Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026

Trăm danh thắng Edo (mùa Đông)

 Trăm danh thắng Edo (mùa Đông)

Danh họa người Nhật Utagawa Hiroshige


Bức chân dung tưởng nhớ Hiroshige,
do bạn của ông, họa sĩ Utagawa Kunisada thực hiện.


99. Đền Kinryūzan ở Asakusa (浅草金龍山  7-1856)


Loạt mùa đông được khởi đầu bằng bản họa này với một bầu không khí đặc trưng. Điạ điểm ở đây là đền Kinryūzan một nơi thờ cúng Bồ Tát Quán Thế Âm, tọa lạc tại khu vực Asakusa. Giống như thường lệ, hậu cảnh được tái hiện thông qua các yếu tố khác nhau ở tiền cảnh. Trong trường hợp này là một cánh cổng sơn đỏ và xanh lục tên Kaminarimon (Lôi môn), cùng với một chiếc đèn lồng lễ chiếm chiếm tiền cảnh, nơi cũng có thể nhìn thấy ký hiêu Shinbashi của những người quyên góp. Phối cảnh ở đây được dùng để hướng ánh nhìn về khung cảnh tuyết rơi tại khuyên viên đền, nơi có những bóng người đang bưới tới ngôi đền. Trong đó có thể thấy một ngọn tháp bên phải và Niōmon (cánh cổng được hai vị thần canh gác) ở phần trung tâm, chúng mang một sắc đỏ dữ dội tương phản với màu trắng xóa của tuyết. Ngôi đền này mới được xây dựng lại hai tháng trước đó, sau trận động đất năm 1855. Bầu trời chuyển từ màu trắng sang đen với nhiều sắc độ xám khác nhau, xen kẽ là những chấm trắng của bông tuyết.


100. Bờ kè Nihontsutsumi và Yoshiwara (よし原日本堤 4-1857)


Bờ kè Nihontsutsumi là đoạn cuối cùng của tuyến đường dẫn đến khu giải trí Shin-Yoshiwara. Dưới ánh trăng khuyết nhẹ nhàng, con đường đê tấp người qua lại theo cả hai hướng, một số ngồi trong chiếc kiệu được những người khuân vác gánh. Dọc bên đường là nhiều gian hàng phục vụ trà. Còn ở hậu cảnh bên phải, đằng sau khu rừng rậm rạp, những mái nhà thổ của khu Yoshiwara hiện lên giữa một lớp sương mù tím. Nằm ở cuối con đường và cửa ngõ của khu vực kể trên, có thể thấy một cây liễu đang rủ xuống, nổi tiếng với cái tên Mikaeri Yanagi (cây liễu nhìn từ sau) xuất phát từ việc các khách hàng khi tiến đến nhà thổ sẽ nhìn thấy nó lần cuối trước khi đắm mình trong bầu không khí tiêu điều của khu phố đèn đỏ Yoshiwara. Mô-típ này cùng với đàn ngỗng trời bay chéo qua bầu trời đêm tạo cho hình ảnh một không khí u sầu.

