Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

Hoa của đất

Hoa may- Hoa của đất
Cổ xưa nói: “Người là hoa của đất”, là “yêu em từ thuở lên ba, mẹ bồng ra ngõ hái hoa em cầm” và còn là “mình nói với ta mình hãy còn son, ta đi qua ngõ thấy con mình bò”…, minh triết phương Đông giản đơn là vậy. Nhưng là tinh chất bền vững của tâm hồn và trí tuệ dân tộc Việt.
Ca dao cổ nhiều lý thú, nghe đọc đã hay, ngẫm kỹ càng cảm nhận cái hay rất mộc mạc, chân chất. Câu “Yêu anh từ thuở lên ba ..." thấy người xưa lãng mạn biết bao.
                             
Yêu em từ thuở lên ba
Mẹ bồng ra ngõ hái hoa em cầm
Yêu em từ lúc lên năm
Mẹ bồng ra ngõ anh cầm tay em

Tôi nhớ, trong tập thơ "Một chặng đường", bài thơ "Lửa đèn", câu
... Anh dắt tay em, trời chi chit sao giăng
nhà thơ nói: lấy ý từ câu ca dao này.  
Trương Quý Hải viết ca khúc "Hoa may" cũng từ cảm xúc ca dao "thuở lên ba" ấy.
                                                                                                

Bằng Lăng gửi "Qua đò Châu Tử"

Chào vanthe, gửi đến anh lời chúc vui, sức khoẻ ...
Như dã hẹn với anh, BL đã tìm bài "Qua đò Châu Tử" và post cho anh nhe.
(Lời hẹn từ năm ngoái, hẳn anh chưa quên)
                  
Tượng "Đợi chờ" bên bờ sông Hương
Chụp đêm tháng Sáu 2009- vanthekt
Qua đò Châu Tử
                      Văn Thảo Nguyên
                  
Đêm tháng Bảy qua đò Châu Tử
Hỏi ai còn nhớ đường vô Thanh
Ta không quên con đò sông lũ
Ơi cô lái đò đẹp hơn tranh.

Châu Tử ơi, tên em đẹp lạ
Sông Mã ơi, năm tháng ngựa lồng
Ai hát sau bờ tre mái rạ
Đêm đưa đoàn bộ đội qua sông?

Đừng quên nhé, ơi anh bộ đội
Đánh Mỹ xong khi trở về làng
Vui với những vụ mùa, vụ gối
Hương Tám xoan và Nếp hoa vàng.
Lại nghe những canh gà sông Mã
Gọi thợ cày cưỡi máy cày đi
Nghe rào rạt, tiếng em nhổ mạ
Thợ cấy cười, trong hội cấy thi.

Đừng quên nhé, ơi anh bộ đội,
Đánh Mỹ xong lại trở về làng
Châu Tử, bến này xưa nhớ lối
Gọi một lời, em chở đò sang.

... Tạm biệt anh nhé!

... Cảm ơn Bạn đã tìm "Qua đò Châu Tử", trên mạng giờ đâu thấy, chắc chỉ chúng mình nhớ xưa về "Châu Tử". Chúc Bạn hạnh phúc và ước mơ ...
                    
Tháng 11 năm 1972, tôi còn nhớ mãi, đêm ấy, khi hành quân qua sông Mã, trời tối, đường thì trơn, lính ta cứ nhìn cái lù lù của người đằng trước mà đi. Qua sông bằng cầu phao là những thân nứa ghép lại, ồ ồ ... tiếng hò sông Mã của Quang "Ninh nhảy", lính cùng tiểu đội.
                                  
... Ơi hò...
Vắng em chỉ một phiên đò
Trầu ǎn chẳng có chuyện đò thì không
...
                   

