồ hôi trong ngực áo và trên mặt chàng thấm ướt. Chàng muốn nốc hết một chai rượu mạnh để được ngủ vùi trong mồ hôi, hơi rượu và cơn mê mệt. Chàng ao ước được đứng trên bãi biển, nhảy ào xuống mặt nước xanh ngát bao la, để trôi thân thể trong dòng nước mát lạnh, không nghĩ ngợi không ưu phiền vì một điều gì cả. Chỉ man mác trong tâm hồn một ý nghĩ là trên đời chỉ còn chàng và biển.

Đối với đời sống hoang đàng của chàng, no đủ hay đói khổ thật vô nghĩa. Chàng chỉ sợ hãi những lời trách móc và đôi mắt phiền muộn của một ai nhìn chàng. Chàng cảm thấy lúng túng và xấu hổ khi có ai đó đặt nhiều hy vọng vào chàng, như mẹ chàng chẳng hạn.

Chàng trở về để tìm lại một ít không khí dễ chịu. Một ngọn đèn vàng trong đêm mưa, căn nhà nhỏ vang vang tiếng học bài của bầy em nhỏ, bàn tay đan chiếc áo ấm mùa đông và đôi mắt âu yếm nhìn các con của người mẹ. Chàng sẽ sung sướng biết bao khi được đắm mình trong thế giới nhỏ nhắn nhưng tươi đẹp như một trái dâu tươi ấy, nhìn thấy hạnh phúc của những người thân của mình và từ đó cảm thấy mỗi thời khắc đều đẹp đẽ tràn đầy như biển cả.

Và chàng lại ra đi vì những điều không nồng nàn, không tươi mát, không êm đềm, những điều trái ngược hẳn với biển cả yêu dấu của chàng.

*

Bây giờ chàng vẫn còn đứng trước cổng nhà, bàn tay đã thôi đặt trên cánh cửa, bàn tay kia nắm chặt lấy chiếc xắc tay. Đêm khuya dần, trời khuya như thế này hút thuốc ngon biết mất nhưng bao thuốc của chàng đã hết. Không khí mang theo nhiều cát và mùi vị mặn của gió biển.

Tiếng chó sủa bỗng vang lên khi có một đám người đàn bà lầm lũi đi ra từ trong một ngõ tối.

Chàng nhìn thấy loáng thoáng vài khuôn mặt tái nhợt, mặt mũi như những bóng ma và bắt gặp một mùi nước hoa rẻ tiền. Chàng biết họ vừa từ sòng bạc nhà bà Tư già chui ra, nhưng không hiểu sao đêm nay họ lại về nhà sớm thế, mọi khi những con bạc vẫn đánh cho đến sáng. Một người đàn bà bỗng dừng lại nhìn chàng chăm chú, nàng mặc chiếc áo ngủ màu hồng có nhiều nếp nhăn và mái tóc xô lệch. Chàng nhận ra một vài nét quen thuộc nhưng vẫn không biết là ai cho đến khi người đàn bà kêu lên kinh ngạc và gọi đúng tên chàng:Trời ơi! Cậu về hồi nào vậy?
Chị Ngọc phải không?
Tôi đây chứ còn ai nữa, bộ tôi bây giờ già lắm hay sao mà cậu không nhận ra?
Đâu có, tại trời tối quá. Chị vẫn thường luôn chứ?

Người đàn bà uể oải gật đầu, nàng lấy bao thuốc lá từ trong ngực áo, gắn một điếu lên môi và mời chàng một điếu. Trong bóng tối bây giờ có một chút khói xanh.Chị bữa nay cũng ghiền hút thuốc rồi, ông chồng chị không cấm sao?
Còn đâu nữa mà cấm. Anh ấy chết trận rồi.
Chết? sao vậy?
Chết là chết chứ biết tại sao. Mà không chết cũng vậy thôi. Tôi và anh ấy bỏ nhau lâu rồi… Hồi đó tôi đen quá, đánh đâu thua đấy, đồ đạc trong nhà đem đi bán sạch trơn, có được căn nhà cũng đem cầm. Cậu xem tôi có trẻ đẹp gì đâu, chẳng qua là có tiền mới giữ được anh ấy, chừng hết tiền rồi là anh ấy bỏ tôi lập tức…

Người đàn bà thở một hơi khói, đôi môi nàng khô ran khi chép miệng thở dài:Anh ấy sống với một con khác được đâu chừng vài tháng rồi chết, đi hành quân bị phục kích ở gần cầu Bà Di đó cậu. Chết cũng đáng đời, nhưng đôi khi nhớ lại cũng thấy thương phải không cậu?

Chàng không nói gì. Người đàn bà nhìn chàng từ đầu đến chân rồi, nói:Cậu về má cậu biết chưa? Trời ơi! Sao áo quần còn để đây, sao không chạy vào kêu cửa cho bà ấy biết? Bà thấy cậu về chắc bà mừng lắm.
Mấy bữa nay chị có thường gặp má tôi không?
Gặp hoài. Hồi trưa tôi mới đến bà chuộc mấy món đồ, bà có mời tôi ở lại ăn cơm. Bà lúc này làm ăn coi bộ kẹt cậu à, vài đứa con nợ trốn biệt tích. Bà có vẻ buồn, cậu về chắc bà vui lắm. Để tôi chạy vào kêu bà nghe.

Chàng hốt hoảng ngăn người đàn bà lại:Đừng, chị Ngọc. Làm gì gấp vậy, đứng đây nói chuyện chơi một chút đã… Lâu nay chị có gặp Phượng không?

Người đàn bà nheo mắt nhìn chàng tỏ vẻ đùa cợt:Chưa gì đã hỏi thăm “người xưa” rồi. Con Phượng lúc này bê bối lắm. Thằng Mỹ già bỏ nó rồi, cờ bạc, nghiện rượu quanh năm ai mà chịu được. Nó bây giờ bán ở cái bar gì đó ở bãi biển, nhưng coi bộ xác xơ lắm, tiền làm ra có được bao nhiêu mà tiêu như nước.

Người đàn bà nói nhỏ lại:Con Phượng có kể cho tôi nghe về cậu…
Thôi dẹp chuyện ấy qua một bên đi. Chị còn thuốc lá không, tôi xin một điếu.

Người đàn bà châm lửa cho chàng. Khi đốm ánh sáng nhỏ lóe lên, người đàn bà nói sao độ này chàng xanh xao quá. Chàng lặng yên hút thuốc, không nói lời nào trong một khoảng thời gian lâu nên người đàn bà tỏ ý muốn chào chàng va ra về.Chị Ngọc, tôi nhờ chị một điều này. Chị đừng nói cho má tôi biết tôi có về nhà nghe.
Sao kỳ cục vậy?
Chị đừng hỏi, tôi cũng không biết trả lời sao cả. Chị cứ hứa với tôi đi, sáng mai chị đừng cho ai biết đêm qua tôi có về, sáng mai là tôi đón xe đi thật sớm, thật xa đây rồi. Chị hứa với tôi một lần đi, chị Ngọc.

Người đàn bà ngơ ngác và hơi buồn rầu. Nàng vứt mẩu thuốc lá đi xa, nàng nói những lời gì đó với chàng nhưng chàng không nghe gì cả, tai chàng lùng bùng với những tiếng động khó chịu. Sau cùng người đàn bà cũng hứa sẽ giữ kín chuyện chàng trở về, nàng đưa cho chàng hết cả bao thuốc lá rồi bỏ đi, bóng nàng xa dần trong đêm tối. Tiếng chó sủa lại vang lên nghe rờn rợn rồi nhỏ lại, gầm gừ vài tiếng và mất hẳn.

Bỗng chàng nghe tiếng chó sủa dữ dội hơn, văng vẳng từ đàng xa tiếng rao hàng của một bà già bán hột vịt lộn. Chàng nắm chặt lấy chiếc xắc tay, quả quyết bỏ đi. Chàng nhớ lại mẹ chàng có thói quen ăn hàng đêm, dù ngủ say đến đâu mà chợt nghe tiếng rao hàng của những bà bán bún bò, hột vịt lộn là bà đánh thức cả nhà dậy để kêu ăn rồi mới ngủ lại.

Một ý tưởng thật buồn cười chợt đến với chàng. Chàng nhìn những dấu chân của chàng lún từng vết trên bãi cát lầy lội và nghĩ rằng sớm mai, những đứa em chàng khi mở cổng đi học, sẽ nhìn thấy những dấu chân và đoán được chàng có về nhà đêm qua. Ý tưởng thật trẻ con và vô lý nhưng chàng không xua đuổi nổi, chàng vội vàng dùng đế giày xóa tan những dấu chân, và cẩn thận đá văng tung tóe những mẩu tàn thuốc rơi đầy quanh chỗ chàng đứng. Chàng vội vã bỏ đi nhanh vào con ngõ hẻm ăn thông ra đường lớn. Tiếng chó của nhà hàng xóm hai bên ngõ hẹp sủa vang thật dễ sợ khi bóng chàng lầm lũi đi qua.

Khi đi được một quãng đã xa, chàng yên tâm quay đầu nhìn lại mái nhà mà suýt nữa bây giờ chàng đang yên ấm nằm bên trong. Ánh đèn vàng bùng lên trong căn nhà và một cánh cửa sổ mở ra cho thấy bóng dáng nhấp nhô của một vài người. Chàng cảm thấy tim mình nhói đau đến nỗi muốn quỵ xuống, nắm úp mặt mãi mãi trên bãi cát này. Chàng ước ao được trở thanh một cậu bé con lên năm để có thể khóc òa và giậm chân giận dỗi suốt đêm. Cát dưới chân chàng quấn quýt làm những bước đi chậm lại.

Một chiếc xích lô đạp dừng lại. Lão già đưa mắt nhìn chàng dò hỏi.Bác có biết một phòng ngủ nào rả tiền chở tôi đến đó.

Lão già gật đầu. Chiếc xe lăn bánh chậm rãi trên con đường đêm không một ngọn đèn. Gió biển càng thổi mạnh và chàng nhìn thấy bãi biển và hàng dương liễu đàng xa dần dần tiến lại gần.Bác định chở tôi đi đâu đó?
Ở bãi biển mới có một khách sạn mới cất, chắc bây giờ ở đó còn có phòng trống.

Chàng hốt hoảng ngăn lão già:Bác quanh đầu xe trở lại đi. Kiếm cho tôi một khách sạn nào ở phố, càng xa bãi biển càng tốt, đắt rẻ gì cũng được.

Lão già ngơ ngác không hiểu gì cả rồi cũng quay đầu xe trở lại. Lão già làm sao hiểu được, chàng sợ hãi biết bao tiếng sóng biển. Những đêm buồn và cô độc như thế này nghe mãi bên tai tiếng sóng âm u buồn thảm không bao giờ dứt, chàng làm sao chịu nổi. Chàng ngồi dựa người trên nệm xe, nhắm mắt lại để tưởng tượng như nằm trên chiếc giường quen thuộc trong nhà. Nhưng chàng giật mình mở mắt ra, vì tiếng nhạc ồn ào và tiếng cười đùa của những gái giang hồ vang lên từ những quán rượu nằm sát bên nhau.