101. Cánh đồng lúa ở Asakusa và lễ hội Torinomachi (浅草田甫酉の町詣 11-1857)


Một lần nữa phong cảnh được trông thấy qua một vật thể phía trước, góc nhìn lần này xuất phát từ bên trong một căn phòng và hướng ra ngoài cửa sổ, dẫn dắt ánh nhìn vào thiên nhiên tại hậu cảnh. Đây có lẽ là một nhà thổ ở khu phố Yoshiwara, bởi sau khi một khách hàng rời khỏi phòng có thể thấy: một chiếc khăn và bát nước trên bệ cửa sổ, cũng như một số onkotogami (khăn ăn lịch thiệp) nhô ra sau tấm bình phong; cạnh đó là kumate kanzashi (kẹp tóc chân gấu) mà có lẽ của người khách tặng lại cho kỹ nữ. Hình ảnh này tượng trưng cho lễ hội Torinomachi - được tổ chức vào ngày Đinh Dậu của tháng mười một - với tục lệ mang kẹp tóc hình chân gấu, biểu tượng cho sự hạnh phúc. Những bóng đen ở phía trung tâm hậu cảnh là của đoàn rước lễ hội này, đang hướng đến ngôi đền Chōkoku-ji. Xa hơn nữa là ngọn núi Phú Sĩ, hình nón của nó bị cắt đối xứng làm đôi bởi trụ cửa sổ. Một trong những yếu tố độc đáo nhất của bức tranh này là một chú mèo đang ngắm nhìn phong cảnh từ cửa sổ, điều này cũng giống như hình ảnh tượng trưng cho người kỹ nữ. Nó được thể hiện bằng kỹ thuật kimedashi (dập nổi), trong đó giấy sẽ được ép lên mộc bản để làm các đường nét nổi lên. Tác phẩm này rất nổi tiếng ở phương Tây, được sử dụng để minh họa trong một bài báo về Hiroshige, của William Anderson trên tạp chí Le Japon Artistique.

102. Minowa, Kanasugi và Mikawashima (蓑輪金杉三河しま  5-1857)


Trong hình ảnh này, hai con diệc Mãn Châu (tanchōzuru) nổi bật ở tiền cảnh, một con đứng ngâm chân trong vùng đầm lầy và con còn lại đang sà xuống chiếm toàn bộ phần trên của bố cục. Ba địa danh được đề cập trong tiêu đề nằm phía tây bắc của khu giải trí Yoshiwara, gần đường Ōshūkaidō. Vào mùa đông, các Tướng quân thường săn diệc (tsuru no onari, diệc du ngoạn) trên những cánh đồng này bằng cách sử dụng loại chim ưng đã qua huấn luyện. Để thu hút chúng, những người nông dân thường rải thức ăn xuống đất làm mồi nhử, có thể nhìn thấy ở bên trái hậu cảnh. Bộ lông của diệc được làm bằng kỹ thuật karazuri (in trắng), một dạng in khô, trong đó tấm giấy được ép xuống bằng miếng đệm được gọi là baren. Những con diệc tượng trưng cho sự trường tồn, hạnh phúc và chung thủy trong hôn nhân, vì chúng chỉ kết đôi duy nhất một lần trong đời. Mô-típ đôi diệc rất phổ biến trong hội họa Trung Quốc, truyền thống tiếp tục được tái hiện bởi Hiroshige.


103. Cầu lớn Senju (千住の大はし 2-1856)


Dựa trên ngày tháng ở dấu kiểm điểm có thể nhận thấy đây là một trong những tác phẩm đầu tiên của cả bộ. Trong đó là hình ảnh của đường biên giới phía bắc Edo, và có lẽ cũng là một dấu mốc địa lý nơi tác giả khởi đầu cho toàn loạt tác phẩm sau này. Cây cầu lớn Senju bắc qua sông Arakawa thuộc tuyến đường Ōshūkaidō được xây dựng vào năm 1594 bởi Tokugawa Ieyasu. Các vị tướng quân đời sau thường phải đi ngang qua nó trong chuyến hành hương đến Nikkō, nơi có lăng mộ của Ieyasu, người sáng lập ra mạc phủ Tokugawa. Cây cầu này đã vượt qua nhiều thảm họa thiên tai với cấu trúc vững chắc của nó. Trên cầu là một số lữ khách đang qua lại, người thì trên lưng ngựa còn người thì được chở bằng kiệu. Nằm phía sau cây cầu có một làng chài, mặt sông theo đó cũng xuất hiện vô số thuyền và bè vận chuyển bằng gỗ, cũng như một số chiếc thuyền buồm đang hướng về phía chân trời. Nền trời phía xa gần như là nguyên mẫu thường thấy của Hiroshige, những ngọn núi được bao phủ trong sương mù kết hợp với ánh sáng đỏ của hoàng hôn.