cũng chả nghĩ đó như là
Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn
                                                (Gió hiu hắt chừ, Dịch thuỷ lạnh ghê
                                                 Tráng sĩ ra đi chừ, không bao giờ về)          
                                                                                            của hình ảnh Kinh Kha tráng sĩ.
Đêm qua sông, bờ lầy lội và trơn ướt, những cô gái "đưa đoàn bộ đội" tay rắc trấu "chống lầy" và tay dịu dàng  nắm, dắt cho từng bước, cho cả một đoàn quân. Họ chắc là xinh lắm vì cười rất mê và bàn tay mềm ấm. Tôi cũng chẳng có câu thề hẹn kiểu tếu vui, mà đi cứ như là mê, như là mộng. Tôi nhớ mãi, sao như qua ngang một chuyến đò, sao không như là sau ấy, sẽ "Gọi một lời, em chở đò sang ...".
Một kỷ niệm thật khó quên bạn ạ! Vài tháng sau tôi đọc được bài thơ này và khi mỗi lần "một mình", nhớ về chiến tranh, về kỷ niệm, thì cái tiếng sông đêm khẽ vỗ, bàn tay ấm nồng và tiếng cười, tiếng hò cứ còn mãi trong tôi.
            
Nhớ sao bến xưa, "câu hò ướt đẫm trên lưng/ Người ơi đừng dửng dừng dưng với người ...".
Kỷ niệm về bài thơ vậy đó !
Cảm ơn bạn nhiều!
(Trích trong "Những người đã một thời mặc áo mầu xanh của lính", hình như bây giờ "nhân dân" không ai còn tâm sự nữa.)

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Bà Thuyền nhắc: ... xe chở rác!

Ảnh trên Blog Thuyền Lá Tre
Sáng sớm, HG thăm nhà, vui vui. 
Ra đường, đi làm đã thấy có "rác". Ta trút rác vào "... xe chở rác".
Mình cũng hay nói với các thầy cô giáo là đừng nhập rác về nhà và vào tiết dạy.
Bài này của bà lái "Thuyền lá tre" đăng, còn bà ấy nói là từ anh Trương Điện Thắng , Anh Thắng lại viết Văn Thành Lê, Thành Lê nói của David J. Pollay viết bài, nguồn của nó lan truyền như dãy số "Phi-bô-na-xi" vậy. Thôi thì của ai cũng được, tu hú là chú bồ các, bồ các là bác chim ri, chim ri là dì sáo sậu, sáo sậu là cậu sáo đen, sáo đen là em ..., miễn là hay, chia nhau mà nhấm nháp, chiêm nghiệm.  Mong "nhà thuyền" thông cảm, độ trước tôi cũng xin Bà bài "Quẩn quanh trong tổ".  Hôm nay xin bà cả các lời bình luận.
                                         
QUY LUẬT CỦA XE CHỞ RÁC
               
Một hôm tôi nhảy vào một chiếc taxi để ra phi trường. 

Đang chạy đúng làn bỗng từ bãi đậu xe phía trước một chiếc xe màu đen phóng ra. Người lái taxi phanh kêu một tiếng két và tránh không va chạm xe kia trong đường tơ kẽ tóc.
Người lái xe kia ngoái đầu mắng chúng tôi.
Người lái taxi chỉ cười vẫy chào lại.
Thế nên tôi hỏi "Sao anh hiền vậy? Anh kia suýt tông hư xe anh và mình có lẽ đã phải nhập viện".

Bấy giờ anh lái taxi dạy tôi bài học này, tôi gọi nó là 'The Law of the Garbage Truck.' (Quy luật của Xe Chở rác).
Anh giải thích rằng nhiều người cứ như là cái xe chở rác vậy. Họ chạy vòng quanh mang theo đầy rác, đầy bực dọc, đầy nóng giận và chán chường. Vì rác của họ đầy ắp, họ cần nơi đổ rác và đôi khi họ trút lên bạn. Đừng mang nó vào mình. Chỉ cần mỉm cười, vẫy chào, chúc điều tốt lành rồi ta cứ đi tiếp. Đừng thèm lấy rác đó rồi mang rải cho người khác nơi làm việc, nơi dọc đường hay mang về nhà. Người thành đạt quyết không để cho mấy cái xe chở rác làm hỏng ngày sống của mình.

Cuộc đời quá ngắn để mà cứ sống trong hối tiếc, vậy nên...
Hãy yêu thương người cư xử tốt với mình và cầu nguyện cho ai xử tệ.
Cuộc sống này ta tạo nên nó chỉ 10% còn 90% là tùy thuộc cách ta tiếp nhận nó.

David J. Pollay viết bài Quy luật của xe chở rác sau khi sau khi chứng kiến sự việc này từ trong một chiếc taxi ở thành phố New York mười tám năm trước.