Chàng mỉm cười nhớ lại mình đã nhanh trí xóa dấu chân trên cát. Sớm mai, những đứa em của chàng sẽ vô tư đi học như thường lệ, mẹ chàng sẽ bận rộn với tiền bạc như thường lệ. Người đàn bà tên Ngọc có lẽ sẽ giữ lời hứa với chàng, và như thế là ở cái thành phố mà ngày xưa chàng vẫn gọi đùa là “thành phố thân yêu của tôi”, không ai biết chàng đã trở về đêm qua.

Chỉ có bãi cát là nhớ rõ những dấu chân chàng. Nhưng im lặng muôn đời là thói quen đáng yêu của những hạt cát.

1969
Hoàng Ngọc Tuấn

(Trích từ tập truyện ngắn Cô Bé Treo Mùng, nxb Trí Đăng 1972)

Tiếng Hát Hoang Đường




Hoàng Ngọc Tuấn sinh năm 1947 tại Huế. Từ năm 1967, ông phiêu bạt vào Nam sinh sống, theo học Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, và bắt đầu bước vào nghề cầm bút từ thời gian này. Ông được giới trẻ miền Nam đặc biệt yêu thích, đón nhận như một “hiện tượng văn học” từ trước 1975.

Trước 1975, Hoàng Ngọc Tuấn từng được bình chọn là 1 trong 5 nhà văn được yêu thích nhất của tuổi trẻ miền Nam, do tuần báo Khởi Hành (nhà thơ Viên Linh làm chủ biên) trưng cầu ý kiến bạn đọc. Có lẽ, ông là nhà văn hiếm hoi đã bắt trúng ngôn ngữ và tâm trạng của lớp trẻ vào thời điểm ấy.


Tiếng Hát Hoang Đường

Truyện ngắn Hoàng Ngọc Tuấn




Hoàng Ngọc Tuấn – 1971

“… khi nàng hát bài “Tình ca của người mất trí”. Bài hát ấy là trái tim đau đớn của những người thiếu nữ xinh đẹp trẻ trung, đã sớm biết nỗi buồn của người góa phụ, khi người yêu của họ bất chợt ngã gục trên một chiến trường nào đó, ở Pleime, ở Đồng Xoài, ở Chiến Khu D hay ở ngoài Hà Nội. Nàng cũng có một người yêu tử trận trên miền núi, bây giờ nàng kêu khóc đau xót cho nàng và cho cả biết bao cô gái khác. Dưới ánh đèn, giọt lệ không bao giờ rơi trên mắt nàng, nhưng trong tâm hồn đã rơi đầy tiếng khóc hiu quạnh…”


(Tranh sơn dầu trên giấy của Trịnh Công Sơn – năm 1963)

“Tiếng hát của chị thật hoang đường, trong âm thanh đục mờ như một màn sương, có những nhựa cây ma túy. Nó làm đầu óc tôi lãng đãng nhưng không mệt mỏi, trái lại người tôi lúc nghe chị hát, tỉnh táo ghê gớm lắm, những lời ca như những hạt mưa giông nặng trĩu, và tôi lắng nghe rõ ràng từng tiếng vang động của giọt âm thanh lóng lánh ấy như tiếng chuông rền trong trái tim, đôi khi nó làm tôi hạnh phúc, đôi khi làm tôi đau đớn.”

Nàng cười: “anh nói mơ hồ và dài dòng quá, tôi không hiểu được hết”. Người thanh niên nói: “có hề gì đâu, tôi cũng không nhớ được hết những lời tôi vừa nói, tôi chỉ cảm thấy bất chợt như thế, chỉ có điều này làm tôi nhớ mãi, là tiếng hát của chị cần cho tôi như cơm áo, thuốc lá, như tiếng mẹ ru thời còn bé, và tôi sẽ chết được nếu mai sau rủi có việc gì xảy ra làm tôi không còn được nghe chị hát nữa”. Nàng cười sung sướng. Đôi mắt nàng khi vui tươi vẫn tối tăm hơn đêm tối. Nụ cười của nàng khi hạnh phúc vẫn không được toàn vẹn, vẫn nặng trĩu trong một màn lướt dĩ vãng dày đặc nào đó.

Người thanh niên bỏ đi sau khi nói những lời cuối cùng với nàng. Nàng tìm một điếu thuốc nhưng bao thuốc của nàng đã trống không, bị vò nát trong bàn tay nàng. Nàng nghĩ rằng mình thôi không hút thêm một điếu thuốc nào nữa, đêm nay nàng đã hút hết một bao rồi, nhưng chất cà phê còn thấm trong lưỡi khiến nàng thèm một hơi thuốc lá, một ít khói nóng cay cho miệng bớt nhạt nhẽo. Người thanh niên trở lại với bao thuốc lá trong túi áo, anh châm cho nàng một điếu thuốc, và nhờ ánh lửa của que diêm cháy trong phút chốc, nàng nhìn thấy tóc anh đã dài và anh mặc một chiếc áo sơ mi màu xanh da trời. Người thanh niên nói anh sẽ đưa nàng về nhà bây giờ nếu nàng thích về và đã buồn ngủ. Nàng gật đầu đồng ý, về nhà bây giờ chắc sẽ buồn nhưng nàng nhớ hai đứa con của nàng giờ đang ôm gối ngủ say.

Bây giờ là đêm nhưng chiếc áo dài màu lục diệp của nàng còn đen hơn đêm tối. Trong đêm khuya hoang lạnh, không còn âm thanh gì cả ngoài tiếng bánh xe lăn rào rạo trên mặt đường, nàng thì thầm hát một đoạn nhạc nhưng tiếng hát nhỏ quá khiến nàng cũng không nghe gì cả. Tiếng hát dư thừa còn lại trong đêm khuya, nghe yếu đuối như hạt bong bóng nước.

Như thế là một đêm của nàng đã hết. Đêm bắt đầu khi ngọn đèn thắp lên ánh sáng, và đáng lẽ kéo dài đến sáng, nhưng vì bây giờ giới nghiêm lúc mười hai giờ, những người bạn của nàng và nàng phải về nhà nên đến giờ đó xem như đêm của nàng đã hết. Những giờ về sáng còn lại là ngủ mê man trong một cơn mơ tươi thắm và chờ đợi ngày khác bắt đầu.

***

Nếu người điên không nghe, nàng vẫn nói một mình cho nàng: Tôi có cái tên của một loài hoa mùa xuân nhưng đời tôi không trong sáng như mùa xuân. Ở tuổi mười tám tôi là một nữ sinh nhưng rồi đã bỏ trường học vào năm đó. Thành phố này có những đêm lộng lẫy ở phòng trà ca nhạc, những cặp tình nhân ăn mặc sang trọng như tài tử, những người bồi mặc áo trắng thắt nơ đen thật đẹp cung kính cầm chai sâm banh rót vào ly. Không khí mê hoặc của bóng tối trong căn phòng gắn máy lạnh, hình ảnh rực rỡ cúa những cô ca sĩ dưới ánh đèn màu, âm thanh sôi nổi của tiếng đàn, trống kèn. Tôi đã yêu những thứ đó quá sớm, và khi tôi yêu điều gì, tôi không thể nào trốn tránh nó được, tôi lao đầu chạy theo như một dòng thác nước đổ ào xuống thung lũng.

Tôi tập tành hát hỏng, mang những giấc mộng huy hoàng nhưng rồi chỉ là một cô ca sĩ vô danh trong cái thành phố quá khó khăn cho những ai muốn bắt đầu điều gì. Sài Gòn có thật nhiều thần tượng, mà người ta đã thi nhau nhào nặn rồi dựng nên, những thần tượng phần nào giả tạo nhưng vững chắc trước đám đông người dễ dãi. Tôi bỏ nhà, bỏ Sài Gòn, lên một tỉnh cao nguyên, tìm được một chân khiêm nhường trong phòng trà nhỏ. Mỗi đêm đứng trước ánh đèn chiếu vào người, mặc một bộ đồ da đen bóng cóp nhặt theo những ca sĩ ngoại quốc, hát vài bài nhạc thời thượng do khách yêu cầu rồi nghe một tràng pháo tay nhỏ nhoi. Cứ như thế mãi.

Trời Đà Lạt lạnh và cô đơn, tôi cần hơi ấm của một người tình. Tôi yêu dễ dàng một người đàn ông trẻ tuổi có khá tiền, và trở thành vợ của người đó thật đơn giản. Một đứa bé gái và một đứa bé trai ra đời, tôi trở thành đàn bà nhưng trong tôi có một tâm hồn trẻ con vẫn sống mãi. Tôi yêu nhiều điều, say mê nhiều thứ và chạy theo luôn những điều tôi yêu. Người chồng và hai con mang lại cho tôi hạnh phúc, nhưng tôi vẫn thèm khác những điều khác nữa, những điều không phải là hạnh phúc, đôi khi đồng nghĩa với khổ đau, trôi nổi. Tôi có thêm một hai nhân tình sang giàu và thế lực, công khai nép mình trong vòng tay của họ, tình yêu tôi đối với một vài người khá lâu dài, một vài người ngắn ngủi. Người chồng ghen tuông đau đớn, cãi vã giận dữ rồi bỏ đi, rồi lại trở về. Đời sống chúng tôi không còn yên bình, sự yên bình mà người khác có thể tìm thấy dễ dàng, nhưng tôi quá chán sự bình. Người chồng tìm quên ở những người đàn bà khác, chúng tôi yêu nhau nhưng đôi lúc thù ghét nhau và cả hai đứa cứ tiếp tục bị vây khốn trong một xích sắt siết chặt, cùng tìm lấy nhau vào nỗi khổ.

Tôi vẫn hát ở phòng trà nhỏ cao nguyên để kiếm một số lương đủ sống. Tôi không suy nghĩ nhiều về âm nhạc. Tôi chỉ muốn được trở thành một ca sĩ ăn khách nhất, được nhiều người hâm mộ, tiền thù lao thật cao để tôi ăn xài thỏa thích, mua sắm những bộ y phục đắt tiền, tôi hát như một cái máy, tiếng hát tôi sẽ tự động phát ra, chạy đều đều cho đến hết bài, như một bổn phận đối với tiền bạc.

***

Một đêm khi phòng trà vừa đóng cửa, người nhạc sĩ nhìn thấy nàng đang đứng dưới mái hiên bên ngoài mưa rơi từng vệt óng ánh trong bầu trời đen, nàng vừa hát xong, đứng một mình ngần ngại nhìn trời mưa, rồi lặng lẽ bước ra ngoài đường, thân hình nàng gầy nhỏ co ro trong chiếc áo đi mưa, mái tóc đen láng nước. Nàng dừng lại ở sạp bán thuốc, mua một bao thuốc lá rồi tiếp tục đi. Trong bóng đêm có những ngụm khói xanh mỏng manh, đôi mắt nàng nhìn xuống mặt đường lạnh lùng như một người xa lạ trong thành phố. Người nhạc sĩ lần đầu tiên vừa nghe nàng hát trong phòng trà. Giữa đám đông khách đang bận rộn trò chuyện và nhậu nhẹt, tiếng hát nàng thật yếu ớt và lẻ loi. Nhưng người nhạc sĩ lặng yên nghe nàng hát, tiếng ca non dại như một loài chim nhỏ chưa vỡ tiếng, con chim chưa thoát xác để trở thành loài họa mi mơ ước. Trong giây lát, nhìn dáng dấp cô đơn của nàng thật mơ hồ trên con đường đêm, người nhạc sĩ đột nhiên nghĩ rằng những bài hát của anh là dành riêng cho nàng, cho dù những bài hát ấy thật khó khăn, đòi hỏi một giọng ca điêu luyện, cho dù tiếng hát của nàng còn non yếu. Nhưng khuôn mặt nàng với nếp nhăn đến sớm trên một vầng trán trẻ, đôi mắt mơ hồ buồn như màu suối nhưng đôi khi lóe lên những ngọn lửa tham vọng quyết liệt. Hình ảnh ấy cứ bám chặt lấy tâm trí người nhạc sĩ, anh biết những bài hát của anh lâu nay vẫn chờ đợi một tiếng hát đàn bà thật lạ thường, bây giờ đã trao hết cho người anh mới gặp đầu tiên này, trao tặng như một món quà sinh nhật làm sung sướng cả hai người.

Anh gọi tên nàng. Những bước chân nàng ngạc nhiên dừng lại, và như thế là nàng cũng chấm dứt luôn đời sống nhàm chán vô ích, kéo dài lê thê trong phòng trà đêm đêm, ở một tỉnh lỵ lạnh lùng. Nàng vứt điếu thuốc xuống vũng nước mưa, thắp lên môi một điếu thuốc mới. Ánh lửa rực rỡ sáng một đám hồng hào trong đêm tối tăm, nàng bắt đầu hút một điếu thuốc mới. Môt quãng đời vui mới, một trái tim nồng mới và một hạnh phúc êm ái mới.

Căn phòng của người nhạc sĩ có cánh cửa sổ nhìn sang khu rừng, từ bên trong tiếng hát của nàng ào ạt vỡ tung bay ra theo khung cửa, chen lẫn với tiếng đàn. Ròng rã nhiều ngày, người nhạc sĩ tập cho nàng hát những bài của anh, hát trong bầu không khí hoàn toàn mới mẻ, không còn bận tâm với bọn thực khách xung quanh, không nghĩ đến những lời hò hét yêu cầu của bọn say rượu, không cần phải liếc mắt cười tình với khán giả, không nghĩ đến số tiền lương mỗi tháng. Đến một lúc nào đó, tự do tuôn trào ra từ lồng ngực, dễ dàng như hơi thở, âm thanh vỡ tung hoang dại như loài dã thú. Dã thú lâu nay vẫn nằm bệnh hoạn trong cũi sắt, mòn mỏi hết những sở trường. Bao lâu nay dã thú không có rừng xanh, tiếng suối, cây già, không có không khí trong sạch của trời cao, dã thú tầm thường như một loài da súc. Bây giờ cánh cửa lồng đã mở, dã thú có được tất cả những gì nó thèm khát. Tiếng hát nàng mới lạ như nàng mới nghe lần đầu tiên, và nàng cương quyết sẽ bám chặt lấy nó suốt đời.

Người nhạc sĩ cũng tập cho nàng biết yêu những bài hát, biết yêu những nốt lên cao vút như ước mơ, những nốt thấp trùng xuống như phận người. Anh nói: người ta không thể hát thật hay một bài hát nếu không yêu, nếu không cảm thấy những lời ca chính là những điều mình bao lâu nay ôm ấp chưa thành tiếng nói. Nàng đùa cợt.

– Như thế muốn hát hay hơn nữa, có cần phải yêu người làm ra bài hát không?

Người nhạc sĩ cười không nói gì, anh dừng đàn:

– Ngày mai anh sẽ về Sài Gòn. Dưới đó có một quán văn nghệ của sinh viên mở, họ mời anh về hát, ở đó nhiều người chờ anh hát cho họ nghe.

– Em cũng về Sài Gòn theo.

– Em phải suy nghĩ kỹ lại. Ở đây hát phòng trà em kiếm được vài chục ngàn mỗi tháng. Xuống dưới đó, hát cho đám đông nghe, chỉ uống nước đá lạnh mà đôi khi còn bị ăn cà chua nữa.

– Em suy nghĩ nhanh lắm. Quyết định rồi, em về. Em không cần tiền nữa, bây giờ chỉ cần có người hiểu mình, thành thật thích nghe mình, họ thèm nghe cũng như em thèm hát.

Tự dưng nàng nghĩ đến mây trời. Một đám mây cứ nằm mãi trên trời cao thật vô ích và buồn chán biết bao, sao không biến thành những cơn mưa ngọt ngào rơi tràn ngập trên những cánh đồng lúa khô cạn.

Nàng bật cười, cười với người nhạc sĩ: bây giờ em mới đúng là “con chim đến từ núi lạ, ngửa cổ hát chơi…”

***

Đêm đầu tiên trình diễn bằng tiếng hát đích thực của mình. Sân khấu là hai két bia xếp cạnh nhau đặt giữa sân cỏ, một ngọn đèn vàng treo trên nhánh cây trước mặt. Máy vi âm đang bỏ không, chờ đợi nàng. Chung quanh là đám người ồn ào vây kín, chuyển động không yên, cả một khu rừng làm bằng những mái tóc lòa xòa bên cạnh nhau, những khuôn mặt trẻ tuổi ngước lên háo hức chờ đợi. Tiếng la hét hối thúc nổi vang thêm lên và cáo một vài tiếng kêu bực dọc của một anh chàng nào đó ngồi gần bục gỗ. Nàng lo lắng nhìn người nhạc sĩ: đông quá, em sợ. Thoáng chốc người ca sĩ chuyên nghiệp trong nàng đã chết, nàng cảm thấy sợ hãi trước những đôi mắt sáng thẳng thắn đang chờ đợi nàng. Đám người trẻ tuổi này không tốn một đồng để nghe nhạc nhưng lại có quyền khen chê khắc nghiệt nhất, tiếng vỗ tay nồng nhiệt hay những lời ó dữ dội sẽ thốt lên từ những đôi môi hồng nông nổi.

Nàng đứng run rẩy như một cô nữ sinh lần đầu tiên ra trước ánh đèn sân khấu.

Những người sinh viên phụ trách quán cà phê tất tả chạy lui chạy tới lo đủ thứ công việc, sửa dây điện, thử lại máy phóng thanh, gắn đường dây máy thâu băng vào chiếc máy ghi âm để thâu tiếng hát của nàng. Người sinh viên chủ quán đưa mắt nhìn người nhạc sĩ, anh gật đầu và thử lại sợi dây đàn. Anh sinh viên ra trước máy vi âm, giới thiệu chương trình nhạc do người nhạc sĩ quen thuộc và một tiếng hát mới lạ là nàng trình diễn.

Nàng ra đứng trước cái bục gỗ rất bấp bênh vì hai két bia đặt không đều bằng nhau. Không có ánh đèn xanh đỏ chiếu vào người như ở phòng trà, nhưng cách xa nàng một khoảng ngắn có một ngọn đèn màu hồng mờ nhạt làm khuôn mặt nàng thật huyền ảo và lạ lùng trong đêm tối.

Nàng cố gắng không nhìn ai, gần như có cả một rừng đôi mắt sáng rực rỡ chiếu thẳng vào mặt nàng. Tiếng đàn của người nhạc sĩ vang lên bên tai, rồi dần dần chậm rãi chờ đợi, nàng bắt đầu cất tiếng hát.

Dần dần những hình người chung quanh nàng đều mờ nhạt, tan biến vào trong bóng đêm, nàng không còn nhìn thấy một ai. Tất cả cảnh tượng vây phủ quanh nàng như một sa mạc hoang vắng, một sa mạc không có cát trắng nhưng là dày đặt màu đen. Lát nữa đây, tràng pháo tay sẽ làm cơn mưa qúy giá rơi trên cát nóng bỏng, hay những lời xua đuổi sẽ là cơn bão dìm chết kẻ lữ hành. Nàng nhắm mắt lại, hay chỉ nhìn mơ hồ trên trời cao. Tiếng hát bay vào đêm tối như một tiếng gọi xa xăm nghe vừa thật hoang đường vừa thật gần gũi. Âm thanh phiền muộn lãng đãng trôi về một nơi không bến bờ, như một cái gì không bao giờ trọn vẹn. Những khúc lên cao chưa đến tột đỉnh bỗng đứt nghẹn rã rời, dấu vết đau đớn đầy tràn trong tiếng hát, những đoạn xuống thấp nặng buồn như một thảm kịch.

Trong một khoảng thời gian, đêm ngừng lại trên mái tóc nàng, tiếng hát ngây ngất thoát ra từ một đôi môi mê đắm, một đôi môi không có nụ cười, đã làm rung động kỳ diệu tâm hồn của những người trẻ tuổi. Khán giả đứng im như tượng đá, họ bàng hoàng đón nhận một thứ hạnh phúc lạ lùng chưa hề có bỗng dưng trong một đêm tầm thường này, họ đã may mắn bắt gặp.

Lời ca cuối vút dài như một lằn roi quật lên da người rồi ngưng bặt. Bài hát đã hết. Bóng tối rực sáng tiếng reo hò cuồng nhiệt, những tràng pháo tay vang dội và những đôi mắt trong thêm rực rỡ. Bây giờ sa mạc đã có cơn mưa mong ước, nàng cười tươi tắn như một cô bé thơ, sung sướng nhìn đám đông đang reo hò gọi tên nàng. Người nhạc sĩ nói nhỏ: em thành công rồi đó. Nàng đưa tay vịn vào vai người nhạc sĩ nghỉ mệt, những giọt mồ hôi sung sướng thấm ướt lưng áo nàng.

Bài hát thứ hai tiếp tục. Bây giờ nàng có thể nhìn những người ngồi trước mặt bằng ánh sáng thân yêu như một người bạn chân tình. Bây giờ đã có những người yêu thương tiếng hát của nàng và chờ đợi nghe nàng mãi. Những khuôn mặt xanh gầy của tuổi trẻ hiện rõ trước mặt nàng và nàng biết nàng đã hát lên những điều họ ôm ấp từ lâu trong tâm khảm, họ nghe nàng hát như nghe tiếng nói âm thầm trong trí não họ.

Nàng biết nàng đang nói giùm cho những thiếu nữ mơ mộng trong tay người tình, khi nàng hát bài “Tình ca của người mất trí” . Bài hát ấy là trái tim đau đớn của những người thiếu nữ xinh đẹp trẻ trung, đã sớm biết nỗi buồn của người góa phụ, khi người yêu của họ bất chợt ngã gục trên một chiến trường nào đó, ở Pleime, ở Đồng Xoài, ở Chiến Khu D hay ở ngoài Hà Nội. Nàng cũng có một người yêu tử trận trên miền núi, bây giờ nàng kêu khóc đau xót cho nàng và cho cả biết bao cô gái khác. Dưới ánh đèn, giọt lệ không bao giờ rơi trên mắt nàng, nhưng trong tâm hồn đã rơi đầy tiếng khóc hiu quạnh.

Tiếng vỗ tay lại vang đầy và nàng tiếp tục những bài khác. Khi bài hát “Mẹ ru con”, hình ảnh đứa con trai đang nghịch ngợm với khẩu súng nhựa hiện lên làm nàng sợ hãi. Bài hát là hai lần ru con của người mẹ trong thời đại này. Lần thứ nhất khi con thơ khóc chào đời, lần thứ hai trên xác người con đã hai mươi tuổi vừa bỏ mình vì bom đạn. Nàng thầm mong cho đứa con của nàng không bao giờ lớn thêm tuổi, nàng kinh sợ biết bao phải ru con một lần thứ hai thật đau đớn trong đời. Nàng nhìn thấy những đôi mắt buồn bã, làn da mặt khô khan tái xanh của những người ở tuổi hai mươi đang đứng trước mặt nàng. Những người ấy, một mai đây có thể sẽ chôn vùi thân xác trong một nấm mồ, đôi mắt xa xác vẫn còn mở lớn thương tiếc cuộc đời tươi đẹp.

Những bài hát tiếp theo mê hoặc lòng người như một thiên đàng ước hẹn. Trong những bản tình ca giọng hát của nàng thảnh thơi ngây ngất, đượm đầy nét tình tứ nũng nịu như một tình yêu trong vắt. Những người yêu nhau đêm nay đã được nếm ly rượu nồng nàn làm mạch máu căng hồng trong cơ thể.

Tiếng hát chói lọi tuôn trào theo toàn thân nàng rung động, những sợi tóc mai thấm ướt mồ hôi, đôi mắt mê man nhắm nghiền, đầu ngẩng lên cao ngất và những ngón chân bám chặt trên sàn gỗ. Người nhạc sĩ yên lặng đàn nhưng những ngón tay anh bấm đau nhói trên sợi dây đàn, và sợi dây bền bỉ rung động mãnh liệt tưởng chừng như sắp đứt đoạn.

Người nhạc sĩ cũng lắng nghe tiếng nói của mình hôm nay vang động lên thật yêu dấu từ một người khác. Anh nghĩ rằng phải là một người đàn bà như nàng mới có thể hòa hợp tuyệt diệu với những bài hát của anh. Những lời lẽ, nhạc điệu sầu thảm của anh không phải dành cho những cô trinh nữ bình yên trong gia đình. Những kẻ trong trắng chưa hề va chạm với đời hay những người nhạc máy trong phòng trà, chỉ là nàng, tiếng hát mơ mộng và đượm một chút giang hồ mệt mỏi, cũng như đời sống đã nếm mùi vị hoan lạc lẫn đau đớn của nàng, chỉ có nàng mới xứng đáng để hát những bài ca ấy.

Tiếng hát của nàng chan hòa với lời ca, là giấc mộng của một đời người thiếu thốn mơ đến ngày mai trong sáng. Đêm đã khuya, tiếng hát tàn. Nàng ngợp người trong nguồn suối hạnh phúc của những lời khen ngợi chân thành, cảm tình chân thật của những người bạn mới. Nàng biết rằng mình đã lìa bỏ thật rồi bộ mặt của một cô ca sĩ chỉ làm thứ rượu khai vị cho khách chơi sang trọng. Tiếng hát của nàng giờ đây đã tìm được những tình nhân, tiếng hát không bỏ sót một ai, tiếng hát có mãnh lực không cho ai lơ đãng, bắt mọi người dừng lại những cử động, bắt họ lắng nghe từng lời. Tiếng hát không ru ngủ ai mà trái lại, làm cho mọi người thức giấc. Không giúp cho ai lãng quên đời sống, trái lại giúp con người cảm nhận thấm thía những nỗi đau cũng như những niềm vui của đời sống.

Từ đó, những ca khúc của người nhạc sĩ soạn ra cho nàng hát, trở thành những ca khúc đời chân thực.

***

Đã lâu người thanh niên mặc áo xanh không gặp nàng và cũng không nghe nàng hát như ngày xưa. Bây giờ thỉnh thoảng sang nhà hàng xóm đế xem nhờ Tivi, anh bắt gặp khuôn mặt mờ nhạt của nàng trên khung ảnh nhỏ chao động.

Một hôm, tình cờ anh nghe tiếng hát của nàng vang lên trong chiếc ra-dô nhỏ chạy rè rè, tiếng hát đã nuôi sống tâm hồn anh một thuở nào bây giờ sao quá lạnh lùng, dửng dưng như một người chết. Trong căn phòng nhỏ của anh bỗng nhiên tràn ngập hình ảnh tươi đẹp và sống động của nàng ngày xưa. Anh tắt vội máy, cảm thấy sợ hãi và buồn bã lạ thường.

Từ lúc mùa xuân đem chiến tranh vào tận trung tâm thành phố, quán cà phê bị dẹp bỏ, bạn bè mỗi người một nơi. Trận xung đột cuối cùng nào đó giữa nàng và người chồng, hai người ly dị nhau, nàng giữ lấy cô bé gái với hai bàn tay trắng. Những nhu cầu, đòi hỏi của thành thị thúc giục sau lưng nàng, nàng không còn là con chim ngửa cổ hát chơi nữa, bây giờ nàng hát ra từng xấp giấy bạc. Phòng ghi âm của đài phát thanh, những hãng đĩa, ống kính vô tuyến truyền hình, những hộp đêm sang trọng. Bây giờ nàng đã trở thành một cô ca sĩ nổi danh và ăn khách nhất. Nhiều người khác vây quanh lấy nàng, những khách chơi giàu sang và một người nhân tình mới.

Người thanh niên hồi đó có làm một bài thơ dành tặng cho nàng, nhưng sẽ không bao giờ anh có dịp đọc cho nàng nghe nữa, bây giờ anh chỉ nhớ một đoạn ngắn.

"Chỉ ao ước nàng hóa thân vành khuyên bé bỏng

Mỗi đêm tóc xõa môi phai

Bàn chân trần mướt xanh trên cát

Hơi thở mẩu thuốc tàn

Mà giọt lệ không bao giờ rơi

Âm thanh như đêm

Xóa nhòa linh hồn cũ …”

Anh không dám trách nàng một điều gì. Anh cũng ao ước trở thành một thi sĩ nhưng không bao giờ anh trở thành thi sĩ được cả. Anh phải chạy gạo kiếm cơm, muôn ngàn lo âu của đời sống đè nặng người anh như một phiến đá làm anh nghẹt thở. Cuộc đời không phải là một bài thơ cho anh.

Cuộc đời cũng không là một bài hát cho nàng. Bây giờ, giấc mơ danh vọng ngày xưa đã đến với nàng. Nhưng nàng còn hát được những đời thật tuyệt vời hay không?

Hoàng Ngọc Tuấn





Ở một nơi ai cũng quen nhau

Vị trí đẹp nhất của quán là quầy thu tiền có cô thu ngân xin đẹp tên Nhuệ Giang mặc áo dài màu vàng ngồi trên ghế cao, trước mặt luôn có một bình hoa màu tím được thay hàng đêm, nhưng dù hoa gì cũng duy nhất một màu tím.

Cô thủ quỹ xinh đẹp thường mặc áo dài vàng có cái tên giống như thơ này đã khiến rất nhiều anh chàng sinh viên tới uống cà phê để “trồng cây si” người đẹp áo vàng trước bình hoa tím, trong số đó có nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (...). Chính Nhuệ Giang và bối cảnh dễ thương, không khí văn nghệ sinh động của quán Văn đã tạo cảm hứng cho Hoàng Ngọc Tuấn viết truyện ngắn nổi tiếng “Ở một nơi ai cũng quen nhau” mà Nhuệ Giang là nhân vật chính của câu chuyện tình lãng mạn này.   (trích: Chân dung quán cà phê sân cỏ Sài Gòn - Từ Kế Tường)


Petite du Condroz - Tranh Firmin Baes


Ở một nơi ai cũng quen nhau

Hoàng Ngọc Tuấn

Những sớm mai cả bọn ngủ lăn lóc trong căn phòng bỗng bị đánh thức dậy, không phải vì tiếng động náo nhiệt của xe cộ ngoài đường phố. Cô gái đứng gần cánh cửa, thân người ở ngoài, chỉ có khuôn mặt hiện ra với một cái răng khểnh, nụ cười và đôi mắt tinh ngịch. Cô gái kêu lên một vài tiếng trong vắt, gọi mọi người thức dậy rồi lắc đầu đứng nhìn những người nằm co quắp, đôi mắt người nào cũng chỉ mở một chút ra rồi nhắm lại. Cô gái tiếp tục kêu tên từng người, trong cơn chập chờn giữa ánh sáng ban ngày và bóng tối mê mệt của giấc ngủ, tiếng gọi đập vào tai mỗi người vang dội như tiếng chuông nhà thờ trong đêm Giáng-sinh. Cũng trong cơn chập chờn đó, có người nghe thấy một tiếng con gái nào gọi tên mình thật êm ái như tiếng đàn hay tiếng hát. Cái bọn người tuổi trẻ này, suốt ngày đã nghe âm nhạc từ sáng sớm cho đến khuya, và bây giờ tưởng là có một thằng siêng năng nào thức dậy sớm hơn cả, đang ngồi ôm đờn dạo một nhạc khúc gì đó. Nhưng rồi họ biết không phải như thế, họ dần dần nhận ra được khuôn mặt quen thuộc của cô gái và uể oải ngồi dậy từng người một, vì họ thấy nằm dài người ra trước mặt của một thiếu nữ thật bất lịch sự, dầu thiếu nữ ấy thân thiết với họ còn hơn một cô em gái. Một vài người đứng dậy dụi mắt, càu nhàu trong miệng, lưỡi đắng nghét và nhạt nhẽo cho đến khi thắp một hơi thuốc lá đầu tiên mới thấy dễ chịu. Một thằng bần tiện nào đó đá vào bụng những đứa đang còn ngủ say vì không muốn có người nào được ngủ nhiều hơn mình .

Có một gã con trai nằm ở góc phòng, hắn tung hết những đống quần áo mà suốt đêm hắn dùng làm chăn bao kín lấy người, rồi la lên một tiếng thật lớn như một võ sĩ ngay trước khi lâm trận, để lấy can đảm đứng dậy. Vừa mở mắt là miệng hắn hát ngay, không phải hát đàng hoàng những bản nhạc gì đó mà lảm nhảm hát bất cứ chỗ nào vừa đến trong đầu hắn, vì hắn có biệt tài biến thành nhạc điệu tất cả những lời nào tầm thường nhất, ví dụ như tin mừng đám cưới, cáo phó, quảng cáo xe hơi hay rao vặt bán nhà cửa trong nhật báo hắn cũng “phổ nhạc” được như thường. Cái gã ưa làm khổ lỗ tai người khác đó giờ đây nhăn mặt chào cô gái, hắn nói những lời thường lệ như những người bạn nói với nhau khi gặp gỡ vào buổi sáng. Hắn thầm mong ước sáng nay mái tóc đen của cô gái đó có gắn một bông hồng đỏ, sáng nào hắn cũng mong như thế nhưng chưa bao giờ hắn toại nguyện cả, cô gái không khi nào làm cái trò trang điểm rẻ tiền ấy, tóc nàng thường bó lại ở phía sau bằng một chiếc kẹp tầm thường, như thế cũng xinh xắn lắm rồi vì ai cũng khen nàng thật xinh, chỉ có hắn hơi buồn. Hắn lại thầm mong sáng nay cô gái ấy sẽ mặc một chiếc áo dài lụa màu xanh, nhưng nàng lại mặc áo màu đỏ làm hắn buồn chán chết được và nghĩ rằng ngày hôm nay thật là một ngày bất hạnh nhất của hắn .

Cô gái vừa đánh thức mọi người dậy như thường lệ, ngày nào cũng đến sớm để làm cái công việc của chiếc đồng hồ reo, reo một cách êm ái như màu hồng chói lọi của mặt trời, đôi khi có người nịnh rằng nàng giống như mặt trời, mỗi sáng chiếu những tia nắng thật đẹp và ấm áp làm con người tươi tỉnh. Mỗi khi nghe ai nói như thế, cô gái đều e thẹn hoặc làm bộ e thẹn cúi đầu cười một cách duyên dáng, nàng hay cười để khoe chiếc răng khểnh ngộ nghĩnh của nàng, dĩ nhiên nàng không nói cho ai biết điều đó.

Có điều ai cũng biết là tên của nàng giống như tên của một giòng sông nhỏ: Sông Nhuệ

Giọng nói của Nhuệ có vẻ trách móc:

– Con trai gì mà làm biếng quá trời, sáng nào cũng phải đợi người ta đến đánh thức mới thèm dậy. Thôi dậy hết đi mấy ông anh, sáng nay mình có cả khối công việc phải làm.

Một người vừa cầm lấy chiếc bàn chải đánh răng, mặc dù vừa ngủ dậy mới một phút, trong hắn có vẻ tươm tất nhất trong bọn, mái tóc đã chải nằm sát trên đầu. Hút xong điếu thuốc, hắn mới gật đầu đồng ý với Nhuệ:

– Nào dậy hết đi anh em, ngày hôm nay tụi mình có quá nhiều công việc. Trước tiên là đi kiếm một tô phở với một ly cà phê dằn bụng, xong rồi ra quán nào ở góc phố, ngồi nhìn thiên hạ đi qua đi lại, trưa lên nhà người quen ăn cơm, ăn xong chui vô một rạp xi-nê vừa xem vừa ngủ trưa, chiều lại ra ngồi ở quán nào đó nữa. Đêm có rảnh được phút nào đâu, lại ngồi uống cà phê, nói dóc, nghe hát cho đến khuya.

Mọi người đều có vẻ ngộp thở vì nghe quá nhiều công việc phải làm trong một ngày, và gần như ngày nào họ cũng bận rộn từ sáng đến khuya với những trò quen thuộc đó.

Buổi sáng đã ồn ào, ánh nắng và tiếng động của một thành phố thức giấc nổi lên như thường lệ. Thỉnh thoảng có người dậy sớm lắm, vào khoảng bốn năm giờ sáng, mới nhìn thật thực sự vẻ vắng lặng tuyệt đẹp của thành phố, khu vườn cỏ, hàng cây xanh, những ngọn đèn đường còn thắp đỏ. Thành phố sớm mai không bóng người có dáng dấp âm thầm và trong sạch như một gái trinh mười ba tuổi.

***

Nếu có một gã tuổi trẻ nào trạc chừng hai mươi, một ngày mặc thay đổi hai chiếc sơ mi ủi thẳng tắp tay gài manchette đàng hoàng, giày màu nâu bóng loáng đóng theo kiểu mới nhất, quần màu xám tro lịch sự. Nếu có một gã nào luôn luôn diện bảnh như một nhà quý tộc mặc dù đôi lúc không có một đồng. Nếu có một gã nào bụng đói kinh khủng vì cả ngày không có cơm ăn, vẫn cứ bỏ hai tay vào túi quần thảnh thơi dạo phố, hay ngồi nhà ôm đàn tây-ban-cầm khẽ hát một bài tình ca lãng mạn, dù bụng trống không âm thanh vẫn cất lên cao mạnh mẽ. Nếu có một gã nào như thế trên trái đất này, chắc chắn gã ấy chỉ có thể là Xuân.

Xuân là người kê khai dài dòng những công việc trong ngày cho cả bọn nghe, miệng hắn ngậm một điếu thuốc, tay ôm đàn dạo một khúc nhạc nhưng chưa dứt hắn đã bỏ đàn xuống lục hộc bàn lấy ra một tờ giấy trắng và cây viết, và bởi vì hắn là một thi sĩ nên khi có những vật trong tay như thế dĩ nhiên là hắn làm thơ, thơ tình yêu hay thơ chí hiếu có nhắc đến công ơn cha mẹ như hắn vẫn thường làm. Xuân học ban Triết ở Đại-học, nhưng không phải đó là khía cạnh đáng chú ý của hắn và ngay chính hắn cũng ít khi quan tâm đến nhà trường cả. Xuân chỉ hãnh diện và cố gắng trau dồi những tài vặt đặc biệt của mình, hắn thật là một người có nhiều thiên tài về mọi mặt: thi sĩ ca tụng tình yêu, cha mẹ và quê hương; cố vấn về thời trang; chuyên môn đàn đệm thật tài tình cho ca sĩ hát mặc dầu trong bụng không có lấy một chữ nhạc lý; kịch sĩ hài hước xuất sắc; người kể về những chuyện dâm dục dự tưởng rất kinh khủng; họa sĩ viết chữ đẹp. v..v…

Sáng nay Xuân đang làm một bài thơ lục bát, hắn cố gắng mới xua đuổi được hình ảnh của những tô phở, hủ tiếu, cà phê trong trí óc để tưởng tượng đến một cánh đồng lúa xanh ngày thanh bình. Nhưng rồi hắn vứt bút, đứng dậy mặc bộ quần áo bảnh bao vào, nói với lũ bạn một câu không dính dáng gì đến thi ca cả:

– Thằng nào còn tiền dẫn đi ăn sáng mau, đói quá rồi mà cứ chậm chạp như rùa bò.

Có một người nào đó gật đầu, chỉ tay vào túi quần ra dấu là có tiền làm Xuân hài lòng, hắn cảm thấy vui vẻ hơn đôi chút, và những khi vui vẻ là hắn cố nặn óc để nghĩ ra một câu chuyện khôi hài gì đó. Xuân quan sát một thằng mập nhất trong bọn, thằng này có bộ mặt mà các bà thầy bói xem tướng rất khoái, nghĩa mặt no tròn, mắt to, mũi lớn, trong tương lai có vẻ rực rỡ lắm, nhưng chiều dài của thân hình hắn hơi ngắn. Xuân mở to mắt kinh ngạc kêu lên:

– Ê Thạch, sáng nay trên đầu mày có mọc những cái gì dính chùm với nhau kinh khủng vậy?

Ảnh hưởng của câu chuyện anh chàng Samba hóa thân thành con bọ hung làm Thạch nghĩ rằng mình dám bị cái điều bất hạnh đó lắm, hắn kinh hoảng chụp lấy chiếc gương soi mặt, lắp bắp kêu lên:

– Đâu? Có gì trên đầu tao đâu?

Xuân đáp bình thản:

– Có tóc chứ gì nữa. Mày không thấy sáng nay tóc mày tự dưng dính sát nhau sao.

Thạch định ném chiếc gương soi mặt vào bộ mặt khoái trá của Xuân nhưng hắn chợt dừng lại, kịp nghĩ là cả bọn chỉ còn một tấm gương soi này thôi, nếu làm vỡ là mỗi sáng phải soi gương chãi đầu bằng cách nhìn vào chiếc bật lửa Zippo nhỏ xíu, hay là phải tìm một đôi mắt nào mở to và trong sáng nhất để soi mặt mình trong đó, thông thường phải nhờ đến đôi mắt của cô em gái Sông Nhuệ, Thạch đành cười theo trong những tiếng cười của lũ bạn, hắn nói:

– Thằng Xuân mới mở mắt là đã biết làm hề rồi. Mẹ nó kể với tao nó mới lọt lòng mẹ đã biết thọt lét mấy cô y tá.

Thạch có vẻ tạm bằng lòng với lời nói của mình, hắn xếp những đống giấy tờ vào một chiếc cặp da đen, rồi hắn lấy sổ tay có ghi chi chít những số điện thoại và giờ hẹn gì đó với dáng nghiêm trọng. Hắn nói với lũ bạn là ăn điểm tâm xong hắn có rất nhiều công việc phải làm, nào là lên trường để bàn luận với bọn sinh viên về một vụ tranh cử gay go sắp đến, dự một cuộc hội thảo về thanh niên, tìm gặp và “nói chuyện” với mấy ông nào đó để vận động tổ-chức thành lập đoàn thể này nọ hay xuất bản một tờ báo gì đó. Thạch học cùng lớp với Xuân và hai chơi thân với nhau từ nhỏ nhưng tính tình Thạch trái ngược với Xuân, nghĩa là Thạch sống khá ngăn nắp, siêng năng, làm đủ mọi công chuyện, hăng hái hoạt động và bây giờ có chân ở trong hầu hết các hội đoàn sinh viên, thanh niên.

Thạch ôm chiếc cặp da trong tay, hắn hăng hái nói với lũ bạn:

– Năm nay tao nhất định đắc cử Chủ-tịch sinh viên ở trường, đã thảo một kế hoạch tranh cử vĩ đại và khoa học lắm. Rồi từ đó nhảy ra nắm ghế Chủ-tịch sinh viên toàn quốc luôn, lúc ấy tha hồ có phương tiện làm báo, in sách, tổ chức hội thảo, văn nghệ đủ thứ. Học xong ở Đại-học là mình trở thành quen thuộc với người và kinh nghiệm dồi dào rồi lần hồi có thể làm Dân-biểu, Bộ-trưởng và cuối cùng là làm Tổng-thống. Tụi mày thấy tao tính trước tương lai như thế được không ?

Một thằng nào đó trong bọn vừa ngáp vừa trả lời:

– Thạch à, mày là cái thằng chỉ trong năm phút đã nói hết những điều mà có khi mày phải bỏ hai ba cuộc đời của mày mới làm hết được. Như vậy không phải là chính trị nữa, mà là làm thơ, làm thơ là một việc đáng khuyến khích lắm. Nhưng mày lại đâu có muốn làm thi sĩ phải không?

Nhưng Thạch không nghe câu trả lời đó, hắn đang mải mê với những dự định, kế hoạch tốt đẹp trong đầu óc.

Khi Sông Nhuệ bước ra khỏi phòng, cả bọn khoảng năm sáu người lần lượt đi theo nàng. Họ đứng lại một lát trong khu vườn, nhìn cả một đám cỏ dại xanh ngắt bao kín quanh bàn chân của họ như một dòng suối chôn kín những viên sỏi trắng. Trong khu vườn đầy cỏ dại ấy, một quán cà phê lợp tôn và một dãy nhà thấp lụp xụp làm bằng những vật liệu thô sơ như gỗ rơm, cát-tông nằm gần bên nhau. Căn phòng mà bọn người vừa mới rời khỏi nằm trong dãy nhà đó.

Khu vườn là một mô đất cao, nên đứng ở đây họ có thể nhìn thấy hoàn toàn một đoạn đường phố trước mặt, những mái nhà, xe cộ, hình người có những màu đỏ, nâu, hay xám di động như một khúc phim quen thuộc. Cả bọn không ai bảo ai nhưng tất cả đều tự động bước đi hướng về một quán cà phê quen thuộc năm trên vĩa hè của một con đường ngắn thường thường có nhiều bụi xe, nhưng thỉnh thoảng, sớm mai và buổi trưa, yên tỉnh cho người ta nhìn thấy con đường hơi đổ dốc về phía trung tâm thành phố.

Khi ra ngoài đường, ngoại trừ Sông Nhuệ vì nàng là cô gái duy nhất trong bọn, còn tất cả mọi người đều đùa cợt hay ngắm nghía kỹ càng những người đàn bà xấu hay đẹp đi qua trước mặt họ.

***

Căn gác của Lệ-Mai thật nhỏ, vừa đủ để đặt chiếc giường ngủ, tủ gương và còn lại một khoảng trống, nên việc bếp núc phải làm ở nhà dưới. Khi nàng ôm tô canh bốc khói thật lớn và cẩn thận đi từng bước một trên bục thang gỗ, nàng suýt chút nữa đụng phải một thằng đang múa tay múa chân ở trên gác, cái thằng suýt chút nữa làm cho cả bọn hụt thưởng thức tô canh chua cá lóc ngon lành đó là Thạch, hắn đang biểu diễn cho bạn bè xem một kiểu đọc diễn văn theo điệu của Hitler. Lệ Mai ngồi gần nồi cơm, xới cơm cho từng người, trước mặt nàng là những món canh thật hấp dẫn đối với một lũ háu ăn ngồi chờ cơm nãy giờ: canh chua rau muống luộc, mắm cà, cá lóc nướng, bữa cơm thật dễ chịu, vì cả bọn không khách sáo gì cả, cười nói ồn ào và thi nhau ăn thả cửa. Mà muốn có những bữa ăn như thế này cũng không khó khăn gì, chỉ cần cử một thằng bạo miệng nhất thú thật: “Mai à, bọn này hết tiền ăn cơm rồi, trưa lên nhà Mai ăn cơm nghe”. Thế là xong, Lệ-Mai chỉ cần chịu khó nấu nướng thêm vài món và mời cả bọn đến, bà ngoại của nàng ở tầng dưới cũng không than phiền gì về những vụ họp mặt đông đảo ở tầng gác trên của nàng cả.

Xuân tự dưng đề nghị nàng hát một bài, hắn nói có đem đàn theo và sẽ đàn đệm cho nàng, nhưng Lệ-Mai lắc đầu cười:

– Thôi mấy bạn khôn vừa vừa thôi chứ. Định bắt tôi hát để làm rượu khai vị cho ngon miệng sao? Giờ này là giờ cơm, tôi cũng đói lắm rồi, để đến tối tụi mình còn cả đêm tha hồ hát.

Cái thằng chuyên môn phổ nhạc một cách bừa bải bây giờ mới lên tiếng, vì từ lúc đầu đến giờ hắn đang bận rộn với dĩa mắm cà, món ăn mà hắn khoái nhất. Đại khái hắn nói đồng ý với Lệ-Mai là bây giờ lo ăn cho no đi đã, cái gì cũng gác qua một bên, hắn lại còn nói dong dài thêm là hắn thích nhìn Lệ-Mai hát dưới ánh đèn sân khấu lắm. Nhưng thực tính hắn khoái nàng như bây giờ hơn, nghĩa là mặc một chiếc quần đen với chiếc áo bà ba vải thô màu trắng thật giản dị, trên má lấm tấm những giọt mồ hôi vì lửa bếp dễ thương như một người vợ hiền. Càng lúc càng hứng, hắn nói thêm rằng hắn rất khoái loại đàn bà tầm thường, suốt ngày đi chợ, nấu ăn và quanh quẩn hoài trong gia đình. Dĩ nhiên quan niệm của hắn thật cổ hủ ít ai đồng ý được, nhưng dầu cho có ai cãi lại hắn cũng không thèm nghe gì, nói xong là hắn quay trở lại nhanh chóng với bữa cơm. Hắn ăn cho mau xong để được hút ngon lành một điếu thuốc, vì hắn khoái hút một thứ thuốc lá hiệu Lạc-đà nên bạn bè đặt tên cho hắn là Lạc-đà, cái tên cũng không đến nỗi tệ lắm.

Sau bữa cơm, họ chia tay và hẹn đến tối sẽ gặp lại nhau như thường lệ tại quán cà-phê. Lệ-Mai dặn một người nào đó trong bọn nhớ đem xe đến chở nàng đi, vì có lẽ tối nay nàng không còn một đồng để đi xe tắc-xi, và nàng vẩy tay chào tất cả, thỉnh thoảng có một thằng sung sướng nào đó được nàng đưa bàn tay đùa nghịch xoa lên mái tóc. Bực thang gỗ rung rinh dưới những bước chân nặng trĩu của một bọn người mới no nê. Cuối cùng không còn ai đi trên bục thang nữa, chỉ một mình Lệ-Mai đứng trên cao, môi nàng cũng như môi bọn họ, có gắn một điếu thuốc lá. Một màn khói màu xanh che phủ khuôn mặt của nàng. Thằng Lạc-đà quay đầu trở lên với hy vọng bắt gặp một nụ cười của nàng, nhưng hắn không thấy gì cả.

***

Đối với bọn người sống trong khu vườn cỏ dại, đêm là thời khắc của một thứ hạnh phúc dễ chịu, đêm sống động và tràn đầy. Không một phút trống rỗng, không một phút thừa thải. Từ khi trời bắt đầu tối cho đến khoảng mười hai giờ khuya, đêm được nối tiếp với nhau bằng những tiếng người nồng nàn quen thuộc giọng nói và giọng cười ồn ào của bạn bè hay của chính mình. Những câu chuyện lý thú hay vô duyên nhất thi nhau phát ra không ngừng nghỉ như một đĩa hát khổng lồ. Thỉnh thoảng có vài tiếng đờn chậm rãi, tiếng hát khe khẽ, và đêm nào cũng thế, cứ đến khuya, khi những người khách lạ trong quán đã bỏ về, chỉ còn lại trong đêm tối và ánh sáng nhỏ của ngọn đèn mờ một ít người quen biết nhau thân thiết. Lệ-Mai sẽ hát cho họ nghe một vài bài hát.

Bây giờ trời chưa khuya, quán vẫn còn một ít khách, bàn ghế nhỏ đặt vương vãi trên mặt đất và đám cỏ dại. Trên đầu họ không có một vật gì ngăn cản đôi mắt nhìn, bầu trời đêm trọn vẹn trên cao trông thật xa vắng, có những điểm sáng từ những ngôi sao thắp mờ như ngọn đèn.

Sông Nhuệ đang ngồi ở quầy quán, hai tay nàng nhanh nhẹn bận rộn với những tờ giấy bạc từ tay khách hàng, nhưng nàng vẫn không quên cười thật tươi đối với tất cả mọi người, kể cả những anh chàng vô duyên nhất. Cho nên đêm nào cũng có vài anh tưởng mình đẹp trai hay duyên dáng lắm, đứng nói chuyện với nàng dai dẳng. Nhuệ quay sang một gã thanh niên đứng bên cạnh, gã đang bận rộn với một đống ly tách nghiêng ngả bừa bộn trong quầy.

– Giang pha cho mấy ông này ba ly ca phê đi, họ đứng đợi nãy giờ lâu lắm rồi đó.

Giọng càu nhàu làm điếu thuốc lá rơi khỏi miệng hắn.

– Ráng đợi thêm chút nữa. Từ chiều đến giờ làm luôn tay không thấy sao? Đi xách nước, pha chế đủ thứ, không kịp nghỉ vài phút để ăn tối, khuya lại còn phải rửa ly tách. Sao Nhuệ không kêu bọn thằng Thạch, thằng Tự vào giúp một tay? Tụi hắn đang ngồi nói dóc phè phỡn ngoài kia kìa.

– Đêm này là phiên của Giang mà, có phải phiên của mấy ông đó đâu?

Giang cau mày tỏ ra bực theo thói quen, rồi hắn cúi xuống tiếp tục pha ba ly cà phê. Giang là em ruột của Xuân nhưng người lạ ít ai biết được điều đó vì hắn và Xuân không có vẻ gì giống nhau cả. Giang tính tình xuề xòa, ăn to nói lớn, hắn có thân hình với những bắp thịt của một lực sĩ to gấp đôi ông anh, hắn chỉ giống Xuân ở chỗ thỉnh thoảng cũng biết đàn hát với cái giọng rất tốt của hắn. Ngoài những đặc tính đó ra, hắn còn có tài pha cà phê thật khéo nên được giữ chức đầu bếp cho quán.

Khi Giang vừa đưa những ly cà phê cho khách, lại thêm một thằng có cái tên kỳ cục là Lạc-đà chạy vào:

– Làm cho tao một tách cà phê đen. Tao uống chịu, mai sáng trả tiền liền.

Giang cương quyết lắc đầu:

– Có tiền cũng không bán, bây giờ tao mệt lắm rồi, đang sửa soạn thu dọn rồi đóng cửa quán đây.

– Vậy thôi. Nhưng Lệ-Mai ngoài kia nói với mày là cô nàng muốn uống một ly cà phê đá, mày có chịu pha cho cô ấy không ?

Giang tưởng Lạc-đà đánh lừa nhưng khi hắn liếc mắt nhìn ra ngoài sân, hắn bắt gặp khuôn mặt của Lệ-Mai quay vào nhìn hắn, nàng cười và đưa một ngón tay ra dấu. Dĩ nhiên Giang không từ chối với nàng được, cả bọn ở đây ai cũng mến nàng hết. Giang lại mò mẫm trong quầy để tìm một cái ly, hắn nói:

– Được rồi mày ra nói với Mai lát nữa tao sẽ mang ra cho.

Lạc-đà mỉm cười, chọc ghẹo Giang một câu gì đó làm hắn đỏ mặt. Lạc-đà chợt thấy Nhuệ đang nhìn mình, hắn móc túi lấy chiếc chìa khóa xe gắn máy cà tàng của hắn đưa cho Nhuệ, và nói:

– Bọn này tối nay chắc ở lại hết cả đây nhậu say tới sáng. Nhuệ nói thằng Lai lấy xe đưa về nhà trước đi, thằng đó chỉ chờ có thế.

***

Giang đưa ly cà phê cho Lệ-Mai rồi hắn cũng ngồi xuống cùng với lũ bạn đang ngồi sát cạnh nhau, hắn lấy ở bao thuốc lá của Lệ-Mai một điếu và châm lửa. Thứ thuốc nhẹ dành cho đàn bà tỏa ra một luồng khói thơm cay dìu dịu. Lệ-Mai nhấp một tí cà phê, nàng dụi mẫu tàn thuốc trên đám cỏ, lắc đầu cho mái tóc của nàng tung qua tung lại ngộ nghĩnh như cánh bướm, rồi mỉm cười:

– Anh Trịnh đàn cho em hát bài Hạ Trắng này đi, kẻo cái ông mặt mày nhăn nhó ngồi nì nài từ chiều đến giờ kìa. Em đã bảo là em không thuộc bài này.