104. Bờ kè Koume (小梅堤 2-1857)


Kênh Yotsugi-dōri –đã từng xuất hiện trong tấm 33– được dùng để vận chuyển hàng hóa mặc dù không có con thuyền nào xuất hiện trên mặt nước lúc này, đoạn sông được thể hiện theo một cách bình yên, và được bắc qua bởi một số cây cầu dọc theo nó. Góc nhìn này nằm ở phía đông sông Sumida, phía bắc khu phố Honjo và gần thị trấn nhỏ Koume. Con kênh chảy qua hình ảnh theo một đường chéo, dần biến mất ở hậu cảnh sau khi rẽ ngoặt. Màu xanh lam đậm hơn ở trung tâm biểu thị độ sâu của kênh. Những thân cây cao lớn phía bên phải thuộc loài tống quán sủ (hannoki), dưới chân chúng là hai đứa trẻ đang chơi đùa với những chú chó. Hai người phụ nữ băng qua cầu mang trên mình bộ áo dài mùa đông, trong khi phía bờ bên kia là một con phố đông đúc với nhiều nhà cửa khác nhau. Dưới con dốc có thể thấy một người đánh cá đơn độc đang giơ chiếc cần câu của mình xuống sông. Hậu cảnh được bao phủ bởi một thảm thực vật đa dạng, trong khi trên bầu trời, tác giả lại đặt một đàn chim bay ngang qua nhằm phá vỡ phần nào sự đơn điệu của phần trên hình ảnh.

105. Oumayagashi (御厩河岸 12-1857)


Thêm một khung cảnh về đêm, phù hợp với chủ đề được nhắc đến: những người phụ nữ ở bên trái được gọi là yotaka (diều hâu đêm), thuộc một trong những hình thức mại dâm thấp kém nhất. Họ thường được đi cùng với cha hoặc anh trai của họ, và mang theo một chiếc chiếu rơm để có thể cung cấp dịch vụ cho khách hàng ở bất cứ đâu. Thường thì khuôn mặt họ bị biến dạng do một số bệnh, vì vậy những người phụ này thường trang điểm rất đậm, trong hình ảnh này, khuôn mặt của họ gần như giống chiếc mặt nạ. Con sông được tái hiện vào lúc thủy triều dâng và có thêm một số thuyền bề đi qua mặt nước ngoài xa. Phía bên phải bản họa bị chiếm bởi các thân cây cao và nền xám một lần nữa cho thấy rõ các đường vân gỗ để lại trong bản họa.

106. Xưởng gỗ ở Fukagawa (深川木場  8-1856)


Bản họa này gây bất ngờ với phong cảnh thiên nhiên được phủ trắng hoàn toàn bởi tuyết, gợi lên một hình ảnh hoang vắng lạnh lẽo, nó tiếp tục được nhấn mạnh bởi một số màu lạnh như bầu trời xám xịt và nước sông xanh đậm, càng khiến khung cảnh này mang một vẻ ngoài đầy băng giá. Như thường lệ, tác giả để lại thêm một số yếu tố phụ cảnh chẳng hạn như hai con chim sẻ bay ngang bầu trời, hai con chó xuất hiện dưới góc trái và một chiếc ô màu vàng nằm dưới trung tâm bố cục, nơi ký hiệu sakana (cá) lại được nhắc đến trên đó, bắt nguồn từ tên nhà xuất bản, Sakanaya Eikichi. Dọc bờ sông, các kho chứa gỗ được đặt bên ngoài thành phố để ngăn chặn hỏa hoạn, đặc biệt với Fukagawa, phía đông sông Sumida. Trong hình ảnh, có thể thấy một số thanh gỗ cắt ngang khung cảnh theo đường chéo, từ bên phải và trái, kết hợp với sự quỹ đạo ngoằn ngoèo của dòng sông tạo cho hình ảnh một vẻ ngoài năng động trái ngược với sự tĩnh lặng của cảnh vật đang chìm trong tuyết.