Văn Thành Lê



  1. CƯỜNG TRỌC
    15:35 01-10-2011

    "Người thành đạt quyết không để cho mấy cái xe chở rác làm hỏng ngày sống của mình."

    Bà nhớ câu này nha bà ! Đừng để xa rác nó ủi vào bà nữa nha !

  2. 16:02 01-10-2011
    haiza, suốt ngày bị xe rác nó ủi phải, né còn hổng kịp lấy giề mà thành với chả đạt ông ui !
  3. 14:02 01-10-2011
          Lúc còn làm việc, mình hay nói với anh em : bí quyết của mình là không mang công việc về nhà,không mang chuyện ngoài đường mà bước qua cổng !Bác Trương sưu tầm câu chuyện hay lám ! Ai cũng làm được vậy, dưới gầm trời này sẽ bớt rác!
  4. 14:13 01-10-2011
    Khổ cái giờ gầm zời này nhiều rác quá cơ bác Thông ạ, nhiều khi né chí chết mà vẫn bị rác văng vào mềnh ấy chơ ! Gạt đi bắt mệt !
  5. 11:12 01-10-2011
    Rác trên xe không chỉ là những sự bực dọc, nóng giận và chán chường... Rác trên xe còn được kể đó chính là những kẻ ... ngồi trên xe đó, hoặc họ chính là rắc hoặc họ coi họ như ... rác
    Triết lý rứa được không nhà Thuyền nhể?
  6. 13:06 01-10-2011
    Duyệt! Triết lý rất hạp dzới iem ! Cuối tuần dzui nha chị !

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Ảnh chụp như tranh thủy mặc

Nhà nhiếp ảnh Don Hong Oai đã sáng tạo ra một loạt bức ảnh trông như tranh thủy mặc của Trung Quốc.

 












                     
Ông sinh năm 1929, tại Quảng Châu, Trung Quốc, là con út trong một gia đình có 24 anh chị em. Năm lên 7 tuổi, sau cái chết đột ngột của cha mẹ, ông di cư sang Việt Nam, vào học cơ bản về nhiếp ảnh trong một cửa hiệu chụp ảnh chân dung của người Hoa ở Sài Gòn.
 




Năm 21 tuổi, ông theo học trường Cao đẳng Nghệ thuật Việt Nam và bắt đầu dạy nhiếp ảnh. Tuy nhiên, khi tiếp cận với những tác phẩm của Long Chin San, một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng của Đài Loan, Don Hong Oai đã không khỏi ngỡ ngàng vì cách thể hiện mới lạ trong các tác phẩm của nhiếp ảnh gia 104 tuổi này. Thế rồi ông đã sang Đài Loan để “tầm sư học đạo”.







Năm 1979, do ảnh hưởng của chiến tranh biên giới Việt Trung, Don Hong Oai đã rời Việt Nam và sống lưu vong tại San Francisco, Mỹ. Tại đây không biết tiếng Anh, không một người thân thích, ông chụp ảnh và bán ảnh ở vỉa hè kiếm sống. Đến những năm 1990 thì những tác phẩm của Don Hong Oai đã được công chúng đón nhận. Ông không bán ảnh ở vỉa hè nữa mà đã mở triển lãm, bán ảnh cho các bảo tàng.

















                               



                                
Ảnh của ông thuộc về thể loại "ảnh chắp ghép" có nghĩa là mỗi tấm ảnh của ông là sự kết hợp của nhiều âm bản khác nhau, phóng lên một tấm giấy ảnh, thành ra không ai có thể tìm thấy cảnh thật ngoài đời giống như ảnh của ông







                                                                                                                        
Ảnh của ông là ảnh phong cảnh. Tuy nhiên, những bức ảnh của ông không phải là những phong cảnh đơn thuần mà bằng những tìm tòi và với cách thể nghiệm riêng, ảnh của ông mang phong cách hội họa. 
Mỗi tác phẩm của ông như một bức tranh thủy mặc của Trung Quốc, được tạo ra bởi sự kết hợp giữa những hình thức nghệ thuật khác nhau như thư pháp, hội họa và nhiếp ảnh. 


Don Hong Oai chụp nhiều phong cảnh ở Pháp và Malayxia, những năm sau này, ông tìm về Trung Quốc để thực hiện một bộ ảnh phong cảnh về quê hương. 