Lạc-đà là người vừa bị gọi là có bộ mặt nhăn nhó, hắn vội vàng nhe răng cười để chứng tỏ là nếu muốn hắn cũng có bộ mặt tươi tỉnh như người khác được. Trịnh cầm lấy cây đàn Xuân vừa đưa, những ngón tay ốm dài của anh bấm nhịp nhàng vào những sợi dây đàn, anh có hai ngón tay đặc biệt màu vàng vì bám đầy khói thuốc lá, Lệ-Mai sắp sửa hát một bài của anh, bài này anh làm đã lâu, vào một tuổi hai mươi mơ mộng gì đó, và đến bây giờ đã gần mười năm rồi nên anh cũng không còn nhớ rõ lời.

Nếu có một cô con gái nào chăm chú nhìn Trịnh khi anh hát, cô nàng chỉ thấy lờ mờ trong đêm tối, cái trán cao và cặp kính trắng to tướng che kín hết khuôn mặt của anh, hàm râu lởm chởm ít khi cạo bao quanh trên mép và dưới cằm, đôi mắt nhắm nghiền, thân hình ốm trong chiếc áo rộng thùng thìng, trông Trịnh giống như một gã lãng tử người Mễ-Tây-Cơ. Mà anh có vẻ là một gã lãng tử thật sự, anh rời gia đình đi giang hồ gần mười năm rồi, đã gần mười năm toàn là những ngày rong chơi, những đêm một mình thức trắng để viết nhạc hay những đêm ồn ào như thế này, đông đảo một bọn người trẻ tuổi nghe anh hát, một đôi khi nghe Lệ-Mai nàng bây giờ là người đàn bà hát những ca khúc của mình nhiều nhất.

Khi tất cả đều im lặng. Chỉ còn hơi thở của người, hơi khói thuốc lá và hình như có một chút hơi lạnh của sương đêm, tiếng nhạc nổ bùng từ những ngón tay bấu víu vào cây đàn, âm thanh hoang đường lạ lùng cũng vừa bật ra từ một đôi môi đàn bà. Những đoạn cất lên cao, Lệ-Mai đứng dậy, gói chân trần trụi thoát ra khỏi đôi giày chật, tay vịn vào vai của một người bên cạnh, tiếng hát cất vút cao nhưng vẫn nghèn ngẹn một giọng trầm buồn bã. Người ta không thể vừa nhậu nhẹt vừa nghe nàng hát. Đó là một tiếng hát làm thân thể sựng bất động, và tâm hồn mở ra mọi cánh cửa khép kín nhất để ôm ấp những lời hát như ôm ấp tình nhân. Khi những lời đó kêu gọi điều gì, một giọt nước tưởng chừng an phận trong đời sông hồ bỗng nhiên ao ước bay về trời lắm mây trở lại.

Đêm đã khuya, tất cả vào trong căn phòng quen thuộc tối tăm vì không có điện, khi ngọn lửa từ cây nến thắp bùng lên, ai cũng có thể nhìn thấy trên nền nhà chiếu mền vứt lăn lóc, một chiếc bàn đặt bề bộn mọi thứ ở trên, khắp căn phòng đầy dẫy sách báo và tàn thuốc lá. Nếu có thêm một chút ánh sáng, mọi người có thể nhìn thấy vách tường dơ bẩn đầy ắp những chữ viết nguệch ngoạc, những lời nhắn tin hằng ngày xen lẫn với những câu danh ngôn của các nhà tư tưởng: Cô đơn tuyệt đối ta sẽ nắm được chân-lý ở đời: Simone Weil. Yêu cầu các bạn đừng mượn bất cứ cuốn sách nào của tôi, bạn nào muốn đọc sách xin chịu khó ra tiệm mà mua: Lạc đà. Hãy là ông thầy vì thầy là nhà điêu khắc của chính mình… Bổn phận của con người là trở nên chính mình: Nietzche. Xin bạn nào mượn đôi tất màu rượu chát của tôi làm ơn trả lại cho tôi gấp, cám ơn nhiều: Xuân. Khi tôi nói rằng tôi yêu em, có nghĩa là em bất tử: G. Marcel ..v..v…

Bọn con trai nằm ngủ trên chiếu, chiếc ghế bố duy nhất trong căn phòng được dành cho Lệ-Mai, nàng mặc một bộ áo pyjama đàn ông rộng thùng thình. Và khi cái gáy của nàng đã đặt trên gối, mái tóc xổ tung, khuôn mặt không son phấn, đôi môi và đôi mắt bình yên khép lại. Nàng nằm đó, nhỏ nhoi và bình thường như một thiếu nữ còn êm ấm với mẹ cha trong gia đình, nhưng trên vầng trán của nàng đã hằn rõ một vài nếp nhăn phiền muộn, dấu hiệu của những người cô độc bước vào cuộc đời. Khi giấc ngủ đối với nàng, con người đã nhìn thấy tiếng cười thơ dại và những nếp nhăn trên vầng trán của nàng cùng một lúc chan hòa với nhau thành một hình ảnh đẹp. Có người đã nghĩ rằng nàng như một nữ thánh.

Ban ngày Lệ-Mai nghịch ngợm như một con chim rừng xanh, nhưng đêm, đôi khi nàng có những giọt lệ âm thầm.

***

Trong khu vườn cỏ hoang ấy, bọn người họ đã sống với nhau trong một khoảng thời gian dài, suốt trong biết bao mùa mưa và mùa nắng hạ. Họ còn trẻ, mỗi người có một quá khứ ngắn ngủi riêng và đã quen mau đi rồi. Họ đến đây từ những thành phố xa xôi khác nhau, từ những mái nhà tiện nghi ấm cúng của tuổi thơ mà bây giờ thỉnh thoảng họ về một lần, rồi thế nào cũng quay trở lại khu vườn cỏ. Bởi vì ở đây đời sống là âm nhạc, tiếng cười, vui chơi, tình cảm thân mật của bạn bè, tình thương không tên gọi đối với một vài cô em nhỏ. Tất cả dần dần thấm vào mạch máu bọn ngườì trẻ tuổi này như một một liều nha phiến quyến rũ. Khu vườn ở ngay trong thành phố nhưng quay mặt với thành phố, bọn người hầu như hoàn toàn xa lạ với cái thành phố quay cuồng của công việc, bận rộn, tiền bạc, áp phe và không khí sôi nóng của tình hình chính trị. Học muốn suốt ngày được thắp những hơi thuốc ngon, được chuyện trò như pháo nổ, được cười đùa sặc sụa như trẻ thơ, được tiêu pha vui chơi tơi bời và thỉnh thoảng được đói để thèm thuồng những bữa cơm tầm thường nhất. Họ muốn thời cuộc như một giấc mơ xấu không thực, chỉ có trên những trang nhật báo như một loại tiểu thuyết dài đăng từng kỳ, xem xong rồi vứt bỏ không chút bận. Nhưng thời cuộc dần dần xòe những móng tay dài quái ác chụp bắt những người từ chối nó. Đời sống không làm ai toại nguyện cả, đời sống dầu đã tống cổ mỗi người ra khỏi chiếc vỏ hồn nhiên đẹp đẽ của mình. Đời sống xô đẩy họ vào những con đường mà trước đây họ không bao giờ mơ mộng đến.

Những Xuân, Thạch, Giang, Nhuệ, Trịnh, Mai và biết bao người nữa sẽ không thoát khỏi bàn tay xô đẩy tàn bạo ấy .

***

Nhưng có một người, bây giờ sống chán kinh khủng nên thường hay nhớ tên quãng đời ngắn và đẹp trong khu vườn cỏ. Có một người, trong những khi thoát ra khỏi sự ào ạt của cuộc sống, muốn chụp lại nguyên vẹn hay một phần nào quá khứ của hắn, những kỷ niệm tươi đẹp hay buồn bã. Một người mà trí nhớ khốn khổ của hắn rất lờ mờ đến nỗi mỗi khi muốn nhớ lại điều gì, hắn chỉ nhớ được những chi tiết vô vị nhất, còn bao nhiêu chuyện quan trọng hắn điều quên hết cả. Thế mà lúc nào hắn cũng ao ước được tìm lại hình ảnh của bọn người thân thiết với hắn, của chính hắn trong những ngày ở khu vườn cỏ dại. Người ấy là tôi .

Tôi là một người mà hồi đó nếu có ai muốn tìm gặp, xin cứ đi vào khu vườn cỏ, đến quán cà phê vào lúc ban đêm và hỏi bất cứ một người nào ở đó:

– Anh có thấy một thằng người Huế, hơi gầy, tóc dài không chải, áo quần bê bối, miệng hay hát những câu kỳ cục, thường hút một thứ thuốc lá hiệu Lạc đà, hay bó gối ngồi một mình với dáng cô độc buồn bã. Nhưng thật ra hắn không có gì buồn bã đâu, đôi khi hắn sung sướng kinh khủng mà vẫn cứ mang bộ mặt thảm hại ấy như thường. Anh có biết thằng đó không? chắc chắn là người nào cũng sẽ trả lời bằng một cái gật đầu, vì họ đều quen biết hắn, cũng như ở đây mọi người đều quen biết nhau .

Hoàng Ngọc Tuấn



Ở một nơi ai cũng quen nhau

 

Ở một nơi ai cũng quen nhau

T.Vấn


Phố cũ – Tranh: Thanh Châu

Từ đau đớn và truân chuyên, tôi gởi đến cho mọi người hạnh phúc vững bền của chữ nghĩa. (Hoàng Ngọc Tuấn)

1.

Năm 20 tuổi, tôi già nua theo năm tháng với nỗi ám ảnh của thứ triết lý thời thượng về một đời sống buồn bã. Mỗi ngày qua đi, tôi ngao ngán nhìn cuộc chiến khốc liệt trước mặt như con quái vật đang nhe răng gầm gừ sẵn sàng nuốt chửng lấy mình. Nỗi sợ hãi khiến tôi thu mình lại trong vỏ bọc một đời sống lơ lửng trên mây. Dầu vậy, tôi vẫn khao khát tình yêu (trong mơ) qua những trang văn Hoàng Ngọc Tuấn…

Năm 40 tuổi, tôi mới bắt đầu nhận ra rằng đời sống là có thật sau bao bất trắc của chiến tranh, của tù đày. Quái vật chiến tranh đã biến mất, nhưng để tồn tại trong một xã hội hoà bình mà đằng đằng sát khí ấy thật không dễ dàng gì. Cái buồn bã lúc này là sự buồn bã có thật, đến từ một đời sống có thật, chứ không phải từ những trang triết lý thời thượng ngày nào. Dẫu sao, tôi đã là kẻ sống sót, sau một cuộc chiến, sau một cuộc đổi đời. Và hơn lúc nào hết, tôi khao khát một tình yêu (có thực, chứ không phải hình như) để bắt đầu lại đời mình.

Năm 60 tuổi, tôi có cảm tưởng mình trẻ lại với tình yêu cuộc sống cứ ngày một mãnh liệt hơn. Và biết trân trọng những tình cờ ngọt ngào đến từ đời sống. Biết trân trọng những gặp gỡ, dẫu cho đó chỉ là những gặp gỡ trong một thế giới đầy ắp hoài niệm. Đời sống, đến bây giờ tôi mới hiểu được, đó là một nơi mà, ở đó, ai cũng quen nhau. Và yêu nhau. Sự hiểu biết muộn màng ấy, đến với tôi cũng thật tình cờ. Tình cờ như sự có mặt của chính mình trong đời sống này. Tình cờ như câu chuyện ngọt ngào đến với tôi trong những ngày cuối cùng của tháng Mười Một êm ái dịu dàng một cảm giác biết ơn vì tôi vẫn còn đủ đam mê nâng niu những con chữ ngập tràn hạnh phúc, thứ hạnh phúc thường làm chảy nước mắt, thứ hạnh phúc mà nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn gọi là hạnh phúc vững bền đến từ những đau đớn và truân chuyên.

Cũng từ nhà văn quá cố Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả Ở một nơi ai cũng quen nhau, mà tôi tình cờ biết đến một câu chuyện, được nhà thơ Hoàng Xuân Sơn – một người bạn thân của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn – gọi là như chuyện thần tiên.

2.


Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn (hình chụp hai tháng trước khi ông qua đời)

Tháng 7 năm 2005, tôi về thăm quê nhà. Một buổi sáng lang thang trên những đường phố bụi bặm một thời quen thuộc của Sài Gòn, tôi đọc được tin trên báo về cái chết của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn ở tuổi 60. Bâng khuâng với cuộc tái ngộ thành phố mà ở đó, tôi đã lớn lên, đã biết yêu lần đầu, đã nhiều lần bỏ đi và nhiều lần trở về, cùng với cái tên nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, tác giả của nhiều truyện ngắn tuyệt vời viết về tình yêu, vốn gắn liền với tuổi trẻ Sài Gòn chúng tôi những ngày tháng ấy, tôi đã ghi lại cảm xúc của mình trong bài viết Sài Gòn và Hoàng Ngọc Tuấn, phổ biến ở một số tạp chí và mạng điện tử. Một ngày cuối tháng Mười Một năm 2009, từ hộp thư độc giả trên trang mạng điện tử của tôi (T-Van.Net), tôi nhận được thư của một người, nhân đọc bài viết về nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, tự giới thiệu cũng là một độc giả của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn từ mấy chục năm nay. Chị cho biết, sau khi rời khỏi đất nước vào tháng 4 năm 1975, chị đã về Vịêt Nam vài lần, và cũng để ý dò tìm tông tích của nhà văn, mà một tình cờ của đời sống đã khiến chị đọc được những tác phẩm của ông từ ngày còn rất trẻ. Mãi cho đến chuyến về quê năm 2006, sau khi nhà văn đã qua đời gần một năm, chị mới liên lạc được với gia đình nhà văn. Cùng với phu quân, chị đã đến nhà thắp cho ông một nén hương tưởng nhớ. Sau đó, được sự cho phép của thân nhân nhà văn, quay lại Mỹ chị đã tái bản tác phẩm mà chị yêu thích nhất trong những tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn: Ở một nơi ai cũng quen nhau (1). Qua ấn bản lần này, tôi biết thêm nhiều điều thú vị về mối quan hệ độc giả – tác giả, ở đây là giữa chị và nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn.

“Tôi đọc Ở một nơi ai cũng quen nhau một lần là thương liền… Sau cuốn Ở một nơi ai cũng quen nhau, tôi vừa tiếp tục đọc ông, vừa đọc những tác giả khác. Có những tác giả làm tôi nể phục và kính trọng. Đọc Hoàng Ngọc Tuấn tôi vừa nể trọng, vừa kính phục, vừa thương” (2). Đó là tâm sự của chị trong lời giới thiệu ấn bản Ở một nơi ai cũng quen nhau in ở hải ngoại.

Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, trong bài viết mở đầu tập truyện, đã giới thiệu khá chi tiết về mối quan hệ của chị và nhà văn, mà ông cho là “dù bình thường hay khác thường, vẫn nghe ra Như Chuyện Thần Tiên”, như sau:

Hoà Bình là một độc giả trung thành của Hoàng Ngọc Tuấn. Chị đọc không sót một truyện nào của Tuấn. Đọc đi đọc lại nhiều lần, thuộc nằm lòng, mê và thương cảm tất cả nhân vật Hoàng Ngọc Tuấn đã dựng nên.

Chưa hết, Hoà Bình vẫn âm thầm theo dõi những bước chân của nhà văn mình ngưỡng mộ nếu không muốn nói là thần tượng trên mọi nẻo đường đời. Khi hay tin Hoàng Ngọc Tuấn đi trình diện nhập ngũ ở Trung Tâm 3, chị đã không ngần ngại gói ghém quà cáp, bươn bả tìm thăm, nhưng không được gặp mặt vì không phải là thân nhân trực tiếp! Nhưng rồi trời không phụ người có lòng: Hoà Bình đã được hội diện với nhà văn mình thương mến trong một dịp tiếp tân của Thủy Quân Lục Chiến tại Sài Gòn, khi Hoàng Ngọc Tuấn còn khoác áo binh chủng này. Dù chỉ dăm ba phút hàn huyên, mối hảo cảm giữa người viết và bạn đọc càng đậm đà thêm. Đôi cánh tâm hồn đã cùng nhau bay lượn theo trời xanh cao!” (3).

Đó là lần gặp gỡ duy nhất giữa nhà văn và độc giả. Nhưng dư âm của nó kéo dài mãi đến hôm nay, kể cả khi nhà văn đã ra khỏi cuộc đời buồn nhiều hơn vui, thiếu thốn nhiều hơn no đủ, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc. Chị lo lắng cho nhà văn:

Ra khỏi Sài Gòn giữa tháng Tư, 1975, tôi có băn khoăn về ông. Đời sống bây giờ làm ông đau khổ nhiều hay ít? Làm thế nào để ông tiếp tục nuôi dưỡng tâm hồn thơ dại, lãng mạn kia? Làm sao ông giữ được tấm lòng chan chứa yêu thương sau những biến cố dồn dập thô bạo? Làm sao ông tiếp tục viết?” (4).

Năm 1972, bị bủa vây bởi những thiếu thốn không đáng thiếu thốn, Hoàng Ngọc Tuấn viết (như một cách tự trào): “Tôi cần một năm rảnh rang và đủ ăn cho một tác phẩm lớn, trị giá khoảng 360 ngàn đồng. Bây giờ ai cho tôi một năm như thế, tôi sẽ trả lại tất cả mọi người một kiệt tác.”. Dù biết nhà văn chỉ đem sự nghèo khổ của mình ra đùa cợt, chị vẫn “Những lần trở lại Sài Gòn sau năm 1975 tôi đi tìm tác giả để mang đến ông “một năm rảnh rang và đủ ăn”. Vậy mà ba chục năm nay tôi chưa bao giờ được dịp thực hiện ước muốn đơn giản và thiết thực đó” (5).

Dầu vậy, mối quan hệ ấy vẫn đơn thuần là mối quan hệ độc giả-nhà văn, từ một độc giả yêu mến và trân trọng chữ nghĩa của nhà văn.

3.

Như tôi đã viết trong Sài Gòn và Hoàng Ngọc Tuấn, tuổi trẻ chúng tôi (bao gồm cả chị Hoà Bình) những ngày ấy binh đao đã đến với những trang truyện ngắn Hoàng Ngọc Tuấn để tìm một thế giới không có tiếng súng, không có những cái chết đang rình rập, và để ít nhất giả vờ sống… một thời để yêu trước khi vội vã bước chân vào nơi gió cát. Nếu không có cái tên Hoàng Ngọc Tuấn và những trang truyện ngắn đầy những chất thơ nói về tình yêu, hẳn là tuổi trẻ chúng tôi 40 năm trước chỉ có một thời để chết và một thời để nhớ mãi khôn nguôi.

Điều ấy giải thích được phần nào mối quan hệ khá khác thường giữa nhà văn nay đã quá cố và vị nữ độc giả Hoà Bình. Như chị đã viết “Tôi mang ơn tác giả vì ông đã tặng cho tuổi trẻ tôi những tác phẩm văn chương tạo bằng những gì tinh anh, tươi thắm, cùng với những đớn đau âm thầm trong tâm hồn ông”. Và việc chị đang làm “in lại Ở một nơi ai cũng quen nhau là một cách bày tỏ lòng yêu mến và trân trọng chữ nghĩa của Hoàng Ngọc Tuấn” (6).

Một người bạn văn của tôi, anh Đỗ Xuân Tê đã nhận xét về việc làm của chị Hoà Bình đối với trường hợp nhà văn quá cố Hoàng Ngọc Tuấn: “Một hiện tượng Khánh Ly-Trịnh Công Sơn trong văn học. Hiếm thấy một khuôn mặt nữ chịu ‘lộ diện’ như xác minh lòng ngưỡng mộ của mình với một tài năng văn học. Càng khâm phục khi người ấy đã có chồng và lại cùng ‘phu quân’ đốt nén hương lòng tưởng niệm người xưa”.

Ngược lại, về phía nhà văn, trong những trang Nhật ký viết năm 1972, ông đã trân trọng “mang ơn tất cả những người nào đã cho tôi nụ cười thân ái, một lời thăm hỏi ân cần, một lời khen ngợi dầu nhỏ nhặt đến đâu đi nữa…Cuộc đời mong manh và ngắn ngủi, nợ ân nghĩa thì nặng nề. Tôi biết làm sao đền đáp hết được, tôi có gì để trả nợ hết được. Cái gì đáng quý nhất ở một con người sáng tạo, nếu không phải là những tác phẩm của hắn” (7).

Dù giã biệt trần gian khá sớm, ông vẫn kịp để lại cho đời nhiều món quà vô giá. Nhà văn đã ra đi, nhưng cái tên của ông và những đứa con tinh thần của ông, thứ đáng quý nhất mà ông có, còn ở lại trần gian. Mãi mãi.

Và những tấm lòng hâm mộ, biết ơn của người đọc trải dài nhiều thế hệ, trải rộng từ trong nước ra đến ngoài nước, điển hình là người nữ độc giả Hoà Bình.▄

T.Vấn

(Trích CÕI NGƯỜI, sắp xuất bản)

Chú thích:

(1) Ở một nơi ai cũng quen nhau – tập truyện ngắn của Hoàng Ngọc Tuấn do Hoà Bình tái bản tại Hoa Kỳ, gồm những truyện ngắn nổi tiếng như: Ở một nơi ai cũng quen nhauBuổi chiều Hạ LanCô bé tuyệt vời trên cao nguyên và nhiều truyện ngắn khác. Đặc biệt, tập truyện còn có phần Phụ Lục: Nhật ký sau một tác phẩm của chính Hoàng Ngọc Tuấn.

(2) (3) (4) Ở một nơi ai cũng quen nhau. Phần Mở Đầu – Không ghi số trang.

(5) (6) (7) Sđd – Phần Phụ Lục – Không ghi số trang.


Nguồn bài đăng