107. Fukagawa Susaki và Jūmantsubo (深川州崎十万坪  5-1857)


Giống trong tấm 102, phần trên của hình ảnh bị che khuất bởi một con chim, trong bản họa này là một con đại bàng. Nó được tái hiện với các đường nét hoàn hảo cùng với nhiều mảng lông khác nhau, màu xám ấn tượng trên thân đạt được nhờ mica, tạo cảm giác sáng bóng, trong khi móng vuốt được in bằng keo động vật (nikawa). Nó đang lướt qua một cánh đồng tuyết trắng xóa cùng dòng sông phía dưới, nổi bật ở phần nền là hình bóng của Núi Tsukubasan. Fukagawa Susaki nằm tại phía đông sông Sumida, trong khi Jūmantsubo là một khu đất được đắp vào năm 1720 ở phía đông bắc Susaki, thuộc về một lãnh chúa phong kiến. Tên của nó cho biết quy mô của vùng đất: jūman tsubo có nghĩa 100.000 tsubo (tsubo là đơn vị đo lường của Nhật Bản, 1 tsubo bằng 3.306 m²; trong trường hợp này, 100.000 tsubo là 0,3 km²). Tấm này cũng thuộc một trong những tác phẩm thành công nhất của sê-ri, cùng với 58 và 118.

108. Quang cảnh bờ biển Shiba (芝うらの風景 2-1856)


Hình ảnh ở đây xuất hiện nhiều các yếu tố khác nhau tạo được cảm giác về độ sâu: đầu tiên, hai đàn chim mòng biển xuất hiện, một đàn đang bây phía trước gần mặt nước và đàn còn lại ở phía sau bay chéo qua đường chân trời; một yếu tố khác theo phối cảnh là các cấu trúc bằng gỗ hình chữ A thông báo quanh đó có một con kênh hàng hải, một cái ở tiền cảnh bên trái và một cái khác nằm sau đó một đoạn; cuối cùng là cơ số các chiếc thuyền đang xa dần cũng tạo một cảm giác về chiều sâu. Ở phía chân trời, bên tay trái, xuất hiện một số kè daiba được dựng lên như một biện pháp phòng thủ sau khi những con Tàu đen Mỹ tiến đến đe dọa ngoài biển. Bên bờ phải bán đảo thuộc làng Hama của Tướng quân, được xây dựng trên nền đất khai hoang ra biển. Hình chữ nhật màu vàng nằm góc dưới trái là con dấu của người thợ khắc Horisen (Hori Sennosuke), nó xuất hiện ở đây khác thường so với các tác phẩm khác cùng bộ, bởi có lẽ đây là một trong những bản họa đầu tiên được thực hiện (con dấu này cũng xuất hiện ở lề một số tấm khác như trong 17, 28 và 83).[134] Tác phẩm này đồng thời cũng nằm trong năm bản họa đầu tiên bị xử phạt bởi bên kiểm duyệt.

109. Minami Shinagawa và bờ biển Samezu (南品川鮫洲海岸 2-1857)

Quang cảnh nhìn từ trên cao của Vịnh Edo, khu vực trong hình này được gọi là Shinagawa. Một loại tảo chất lượng cao được nuôi trồng dọc bên bờ biển, chúng được ngư dân trồng ở vùng nước nông vào mùa thu, và thu hái vào mùa đông để chế biến thành nori, những tấm rong biển mỏng thì được dùng làm gia vị hoặc nguyên liệu cho sushi. Quanh đó là một số tàu thuyền đang thu thập rong rêu khi thủy triều xuống. Khu vực nước sâu hơn ở ngoài xa có tên Samezu (bãi cá mập), theo truyền thuyết một con cá mập đã trôi dạt vào bờ và được tìm thấy bên trong bức tượng Bồ Tát Quán Thế Âm tại nơi mà ngôi đền Thiền tông Kaianji được xây vào thế kỷ thế kỷ 13, cánh cổng dẫn vào đền có thể nhìn thấy ở thị trấn bên trái. Ở hậu cảnh xuất hiện phần đỉnh kép của núi Tsukubasan vượt qua những đám mây, và bay qua đó là một đàn chim như thường lệ.