Ông chia sẻ khi nói về bộ sưu tập ảnh của mình: “Bất cứ ai cũng có thể chụp được một bức ảnh đẹp ở Trung Quốc. Nhưng tôi muốn tìm tòi để có những phát hiện riêng. Bởi những tác phẩm sẽ chẳng có giá trị gì khi chúng giống nhau. Giá trị những bức ảnh của tôi nằm ở chỗ không giống nhau, ở chỗ không ai có được đó”.


Tác phẩm của Don Hong Oai được trưng bày ở nhiều quốc gia trên thế giới và ông  đã đoạt nhiều giải thưởng cao quý về nhiếp ảnh. 

Ngoài ra ông còn được các công ty nhiếp ảnh như: Kodak, Ilford, Fotokina (Đức) vinh danh. Ông là một thành viên của Liên đoàn Nghệ thuật nhiếp ảnh quốc tế ở Thụy Sĩ, cũng như Hội nhiếp ảnh Trung Quốc ở San Francisco.


Don Hong Oai mất ngày 8, tháng 6 năm 2004 sau khi vừa trải qua một ca phẫu thuật tim ở một bệnh viện Trung Quốc tại San Francisco, Mỹ. Gia tài của ông để lại là những tác phẩm nhiếp ảnh vô giá.





RƯƠI HẢI DƯƠNG - Gửi Hoài Nhân

(Chiều nay mưa "lấp lỗ rươi", mưa to quá. Chợt nghĩ, mình đăng lại bài này làm kỷ niệm hết mùa rươi Tân Mão)
"Đã có bao nhiêu bận, ngồi nhấm nháp miếng chả rươi thật kỹ, nghĩ đến cái ngon đậm đà của miếng qùa đất nước, tôi đã nhớ ra rằng có bao nhiêu con người đất Việt như tôi, chẳng may lại không được ăn rươi - kẻ ăn rươi, người chịu bão - hay không biết ăn rươi! Tôi thấy tiếc cho họ, mà lại ngậm ngùi một chút." (Vũ Bằng)
                                                                                              
Con Rươi
Mùa này, mùa nước rươi "tháng Chín đôi mươi, tháng Mười mồng năm" . Nói như cụ Vũ Bằng, ngày ngắn dần, gần sáng thấy lạnh lưng. Hôm nay nhiều trang mạng có chữ "rươi" (theo anh "Gúc"). Thảo nào thấy ê lưng tệ. Thôi thì, cái "mùa quýt đỏ trôn" ấy, xưa kia ông nào có bệnh "hen" vớ món "rươi" vào, "rít" lên phải biết. 
Đọc. Có ông tả rươi giống con đỉa, tôi hơi tự ái, phải như "vầy": "màu xanh nhạt ửng sắc bạc khá đẹp mắt, khi vớt ra khỏi nước lâu sẽ chuyển sang sắc hồng đỏ có khi là màu vàng nâu nhạt, khi yếu sẽ ngả màu xanh đậm", cụ Vũ Bằng gọi nó là "đông trùng hạ thảo", "nứt lỗ rươi" hiện lên trên mặt ruộng quê mùa. Bạn nhớ chăng câu ca "Bao giờ cho đến tháng mười, bát cơm thì trắng bát rươi thì đầy" thì thấy nỗi ước ao của mẹ cha thuở trước. 
                                                                                           