110. "Cây thông treo áo nhà sư" ở Senzoku no ike (千束の池袈裟懸松  2-1856)

Kesakakematsu (Cây thông để nhà sư treo áo) có được tên gọi này bởi trước kia nhà sư Nichiren đã từng nghỉ chân tại đây và treo áo choàng của mình lên cây. Nó nằm trên một mảnh đất nhô ra mặt hồ từ phía bên phải, trung tâm bố cục. Thân cây có dạng xoắn, phần gốc được ráo chắn xung quanh, cùng với một số lữ khách đang tập trung cạnh đó. Ở góc dưới hình ảnh là một quán hàng ăn uống nằm trên con đường ven hồ, nơi cũng xuất hiện nhiều lữ khách khác đang qua lại. Khu vực nước sâu trên mặt hồ biểu thị bởi màu xanh đậm tạo nên một hình lưỡi liềm, nơi ba con diệc xám đang bay qua. Ở bờ phía bên kia có thể nhìn thấy khu điện thờ Hachiman nằm giữa cánh rừng, tiếp đến là những dải núi hiện lên ở nền - như bao phong cảnh khác của Hiroshige - được bao phủ trong sương mù. Màu đỏ của đường chân trời gợi ý thời gian đang là sẩm tối.


111. Cầu trống Meguro và đồi Hoàng Hôn" (目黒太鼓橋夕日の岡 4-1857)
Một bản họa mới về khung cảnh mùa đông trắng xóa tuyết, trong đó cây cầu trống Meguro nổi bật ở phần dưới, điểm đặc biệt của nó nằm ở cấu trúc bằng đá thay vì gỗ như những chiếc khác. Taikobashi (cầu trống) là một loại cầu chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, mang thân hình bán nguyệt, khi kết hợp với hình chiếu của nó trong nước sẽ tạo ra một đường tròn giống như cái trống, loại cầu này từng xuất hiện ở tấm 65. Con đường trên cầu dẫn đến ngôi đền Meguro nổi tiếng dành riêng cho vị hộ pháp Phật giáo Fudō Myōō. Trước khi băng qua cầu, ở góc dưới bên phải chính là phần mái của quán trà Shōgatsuya, nổi tiếng với món súp đậu ngọt (shiruko mochi). Một số lữ khách bộ hành trong tuyết đang núp mình dưới ô, mũ, hoặc với lớp rơm như người đang đi phía bên kia cầu. Tiếp đến, sau những ngôi nhà là ngọn đồi Yūhi no oka (đồi Hoàng Hôn), kết hợp với dòng sông chảy kế bên tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp của thung lũng Meguro. Về khía cạnh màu sắc, màu trắng của tuyết tương phản với màu xanh Phổ của mặt sông Meguro, và trong bầu trời xám có những bông tuyết được tạo ra bằng cách kỹ thuật để trống theo màu giấy, không áp màu.

112. Atagoshita và đường Yabu (愛宕下薮小路 12-1857)


Tiếp tục là một bản họa trong đó tuyết đóng vai trò chính, bao phủ toàn bộ khung cảnh hiện lên. Khu phố Atagoshita (hạ Atago) có được tên gọi này do có tọa lạc nằm dưới chân núi Atago, nhiều khuôn viên của các lãnh chúa phong kiến (daimyō), cũng được đặt tại đây, chẳng hạn như gia tộc Katō của Minakuchi, xuất hiện ở hậu cảnh nằm trước cánh cổng đỏ của điện thờ Atago, hay gia tộc Hijikata từ Komono (tỉnh Mie), chính là dãy nhà dài bên trái. Góc nhìn xuất phát từ phố Yabukōji, nằm bên phải một kênh nước, từ đây có thể thể trông thấy một cây tre cao (yabu), với những cành lá bị uốn cong bởi tuyết chiếm lấy không gian bầu trời, nơi vài chú chim sẻ bay lượn. Tre và chim sẻ, biểu tượng cho sự gắn kết và an lành, và cũng là điềm báo của hạnh phúc. Khác với những khung cảnh tuyết trắng thường thấy, màu sắc trong hình ảnh này đã tạo được những tương phản nhất định, như màu xanh đậm của con kênh với màu xanh lục của cành tre, hay các tông đỏ hồng, trắng và xanh nhạt của bầu trời, tất cả đều làm mờ đi cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông.

113. Dốc Aoizaka bên ngoài cổng Toranomon (虎の門外あふひ坂 11-1857)

Một quang cảnh đêm được chiếu sáng dưới ánh trăng khuyết dịu dàng, và với một bầu trời đầy sao cùng đàn chim đang bay ngang qua theo hình chữ X. Nằm giữa cây thông và cây sếu (enoki) ở phía chân trời là kiến trúc thuộc điện thờ Konpira, nằm trong khuôn viên lãnh chúa Kyōgoku của Marugame đảo Shikoku, nơi đây được mở cửa cho công chúng vào ngày 13 hàng tháng. Ở bên phải trung tâm hình ảnh, một thác nước chảy xuống từ con hào bao quanh dinh thự, trong khi bên trái là dốc Aoizaka, nơi một số người hành hương đi qua với đèn lồng và cũng như hai người thương gia trên vai gánh hàng lưu động: một chiếc có ghi dòng chữ nihachi (hai lần tám), phục vụ mì kiều mạch với giá 16 mon; gánh còn lại thì bán ōhira shippoku (gồm mì với trứng rán, nấm, củ ấu hoặc bánh cá). Dưới chân dốc có hai con mèo mang yếu tố phụ cảnh, cùng với đó là hai chú tiểu vừa thực hiện khổ tu và thanh tẩy dưới nước, cả hai đều đóng khố và mang trên tay chiếc đèn lồng.

114. Cầu Bikuni trong tuyết (びくにはし雪中 11-1857)

Tiếp tục là một bầu trời đêm đông, màu xám của nó giúp nhìn thấy rõ các vân gỗ hằn trên đó. Quang cảnh bên dưới đang phủ trắng trong tuyết, với một tấm biển dễ thấy bên trái tiền cảnh có ghi yama kujira (cá voi núi), uyển ngữ chỉ loại thịt động vật hoang dã đã bị Phật giáo cấm tiêu thụ, mặc dù trước đây vẫn còn được buông lỏng. Cầu Bikuni nằm gần con hào của thành Edo mà xuất hiện ở đây là bức tường thành kiên cố phía bên phải. Khu vực xung quanh đó bao gồm nhiều nhà thổ và cửa hàng thực phẩm rẻ tiền. Thuật ngữ bikuni thường được dành cho các nữ tu sĩ lưu động, đồng thời cũng để ám chỉ gái mại dâm đang cải trang, để thực hiện hành nghề ngoài những nơi cho phép. Ngoài cửa hàng thực phẩm bên trái, lề đường bên kia còn xuất hiện một số giỏ khoai gọi là yakiimo, một loại khoai lang nướng được bày bán ngoài đường phố; dòng chữ cạnh đó cho biết rằng khoai lang (imo) đã được nướng nguyên củ, và chúng có vị ngon hơn hạt dẻ. Một người bán rong khác cũng đang chuẩn bị băng qua cầu. Bản họa này được cho là do Hiroshige II thực hiện (giống với tấm số 12, 41 và 119), dựa trên tiền cảnh trống vắng, cách bức tường được mô tả và cách sắp xếp các bông tuyết.