Vớt rươi bây giờ
Đó là khi trời oi nồng, lất phất mấy hạt mưa, thày tôi bảo : "Lại nước rươi rồi đấy", anh chị trong nhà cùng thày chuẩn bị xăm, cọc, thúng, tre ngâm làm đuốc; còn tôi nhờ mẹ bện nùn rơm rấm lửa để nướng cà ra. Nửa đêm cả nhà khiêng đội, như rước kỳ lân bây giờ, đưa xăm ra sông đoạn rươi. Cái xăm dài nặng, phía miệng, thân là mắt lưới, đuôi vải gọi là đụt để chứa rươi bơi vào, cứ đầy đụt thì trút ra thúng. Tôi nhớ có lần mẹ tôi nói là được bẩy chục thúng. Gần sáng, mẹ và hai chị đi chợ Khê bán sớm. Nếu bây giờ, với số rươi đó vợ chồng tôi chắc không phải đi dạy thêm nữa. Bạn Hoài Nhân ạ, rươi hồi đó "nhiều như rươi" như câu bạn viết.
Giờ rươi trên sông ít lắm, chỉ có ở "sông trong" và đầm bãi, chắc là "làng tao" hút cát để xây cho nhà cao mãi..., nó không còn chỗ ở.
tay nói, người Hanoi gọi con rươi là "mủ l...tiên", nghe gai người, muốn "huệ" vào mặt gã. Lần đầu tiên tôi nghe được vậy. Chứ người Hanoi xưa, ông Vũ Thế Long tả "ăn uống khoan dung", chỉ nhắc nhau "không được chê người Hải Dương ăn rươi là ăn của độc. "Chả lẽ bây giờ, "ngẩu phín" mới ngon, uống bia "Bò tùng xẻo" như đồ tể,  vào "quán Hải Xồm" để lồm xồm cho PR chất lượng. Ừ thì "mủ l... tiên" với thời này là cho đắt khách nhớ "Đồ Sơn". Nhố nhăng, nhốn nháo, nhộn nhạo, mà không chỉ ngôn từ.
                                                           
Hũ làm mắm rươi
Thày tôi làm mắm rươi đặc để ăn quanh năm, có vỏ quýt, gừng, muối rang vàng, rượu nếp và thính gạo cho vào hũ, phơi nắng trước sân. Mắm rươi này, mùa "tháng Ba đói chết", chút vỏ quýt, chưng lên ăn cùng cơm tẻ nóng. Tết đến  lòng lợn, thịt luộc ba chỉ chấm mắm rươi sống, ăn cùng rau cần, cải cúc, "ra giáng" người đàn bà đẹp nết, thắm duyên. (chữ cụ Vũ Bằng)
Chả rươi mắm cốt
Cái món chả rươi là ngon nhất, không kể cách làm vì đang thèm lắm. Chỉ có điều phải chấm với nước mắm. Mấy cái ảnh tôi xem, bát chấm lều phều dưa quả... Không phải vậy. Cái gọi là "nước chấm" bây giờ, người Việt xưa không có. Bác Trần Can viết "3 làng Việt bên Tầu là Ô Vĩ, Vu Đầu, Sơn Tâm, vẫn giữ tiếng nói, kiểu ăn mặc, phong tục Việt, vẫn ăn tết, hát dân ca cổ truyền, dùng đàn bầu, đàn nhị, sáo, trống, cồng. Đồ ăn của họ thì cơm vẫn là chính, dùng nước mắm, lại có xôi chè, bánh tráng nướng, bún riêu, bún ốc ...". Ngoài bắc, giờ ăn nhà hàng, thực khách thường xin thêm "bát nước mắm cốt", phải thêm từ "cốt" kẻo bọn chạy bàn pha lung tung, chứ phải đâu là "cốt", nó chỉ có ở lò mắm. Âu cũng là trỗi lại tục ăn xưa. Mà sao bây giờ "loạn" nước chấm thế, cơ man là bát, cứ phải hỏi,  "cái này chấm cái nào" sốt cả ruột, chỉ khổ đứa rửa bát. À, mình có phải rửa đâu, rõ là "thương vay, khóc mướn".
Bạn ạ, còn món rươi nấu riêu mát ruột lắm. Rươi sống nấu với quả gấc xanh, nước trằng ngà mầu gạo, như bát mọc nhà hàng. Mà bây giờ gấc ra muộn qúa, lá gấc xanh cũng được, còn gia vị thì như "mạng" nói...
Bạn "Tiếc thay, từ ấy đến nay chưa có dịp nào dùng món rươi nữa.". Mời bạn về quê tôi khi rươi vào mùa, ngắm nó theo nước sa, nhởn nha đi dạo chơi trong ruộng, trên đầm nước ven đê; ăn rươi đủ món, chứ không thể dùng văn chương, chữ nghĩa mà mô tả được cái ngon của nó. Chả rươi quện mắm ngon dầu cà cuống, cái thi vị ẩm thực của trời đất ban cho.
                                                            
Tôi không viết nhiều về "ẩm thực rươi" theo thời thượng, thói nhà quê kể lại chuyện "Rươi Hải Dương". Mời bạn thưởng thức bài viết của cụ Vũ Bằng , đọc sao mà "thương nhớ" ..."Mắm Rươi".