115. Trại cưỡi ngựa Takata (高田の馬場  2-1857)
Trại cưỡi ngựa Takata nằm phía tây bắc Edo, được thành lập vào năm 1636 làm nơi rèn luyện thuật cưỡi ngựa và bắn cung của tầng lớp quý tộc. Một thân cây thông trải dọc lề trái hình ảnh, xuất hiện phía sau là một hồng tâm màu trắng làm bằng da thuộc, đang được móc dây thừng treo vào cột gỗ và theo đó là một số mũi tên nằm dưới đất. Hồng tâm được thực hiện bằng kỹ thuật dập khô nunomezuri, và cũng là một ví dụ mới về tính sáng tạo của tác giả, luôn tìm kiếm những góc nhìn khác thường để tạo ấn tượng cho người xem. Tại hậu cảnh, một số tay đua đang trên lưng ngựa trong khi một số khác đang bắn cung, xa hơn nữa là ngọn núi Phú Sĩ mập mờ xuất hiện. Nỗ lực rèn luyện của con người được kết hợp hài hòa với tự nhiên, như một đức tính của các samurai theo Nho giáo, rằng họ tuy đã có sẵn tài năng bẩm sinh nhưng vẫn luôn phải tiếp tục chăm chỉ tập luyện.

116. Cầu Sugatami, cầu Omokage và Jariba ở Takata (高田姿見のはし俤の橋砂利場 1-1857)


Trong một khu vực gần trại cưỡi ngựa ở tấm trước, đồng lúa Hikawa trải dài tại trung tâm hình ảnh với một màu vàng nổi bật. Phía sau cánh đồng này là điện thờ cùng tên, Hikawa, nằm ở bên phải và dẫn lối bởi cầu Sugatami gần đó. Còn nổi bật ở phía trước là cầu Omokage, tạo thành một đường cong sắc nét qua máng nước Kanda. Nó thuộc loại cầu ván gỗ được phủ lên một lớp đất và rêu, nhờ vậy mà nó dễ dàng hòa hợp với cảnh quan xung quanh. Gần thời gian này, Tướng quân Tokugawa Iesada đã đi qua đây khi trên đường trở về từ một chuyến du ngoạn đến Ōji, vì vậy bản họa này một lần nữa làm rõ tính thời sự mà tác giả và nhà biên tập muốn hướng đến xuyên suốt loạt tác phẩm này. Nền trời một lần nữa được bao phủ bởi một lớp sương mù màu hồng đỏ, cùng với màu cam phía đường chân trời tạo cho khung cảnh một màu sắc đa dạng.


117. Nhìn từ đỉnh đồi của Yushima Tenjin (湯しま天神坂上眺望  4-1856)

Với một góc nhìn toàn cảnh rộng từ trên cao đã bao quát được ba ngôi đền liên tiếp nhau, ở những khoảng cách khác nhau: ở phía trước bên trái là điện thờ Yushima Tenjin, nhưng chỉ góp mặt qua một chiếc cổng vòm torii; trên hòn đảo nằm giữa ao Shinobazu là điện thờ Benten mà đã từng xuất hiện ở nhiều tấm trước như số 89; và ở bờ bên kia, tại nền bên phải là đền Kan'ei-ji. Chúng đều mang một lớp sơn đỏ – theo Thần đạo, màu này khiến ma quỷ sợ hãi –, tương phản rõ rệt giữa khoảng không gian trắng xóa tuyết, cùng với màu xanh lam rực rỡ của mặt hồ và màu đỏ hoàng hôn tại đường chân trời, tất cả tạo nên một sắc độ đa dạng đến chân thực. Để đến được điện Yushima Tenjin người ta sẽ phải leo hai bậc cầu thang khác nhau, một bên dốc hơn "dành cho nam" và lối còn lại "dành cho nữ" dễ đi hơn, dễ nhận biết qua dòng chữ khắc trên đá ở góc dưới bên phải, otokozaka (đồi dành cho đàn ông). Ở phía bên trái sau vòm torii là một quán trà, được trang hoàng bởi một số ngọn lồng đèn đỏ.


118. Kitsunebi dưới gốc cây Enoki gần Ōji vào đêm giao thừa (王子装束ゑの木大晦日の狐火 9-1857)


Đây cũng là một trong những bản họa nổi tiếng nhất của sê-ri. Bố cục là bầu trời đêm đầy sau màu xám xanh, cùng với một cây sếu lớn (enoki) và quanh đó là một đàn cáo lớn đang tụ tập dưới gốc, hơi thở của chúng được tái hiện có quầng sáng tựa như ma trơi. Nhóm cáo đằng trước có thể nhìn thấy thấy rõ ràng, trong khi ở phía xa là một đàn lớn khác cũng đang hướng về đây, xuất hiện qua những chấm sáng, bóng hình mờ nhạt giữa một hậu cảnh u ám. Những con cáo có được độ sáng rõ ràng, tương phản mạnh với bóng tối, điều này mang lại hiệu ứng tuyệt vời cho khung cảnh về đêm này. Theo truyền thuyết, rằng cứ vào đêm giao thừa, những con cáo sẽ sử dụng ma thuật thần bí dưới gốc cây sếu này để tôn thờ vị thần lúa gạo (Inari); sau đó chúng tiến đến điện thờ Ōji Inari (còn gọi là Shōzoku Inari) gần đó, nơi vị thần sẽ giao cho chúng nhiều sứ mệnh khác nhau cho năm mới đến. Số lượng cáo và hình dạng của chúng cho phép những người nông dân trong vùng ước đoán được về vụ mùa thu hoạch tiếp theo. Hiroshige đã sử dụng phương pháp in bốn màu cho phép tận dụng tối đa khung cảnh này, đạt được những hiệu ứng ấn tượng cùng với một bầu không khí tuyệt vời.


119. Cảnh đêm mưa tại vườn hông ở Akasaka (赤坂桐畑雨中夕けい  4-1859)


Bản họa này của Hiroshige II và về sau mới được đưa vào loạt tác phẩm, vì vậy nó không xuất hiện trong tờ mục lục mà Baisotei Gengyo thực hiện. Điều này dễ nhận biết được qua con dấu aratame (đã kiểm tra) của cơ quan kiểm duyệt đề ngày 4 năm 1859, và trong hộp đỏ là chữ ký Nise Hiroshige (Hiroshige II). Người đệ tử đã hoàn thiện ít nhất ba bản họa (12, 41 và 114) cho bộ tác phẩm còn dang dở của sư phụ đã khuất, mặc dù chúng dựa trên những bản phác thảo của ông; tuy nhiên, tấm này được thực hiện riêng rẽ hoàn toàn, chắc chắn là do nhà xuất bản Sakanaya Eikichi đã đưa ra đề nghị, nhân dịp kỷ niệm người học trò kế thừa nghệ danh và con dấu từ thầy. Trong một số bản sao của bộ tác phẩm, bản họa cuối cùng này không được gộp vào, nhưng vì tên bộ tác phẩm được điền ở áp phích phía trên bên phải – theo quy định thường thấy của nhà xuất bản – nên việc đưa nó vào đây cũng là điều hợp lý. Hình ảnh cho thấy một khu vườn hông quanh ao Tameike, nơi đã từng xuất hiện trong tấm 52. Khu vườn hiện lên giữa một đêm mưa to, trút xuống từ bầu trời xanh than chì nổi bật giữa màu xám xanh của cây. Phần dưới bố cục mang màu sắc sáng sủa hơn, tương phản với bóng tối ở nền trên. Bờ ao chéo, giao với con đường bên cạnh tạo thành một hình nêm. Một số lữ khách, bán buôn đang qua lại dưới lòng đường, trong khi dọc đường phía hậu cảnh là các bóng đen đang hướng đến cổng Akasaka của thành Edo.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét