写作 Sáng tác
DƯ HOA4. Sáng tác | |
“Tạp chí thời báo NewYork” mời bạn Pankaji. Michenla viết một bài về tôi. Tháng 11 năm 2008, bạn đồng nghiệp Ấn Độ của tôi đến Bắc Kinh. Chúng tôi lúc thì ngồi nói chuyện trong phòng ấm áp, lúc thì đi dạo trong gió lạnh mùa đông. Chúng tôi đã đến mấy nhà hàng có phong vị khác nhau ăn cơm. Vị ăn chay này khi dời Bắc Kinh khen tôi có tài hoa gọi món ăn. Tôi nói với anh: “Tài hoa của tôi rất giản đơn, tức là gọi cho bằng hết các món ăn chay trong nhà hàng”.
Nhà thơ La Mã cổ Marcus Valerius Manialis nói: “Nhớ lại đời sống quá khứ chẳng khác gì sống lại lần nữa”. Cảm ơn bạn Pankaji. Michenla. Trong một tuần ngắn ngủi ở Bắc Kinh, anh đã khiến tôi ôn lại quá trình sáng tác của mình, đã cho tôi “sống lại một lần nữa”. “Nguồn sáng tác của tôi chảy mãi”. Tôi nói với Pankaji. Michenla. Khi nói câu này, về tâm lý hình như tôi đã già khú khụ. Bởi vì khi tôi nhìn laị sáng tác đầu tiên của mình,hình như đến từ câu truyện của một thế giới khác. Đây là lịch trình đặc biệt của cả thế hệ người Trung Quốc chúng tôi. Chúng tôi chỉ hao phí thời gian hơn bốn mươi năm đã traỉ qua hai thế giới hoàn toàn khác nhau trong cùng một đất nước.
Tôi tìm những sáng tác đầu tiên của mình. Suy nghĩ của tôi lướt nhanh trên những quyển vở làm văn cũ rích, dừng lại trên tờ báo chữ to phủ trời rợp đất thời đó. Tôi cảm thấy tập làm văn thời tiểu học của mình không đáng nhắc đến. Bởi vì những tập làm văn này chỉ có một người đọc, đó là người thầy giáo ngữ văn đeo kính. Tôi càng muốn đem sáng tác của mình bắt đầu từ báo chữ to, đây là những tác phẩm phát biểu công khai đầu tiên của tôi.
Thời kỳ cách mạng văn hóa người ta say sưa viết báo chữ to, càng thậm chí như hiện nay người ta say sưa với bờ lốc. Chỉ khác ở chỗ, báo chữ to thời đó “thiên biên nhất luật”, trên cơ bản là bản sao chép văn chương của “Báo nhân dân" ngôn ngữ cách mạng và khẩu hiệu trống rỗng tràn ngợp cả bài văn, leo lẻo không ngớt từ đầu chí cuối. Bờ lốc ngày nay lại muôn hình vạn trạng, tự bốc mình lên, chửi bới nhau, phô bày những điều thầm kín, khẳng khái say sưa, không bệnh cũng rên rỉ... còn có cả lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội ... Có thế nói cái gì cũng có, cần gì có nấy. Nhưng có một điểm giống nhau, đó là viết báo chữ to thời cách mạng văn hóa, hay viêt bờ lốc hiện nay đều là để tỏ rõ giá trị tồn tại của mình.
Báo chữ to đã từng là vũ khí lợi hại nhất khi tôi học tiểu học. Mỗi sáng sớm khi khoác cặp sách đến trường, cặp mắt tôi căng thẳng rê trên báo chữ to mới nhất dán trên tường đường phố, xem những tiêu đề ấy có tên bố tôi không.
Bố tôi là một bác sĩ ngoại khoa, đồng thời cũng là một quan chức nhỏ đảng viên cộng sản. Thời kỳ đầu cách mạng văn hóa, tôi đã nhìn tận mắt bố của mấy bạn học là quan chức bị đánh đổ vì tôị là “phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, bị phái tạo phản cách mạng thời đó đánh cho mặt mũi sưng tím, trước ngực đeo một tấm biển gỗ, đầu đội mũ cao bằng giấy dán hồ, suốt ngày tay cầm chổi, chăm chỉ quét đường phố. Người qua đường có thể sẵn sàng dơ chân đá họ một cái, hoặc nhổ bọt lên mặt họ. Con cái họ, mấy đứa bạn học của tôi đương nhiên là môi hở răng lạnh, luôn luôn bị bạn học khác nhục mạ và khinh rẻ.
Tôi còn thơ dại cứ lo ngay ngáy, lo bố mình đột nhiên bị rủi ro. Đó cũng là vận rủi của tôi. Hơn nữa bố tôi còn có lý lịch gia đình địa chủ. Nhà bố tôi đã từng có hơn hai trăm mẫu ruộng, là một địa chủ trăm phần trăm, may mà ông tổ tôi là kẻ ăn chơi hư hỏng, không có lòng tiến thủ, chỉ biết đua đòi lêu lổng, năm nào cũng bán mất hai ba mẫu ruộng cung dưỡng đời sống háu ăn lười làm của mình. Đứa con bại gia chi tử này, đúng năm 1949 vừa vặn bán sạch hơn hai trăm mẫu ruộng, do đó ông đã bán mất thân phận địa chủ của mình. Không thì sau khi giải phóng cả nước, ông rất khó thoát khỏi số phận bị xử bắn. Bố tôi vì họa được phúc, vứt bỏ được tội danh con cái địa chủ. Đương nhiên tôi và anh trai cũng là kẻ hưởng lợi cách đời của đời sống ăn chơi lêu lổng của ông tôi.
Mặc dù như vậy, lý lịch gia đình đen tối của bố tôi vẫn dày vò chúng tôi về tâm lý, chuyện rủi ro vẫn thường xảy ra. Một sáng sớm, tôi và anh trai cắp sách ra khỏi nhà, trên đường đi cuối cùng đã nhìn thấy tên bố mình xuất hiện nổi bật trên tiêu đề, hơn nữa còn có hai tội danh “địa chủ bỏ trốn” và “phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”.
Thời còn bé tôi rất nhút nhát, lúc ấy chắc chắn sắc mặt tôi nhợt nhạt. Tôi bảo anh trai, em không dám đến lớp, em phải trốn về nhà. Anh tôi mặt tỉnh khô, anh bảo chẳng việc gì phải sợ, anh nhởn nha nhởn nhơ đi về hướng nhà trường. Anh tôi chỉ can đảm đi một đoạn độ một trăm mét, sau đó anh lập tức quay về. Anh vừa đi đến với tôi vừa nói:
- Mẹ kiếp ông cũng đếch đến trường nữa, ông cũng phải tránh một thời gian.
Sau đó một tờ báo chữ to đầu tiên ký tên tôi vì thế đã ra đời. Năm ấy tôi học năm thứ nhất tiểu học, anh tôi học năm thứ ba tiểu học. Bố tôi ở vào thế vực sâu của đời người, tự giàn dựng tự diễn một vở kịch chính trị, khiến cả gia đình chúng tôi ăn một tết xuân cách mạng hoá. Trong đêm ba mươi tết, các gia đình khác, sau một năm nhịn ăn nhịn tiêu, cuối cùng đã có thể ăn một bữa ngon có thịt có cá, nhưng gia đình tôi lại ăn cơm “ôn khổ nhớ nghèo”. Cái gọi là “ôn khổ nhớ nghèo” tức là trộn cám với rau dại nấu lên, bóp thành bánh nắm. Món ăn được gọi là bánh cám này do người nghèo trong chế độ cũ ăn. Trong đêm ba mươi tết chúng tôi ăn bánh cám, tức là ôn lại nỗi khổ của chế độ cũ để thấy cái ngọt ngào của chế độ mới. Hai tay tôi bưng cái bánh cám nhạt nhẽo vô vị, nhỏ nhẻ cắn từng miếng. Tôi cảm thấy cám thô ráp khi tôi nuốt hình như cứa vỡ cổ họng. Rất tủi hổ tôi nói, ăn bánh cám thấy đau đau. Bố tôi giả vờ tỏ ra vui, ông nói bằng giọng của bác sĩ ngoại khoa.
- Đau mới tốt, đau mới chứng tỏ ôn nghèo nhớ khổ có hiệu quả điều trị. Cả nhà bốn người chúng tôi nuốt bánh cám. Sau khi mẹ tôi dọn sạch mâm cơm, bố tôi trải một tờ giấy trắng to lên bàn, cả nhà bắt đầu viết báo chữ to. Chủ đề của báo chữ to là đấu tư lợi phê xét lại, tức là phải đánh đổ và phê phán tư tưởng tự tư và tư tưởng của chủ nghĩa xét lại. Tay phải bố tôi mài mực trong nghiên, nói với chúng tôi một cách trang trọng:
- Đêm giao thừa năm mới, chúng ta phải cẩn thận tiến hành một cuộc tự phê bình và phê bình.
Điều này khiến anh em tôi hớn hở. Chúng tôi tranh nhau đòi phát biểu đầu tiên. Hai anh em tôi, không đứa nào chịu nhường đứa nào, đứa nào cũng muốn được tự phê bình trước. Bố mẹ bảo tôi nói trước, bởi vì anh lớn hơn tôi hai tuổi, anh nên nhường cơ hội cho em. Nhưng tôi chớp chớp mắt không biết nói gì? Trong giấy lát tôi không tìm ra tư tưởng tự tư và tư tưởng của chủ nghĩa xét lại. Ở bên cạnh, anh tôi sốt ruột nôn nóng. Anh muốn nói trước, bố mẹ tôi không đồng ý, bắt đầu gợi ý cho tôi, bố mẹ nói, vừa giờ khi ăn bánh cám con cảm thấy đau đau cổ họng, tức là tư tưởng tự tư đang tác oai tác quái. Tôi như trút gánh nặng, nhưng vẫn lo lo. Tôi hỏi bố mẹ:
- Liệu có thể còn coi là tư tưởng của chủ nghĩa xét lại hay không?
Bố mẹ tôi trao đổi với nhau một lát, coi đây là tác phong của giai cấp tiểu tư sản ở nơi sâu kín của tư tưởng tôi đang trỗi dạy, còn trong chủ nghĩa xét lại thì đầy rẫy cái xấu xa của giai cấp tư sản. Bố mẹ gật gật đầu nói:
- Có thể coi thế.
Tự tư và chủ nghĩa xét lại đều có, tôi đã yên tâm. Đến lần anh trai. Anh đã kiêu ngạo nói ra, có lần anh nhặt được hai xu trên phố không đem trao cho thầy giáo mà mua luôn hai cái kẹo bỏ mồm. Bố mẹ tôi đều gật đầu trịnh trọng, bảo hành vi này của anh tôi hết sức tương tự tư tưởng vừa giờ của tôi, cũng đều có tư tương tự tư và chủ nghĩa xét lại. Tiếp theo mẹ tôi đấu tự tư, phê xét lại, sau mẹ tôi là bố tôi. Bố mẹ tôi đều nói những sai lầm nho nhỏ, không đau không ngứa, khiến hai anh em tôi có vẻ thất vọng, đặc biệt là bố tôi, khi tự phê bình không hề nhắc đến một chữ “địa chủ chạy trốn” và “phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”. Anh trai tôi làm khó dễ cho bố tôi đầu tiên. Anh ấy nghiêm nghị hỏi:
- Ông có phải là địa chủ bỏ trốn hay không?
Nét mặt sa sầm, bố tôi lắc lắc đầu nói, gia đình tôi đã phá sản trước ngày cả nước giải phóng, cho nên khi cải cách ruộng đất được quy thành trung nông. Mẹ tôi ngồi cạnh kêu bị oan, mẹ nói nếu không từng có hơn hai trăm mẫu ruộng, thành phần gia đình bố tôi phải là bần nông. Anh trai tôi nghiêm khắc dơ tay phải, hỏi bố tôi:
- Ông có thể bảo đảm với Mao chủ tịch không? Ông không phải địa chủ?
Bố tôi trang nghiêm dơ tay phải nói:
- Tôi xin bảo đảm với Mao Chủ tịch, tôi không phải địa chủ.
Tôi không cam lạc hậu, cũng hạch sách bố:
- Ông có phải phái đi theo con đường tư bản chủ nghĩa không?
Bố tôi vẫn lắc lắc đầu. Bố nói bản thân tuy gia nhập đảng cộng sản trước giải phóng, nhưng luôn luôn làm công tác kỹ thuật, ông luôn luôn làm bác sĩ ngoại khoa không nên coi là phái đương quyền đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Tôi học kiểu anh trai dơ tay phải:
- Ông có thể bảo đảm với Mao chủ tịch không?
Bố tôi lại dơ tay phải nói:
- Tôi xin bảo đảm với Mao Chủ tịch.
Tiếp theo ba chúng tôi nhìn tờ báo chữ to tránh chỗ nặng nói chỗ nhẹ, do bố tôi viết. Đây là tờ báo chữ to đầu tiên phê phán bản thân chúng tôi, hơn nữa nó được viết vào đêm giao thừa. Sau khi viết xong, bố tôi ký tên mình, đưa bút lông cho mẹ tôi. Mẹ tôi ký xong đến anh tôi ký, tôi ký tên sau cùng.
Chúng tôi bắt đầu thảo luận dán báo chữ to chỗ nào? Tôi bảo dán ở cửa nhà mình, có thể để bà con hàng xóm nhìn thấy hành vi vĩ đại đêm giao thừa của chúng tôi. Anh tôi nói nên dán ở cửa sổ bán vé của rạp chiếu bóng, ở đấy có đông người xem báo chữ to hơn. Chắc chắn trong bụng bố mẹ tôi sẽ chửi chúng tôi hai đứa con mất dậy. Bố mẹ tôi chỉ để làm vì, để chứng tỏ tinh thần cách mạng và giác ngộ chính trị của mình. Bố mẹ tôi đâu có muốn người khác đọc được tờ báo chữ to này, hơn nữa tờ báo chữ to ba mươi tết này có giá trị thực dụng rất cao, có thể là một đoạn rạng rỡ xuất hiện trong bản kiểm điểm của bố tôi.
Bố mẹ tôi tuy trong lòng khó chịu, song nét mặt vẫn tỏ ra tán thành, hai bố mẹ gật đầu nói, ý kiến của hai anh em đều rất hay, vấn đề là nếu dán ra ngoài bản thân chúng ta không thể luôn luôn nhìn thấy tờ báo chữ to này. Bố mẹ kiên nhẫn giải thích, tờ báo chữ to này phê phán bản thân mình, nên dán trong nhà mình, để chúng ta luôn luôn cảnh giác sai lầm trước kia của mình, từ đó theo sát Mao chủ tịch vĩnh viễn đi trên con đường đúng đắn. |
Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019
Trung Quốc trong 10 từ vựng (4): Sáng tác
Trung Quốc trong 10 từ vựng (3): Đọc sách
Chương “Đọc” họ Dư kể lại việc đọc sách của mình thời niên thiếu và thời tuổi trẻ. Trong thời niên thiếu vào năm 1973, sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa hầu như toàn bộ sách vở bị vệ binh đỏ thiêu rụi và vì là học sinh ở một vùng xa xôi hẻo lánh, sách đọc không có, nên cuốn Tuyển tập Mao Trạch Đông và cuốn Trích dẫn lời Chủ tịch Mao là những cuốn sách duy nhất đối với một đứa trẻ ham đọc sách tưởng chừng sẽ trở thành hấp dẫn đối với cậu học sinh tiểu học họ Dư, nhưng dù có đọc cậu bé cũng hoàn toàn không nhập tâm được gì. Ngược lại, chỉ có những chú giải trong Tuyển tập là gây được chút thích thú vì nhưng chú giải này cho cậu biết được tóm lược những sự kiện và nhân vật lịch sử.
Lên trung học Dư Hoa bắt đầu say mê đọc những quyển sách được cho là độc hại. Những quyển sách này may mắn chưa bị vệ binh đỏ thiêu rụi, còn được lén lút truyền tay qua nhiều người cho nên phần lớn thiếu trang, thiếu đầu thiếu đuôi, thiếu cả bìa sách nên cũng chẳng biết tác giả là ai. Dư Hoa kể lại chuyện anh và mấy đứa bạn học vớ được bản dịch lậu một cuốn tiểu thuyết tình lãng mạn của Pháp và cả bọn quyết định thức thâu đêm chia nhau chép tay từng phần quyển sách sau đó nhập lại thành cả quyển để mỗi đứa tha hồ có thể đọc đi đọc lại. Nhưng chuyện tức cười xảy ra là sáng hôm sau khi xem lại thì không đứa nào đọc được chữ viết của đứa kia. Chính vì những cuốn tiểu thuyết mất đầu thiếu đuôi – nhất là thiếu phần kết truyện này đã khiến Dư Hoa, nhiều đêm trằn trọc cố tưởng tượng ra cái kết thúc truyện. Kinh nghiệm này có ảnh hưởng lớn việc đi vào con đường viết lách của Dư Hoa.
阅读 Đọc sách
DƯ HOA
| 3. Đọc sách | |
Lớn lên trong những năm tháng không có sách, cho nên tôi không biết việc đọc sách của mình bắt đầu như thế nào. Do đó khi chỉnh lí ký ức của mình, tôi đã phát hiện và kể lại chuyện đọc sách đầu tiên của mình với bốn văn bản khác nhau.
Văn bản đầu tiên là vào mùa hè năm 1973 tôi tốt nghiệp tiểu học, khi cuộc đại cách mạng văn hoá đã bước sang năm thứ bảy, những cuộc vũ đấu đẫm máu quen thuộc và những cuộc khám nhà dã man đã qua đi được vài năm. Những hành động tàn khốc này tiến hành với danh nghĩa cách mạng, hình như cũng cảm thấy đã mệt mỏi, thị trấn nhỏ tôi sống đã lâm vào trạng thái yên tĩnh kìm nén và nghẹt thở, mọi người trở nên càng nhút nhát và cẩn thận, trên báo chí và phát thanh vẫn ngày nào cũng ra rả hô hào đấu tranh giai cấp, nhưng tôi cảm thấy đã lâu lắm mình không thấy kẻ thù giai cấp.
Lúc này thư viện của thị trấn nhỏ chúng tôi mở cửa đối ngoại trở lại. Bố tôi đã kiếm cho anh em tôi một tấm thẻ thư viện để chúng tôi có việc làm trong kỳ nghỉ hè buồn chán. Từ đó trở đi,tôi bắt đầu thích đọc tiểu thuyết. Trung Quốc thời bấy giờ tác phẩm văn học hầu như đều bị gọi là cỏ độc. Những tác phẩm nước ngoài của Sêchxpia, Tônstôi, Banzắc là cỏ độc. Các tác phẩm của Trung Quốc như Ba Kim. Lão Xá, Thẩm Tòng Văn là cỏ độc. Do Mao Trach Đông và Khơrúpsốp coi nhau là kẻ thù, văn học cách mạng thời kỳ Liên Xô cũng trở thành cỏ độc. Hàng loạt sách cất giữ sau khi bị coi là cỏ độc, sau khi đốt, trong thư viện mở cửa trở lại không còn được bao nhiêu. Tiểu thuyết xếp trên giá chỉ có khoảng hai mươi loại, đều là cái gọi là văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa sản xuất trong nước. Tôi đã đọc hết một lượt những tác phẩm ấy. Như “Ngày nắng đẹp”, “Đường lớn bừng sáng”, “Bể Ngưu Điền”, “Lịch sử tác chiến Hồng Nam”, “Tân Kiều” , “Mây gió vùng mỏ” , “Tuyết bay đón xuân” , “Sao đỏ lấp lánh”. Những sách tôi thích nhất lúc đó là “Sao đỏ lấp lánh” và “Mây gió vùng mỏ”, lý do rất đơn giản, vai chính của hai cuốn tiểu thuyết này đều là trẻ con.
Đọc như thế không để lại vết tích gì trong đời sống sau này của tôi. Tôi không đọc được tình cảm, không đọc được nhân vật, nghĩa là hình như câu chuyện cũng không đọc được. Những cái tôi đọc được chỉ là dùng phương thức khô khan nói về cuộc đấu tranh giai cấp, nhưng tôi lại đọc cẩn thận mỗi cuốn tiểu thuyết, đấy là vì đời sống thời đó của tôi còn khô khan tẻ nhạt hơn những tiểu thuyết ấy. Trung Quốc có câu thành ngữ “Đói không chọn ăn”, việc đọc của tôi thời đó chính là đói ăn bừa, chỉ cần là một cuốn tiểu thuyết, chỉ cần đằng sau còn một câu là tôi cứ đọc tiếp.
Mùa thu năm 2002, khi tôi đang ở Béclin – thủ đô nước Đức, tôi đã gặp hai giáo sư Hán học đã nghỉ hưu, nhắc đến nạn đói lớn của Trung Quốc đầu những năm 1960, hai vợ chồng giáo sư này đã kể lại những từng trải đích thân của họ. Hồi đó hai ông bà đều đang lưu học ở đại học Bắc Kinh, vì gia đình có việc gấp ông phải về nước trước, hai tháng sau ông nhận được thư của vợ, trong thư bà bảo ông: “Kinh khủng quá! Sinh viên Trung Quốc đã ăn hết lá cây trong trường đại học Bắc Kinh”!
Giống như sinh viên đói đã ăn sạch lá cây trường đại học Bắc Kinh, việc đọc của tôi đã ngốn sạch những tiểu thuyết trong thư viện của thị trấn nhỏ chúng tôi còn khó ăn hơn lá cây.
Tôi còn nhớ nhân viên công tác trong thư viện là một phụ nữ đứng tuổi, chị làm việc hết sức chăm chỉ cẩn thận, lần nào tôi và anh trai đến trả tiểu thuyết đã đọc xong, chị cũng kiểm tra hết sức cẩn thận xem sách có rách chỗ nào không, sau khi xác định hoàn hảo cả, chị mới nhận và cho mượn tiểu thuyết khác. Hôm ấy chị phát hiện sách chúng tôi đem trả có một giọt mực trên bìa, chị nhận xét chúng tôi đã làm bẩn sách. Tôi cãi vết mực này đã có từ trước nhưng chị kiên quyết cho rằng chúng tôi làm bẩn. Chị nói quyển nào trước khi nhận trả chị đều kiểm tra rất cẩn thận, không thể nói chị không phát hiện ra vết mực nào như thế. Hai bên đã cãi nhau, cãi nhau thời ấy thuộc về văn đấu. Anh trai tôi là một hồng vệ binh, đối với anh, văn đấu không đã, vũ đấu mới tỏ bản sắc hồng vệ binh của anh, anh cầm sách ném vào mặt chị rồi đưa tay tát vào mặt chị, sau đó chúng tôi cùng đến đồn công an của thị trấn, chị ngồi tại chỗ khóc rưng rức rất lâu rất thương tâm, anh tôi cứ đi đi lại lại trong đồn như không có việc gì xảy ra. Viên đồn trưởng vừa an ủi khuyên nhủ chị vừa mắng anh tôi tự do tản mạn. Ông ta bảo anh tôi ngồi xuống, anh tôi đã ngồi xuống và vắt chân chữ ngũ trông rất oách. Viên đồn trưởng này là bạn của bố tôi, tôi đã từng xin ông ta dạy tôi đánh nhau như thế nào. Ông ngắm tôi nhỏ bé lúc đó rồi dạy tôi một chiêu, đó là nhân lúc phía bên kia không đề phòng, nhanh chóng giơ chân đá vào dái của người ta.
Tôi hỏi ông, nếu người đó là nữ thì sao.
Ông nghiêm túc trả lời: “Đàn ông không được đánh đàn bà”!
Hành vi vũ đấu hồng vệ binh của anh tôi đã làm chúng tôi mất đi tấm thẻ mượn sách của thư viện. Tôi chẳng tiếc gì vì tôi đã đọc hết sách trong thư viện. Vấn đề là chưa hết kì nghỉ hè, tôi đang hứng thú đọc sách, tôi thèm đọc nhưng không có sách để đọc.
Thời đó trong nhà tôi, ngoài khoảng mười quyển sách y học bố tôi dùng cho chuyên môn, chỉ có bốn quyển sách “Tuyển tập Mao Trạch Đông” và một quyển “Mao Chủ Tịch Ngữ Lục” gọi là sách bìa đỏ. Sách bìa đỏ là cuốn sách trích dẫn lời trong “tuyển tập Mao Trạch Đông” biên soạn và in ấn ra. Tôi buồn bã giở chúng ra xem. Khi đọc đến những phản ứng hóa học, nhưng đọc lâu lắm vẫn không hề thích thú lên được, tôi đành phải ra khỏi nhà, giống như một người đang đói bụng đi tìm thức ăn, tôi đi khắp nơi tìm sách đọc. Tôi mặc quần đùi và áo may ô, kéo đôi dép lê đi trên đường phố của thị trấn, nắng như đổ lửa trong mùa hè, bắt gặp anh bạn cùng tuổi quen biết, tôi gọi bạn:
- Này, nhà cậu có sách không?
Những anh bạn mặc quần đùi áo may ô kéo dép lê như tôi, sau khi nghe tôi hỏi cậu nào cũng ngẩn người, có lẽ các bạn chưa hề gặp câu hỏi đó bao giờ, sau đó cậu nào cũng gật đầu nói nhà mình có sách, nhưng khi tôi hớn hở đến nhà bạn thì nhà nào cũng có bốn quyển sách “Tuyển tập Mao Trạch Đông” giống như nhà tôi mà đều là sách mới chưa từng mở đọc. Do đó tôi có kinh nghiệm, khi một bạn trai được tôi hỏi trả lời, trong nhà cậu ta có sách, tôi liền chìa bốn ngón tay ra tiếp tục hỏi:
- Có bốn quyển sách phải không?
Cậu ta gật đầu, tôi bỏ tay xuống lại hỏi một câu:
- Sách mới phải không?
Sau khi cậu ta lại gật đầu lần nữa, tôi hết sức thất vọng nói:
- Vẫn là “Tuyển tập Mao Trạch Đông”.
Về sau tôi thay đổi cách hỏi:
- Có sách cũ không?
Các bạn trai tôi gặp đều lắc đầu, chỉ có một trường hợp ngoại lệ, sau khi chớp mắt, cậu này nói nhà mình hình như có sách cũ. Tôi hỏi cậu có bốn quyển phải không, cậu lắc đầu bảo hình như có một quyển, tôi nghi ngờ cuốn sách đó là cuốn sách bìa đỏ, hỏi cậu bìa sách màu đỏ phải không, cậu ấy nghĩ rồi bảo hình như là màu xám. Tôi hớn hở ra mặt. Ba câu trả lời “hình như” của cậu ấy khiến tôi hào hứng. Tôi đưa cánh tay ướt đẫm mồ hôi của mình ôm chặt bả vai ướt đẫm mồ hôi của cậu đi về nhà cậu, dọc đường tỏ ra săn đón kính nể, tôi nói đến nỗi lòng cậu như hoa đua nở. Đến nhà cậu, anh bạn khệ nệ bê một chiếc ghế đến trước tủ quần áo leo lên ghế, rà mò nóc tủ quần áo một lúc, móc ra một quyển sách bám đầy bụi bặm đưa cho tôi. Khi tôi nhận sách, trong lòng thấp thỏm không yên. Cuốn sách nhỏ hơn một tấc này rất giống sách bìa đỏ. Tôi lấy tay lau lớp bụi dày trên bìa sách, hết sức thất vọng nhìn ra bìa nhựa màu đỏ, quả nhiên là sách bìa đỏ. Sau khi nỗ lực của tôi ở ngoài không có hiệu quả, tôi đành phải về nhà khai thác tiềm lực. Theo lối nói thời thượng lúc này tức là phát huy nội lực. Tôi duyệt qua một lượt sách y học trong nhà rồi để chúng lại giá sách, lúc ấy tôi sơ suất không phát hiện ra nội dung kinh khủng tàng chứa trong những sách y học, mãi đến hai năm sau mới phát hiện ra một bí mật. Sau khi tôi vứt bỏ sách y học thì những sách để tôi chọn đọc chỉ còn “Tuyển tập Mao Trạch Đông” mới nguyên và đọc sách bìa đỏ. Thời đó gia đình nào cũng như vậy. Bốn quyển sách “Tuyển tập Mao Trạch Đông” chỉ là sự bày đặt chính trị trong nhà, còn học tập thường ngày là quyển sách bìa đỏ.
Tôi không chọn sách bìa đỏ mà cầm tập thứ nhất của “Tuyển tập Mao Trạch Đông”. Lần này tôi đọc hết sức tỉ mỉ, sau đó đã phát hiện ra lục địa mới khi đọc, đó là lời chú thích trong “Tuyển tập Mao Trạch Đông” đã hấp dẫn tôi. Từ đó trở đi tôi đâm ra thích thú đọc “Tuyển tập Mao Trạch Đông”.
Mùa hè năm ấy, chúng tôi quen ăn cơm tối ở ngoài trời. Đầu tiên chúng tôi hất mấy chậu nước lạnh trên sân, vừa để hạ nhiệt độ, vừa để không bốc bụi, sau đó dọn mâm ghế ra ngồi. Sau khi bắt đầu ăn cơm tối, bọn trẻ bưng bát cơm đi đi lại lại, mắt nhìn vào thức ăn trên mâm người khác, mồm nhai cơm. Bao giờ tôi cũng ăn xong cơm rất nhanh, đặt bát đũa xuống, cầm “Tuyển tập Mao Trạch Đông” đọc như đói như khát dưới nắng chiều. Hàng xóm láng giềng nhìn thấy thế cứ khen nức nở, khen tôi nhỏ tuổi mà chịu khó học tập tư tưởng Mao Trạch Đông đến thế. Bố mẹ tôi nghe họ khen hớn hở ra mặt. Bố mẹ tôi thì thầm bàn tán về tương lai của tôi. Bố mẹ tôi than thở Đại Cách Mạng Văn Hoá đã cướp mất của tôi cơ hội học tập, nếu không đứa con út của bố mẹ sẽ trở thành một giáo sư đại học trong tương lai. Thật ra, tôi hoàn toàn không học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, tôi chỉ say mê đọc chú thích trong “Tuyển tập Mao Trạch Đông”. Những dòng chú thích các sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử này có ý nghĩa biết chừng nào so với tiểu thuyết trong thư viện của thị trấn. Trong những dòng chú thích này, tuy không có tình cảm nhưng có câu chuyện, có nhân vật.
|
Trung Quốc trong 10 từ vựng (2): Lãnh tụ
| ||||||
| ||||||
Trung Quốc trong 10 từ vựng (1): Nhân dân
![]() |
| "Người biểu tình vô danh" (Tank Man) |
Nhà văn Dư Hoa: Tôi coi cuốn sách này là sự nối dài của tiểu thuyết Huynh Đệ, bằng lối viết không hư cấu nhằm lấp vào chỗ trống tôi để lại của lối viết hư cấu trước đó. Tôi hi vọng ở đây có thể cô gọn chuyện thao thao bất tuyệt của Trung Quốc đương đại vào trong mười từ vựng đơn giản. Đây cũng là lý do tại sao tôi phải chọn mười từ vựng. Bởi vì mười từ vựng cho tôi mười đôi mắt để tôi chăm chắm nhìn Trung Quốc từ mười hướng.
LỜI NÓI ĐẦU
Nhà thơ mù Hy lạp cổ Homêros nói:“Thần linh đan dệt bất hạnh, là để cho đời sau không thiếu đề tài ngâm hát”. Mấy trăm năm sau Mạnh Tử, bậc tiên triết Trung Quốc nói: “Sinh trong lo âu hoạn nạn, chết trong bình an vui vẻ”. Homeros mượn phong độ Thần linh đứng ngoài cuộc, với thân phận của người kể chuyện để ngâm hát nỗi bất hạnh nhân gian và sự đời khó lường. Còn Mạnh Tử thì lấy những ví dụ cảm thụ cuộc đời để nói rõ chuyện lo âu, hoạn nạn thường có thể khiến con người sống, an nhàn, thuận lợi, sung sướng trái lại đã làm cho con người bại vong. Homeros và Mạnh Tử xuất phát từ góc nhìn khác nhau và không gian thời gian khác nhau, bằng tích cực và lạc quan giống nhau, cùng đến trong nỗi bất hạnh và lo âu hoạn nạn hôm nay của chúng ta.
Tôi hy vọng sách này có cả hai phẩm chất nói trên, khiến cuộc đời chân thật sát thực và kể chuyện siêu nhiên cùng trở về một lối riêng ở đây. Tôi cũng hy vọng trong mười từ vựng này có thể kế thừa tính tích cực và lạc quan của Homeros và Mạnh Tử.
Tôi cảm ơn giáo sư AILan Barr. Tháng 3 năm 2009, trong thời gian tôi ở Mỹ, giáo sư AILan đã mời tôi đến học viện Pomona nói chuyện về Trung Quốc đương đại. Người bạn cũ này đã đặt tên cho bài diễn giảng của tôi là “Trung Quốc của một nhà văn” (A Writer’s China). Trong khi tôi chuẩn bị bài nói chuyện đã phát hiện ra tên sách. Khi chúng tôi đáp xe đi trên đường cao tốc Los Angeles, tôi nói với giáo sư AILan kế hoạch viết quyển sách này, giáo sư lập tức đồng ý sẽ đảm nhiệm dịch quyển sách này ra tiếng Anh. Sau khi về nước tôi quyết định sáng tác của mình xuất phát từ mười từ vựng, Giáo sư AILan liền đề nghị là “Trung Quốc trong mười từ vựng” (China in Ten Words). Tôi thích phong cách giản dị trong sáng của tên sách này.
Tôi đã coi cuốn sách này là sự nối dài của cuốn “Huynh Đệ”, bằng lối viết không hư cấu nhằm lấp vào chỗ trống tôi để lại của lối viết hư cấu trước đó. Do đó tôi cảm thấy cần thiết phải viết lại nội dung phần Lời cuối sách của “Huynh Đệ” ở đây như sau:
“Đây là cuốn tiểu thuyết ra đời sau khi hai thời đại gặp nhau, cái trước là một câu truyện trong cách mạng văn hóa, đó là một thời đại thê thảm khốc liệt của số phận tinh thần cuồng nhiệt, bản năng bị kìm nén, cái sau là câu truyện hiện tại, đó là một thời đại luân lý đảo lộn, nôn nóng buông thả và chúng sinh bày ra muôn hình muôn vẻ. Trung quốc của cách mạng văn hóa và Trung Quốc hôm nay; giống như trung thế kỷ của châu Âu và hiện nay của châu Âu. Một người phương Tây sống hơn bốn trăm năm mới có thể trải qua hai thời đại khác nhau một trời một vực. Một người Trung Quốc chỉ cần bốn mươi năm đã trải qua. Phải nói là xáo động rối ren, thiên biến vạn hóa của bốn trăm năm hiện giờ được cô đọng trong bốn mươi năm. Đây là một từng trải, một vốn sống vô cùng quí giá”.
Do đó, nhà phê bình người Pháp CLIRE DEVARRIEUX nói “Đây là bước tiến bộ từ xe kút kít đến tầu hỏa cao tốc”. Lời ví đến từ nước Mỹ là “Cuộc sống như đáp xe leo núi, cứ vòng và vòng vèo khiến người ta rối mắt”. Ở đây chúng ta đều cảm nhận tốc độ nhanh đến kinh khủng.
Từ xửa từ xưa, nhà thơ Italia Dante Alighieri đã viết câu thơ giản dị chất phác: “Mũi tên đã trúng mục tiêu, dời khỏi dây”. Nhà thơ Dante chỉ khe khẽ đảo lộn quan hệ nhân quả đã khiến chúng ta cảm nhận ra tốc độ. Thay đổi vù vù hơn ba mươi năm của xã hội Trung Quốc hiện ra cho chúng ta một lịch trình phát triển đảo lộn của mối quan hệ nhân quả. Hầu như ngày nào chúng ta cũng sống trong kết quả chen chúc nhau kéo đến, song rất hiếm đi truy tìm nguyên nhân nảy sinh kết quảnày. Thế là mâu thuẫn xã hội và vấn đề xã hội hơn ba mươi năm dồn đến như cỏ tạp lan xanh, bị che lấp bởi tư tưởng lạc quan do kinh tế phát triển nhanh chóng đem lại. Công việc của tôi lúc này là làm ngược lại, xuất phát từ kết quả trông vào có vẻ rực rỡ hôm nay đi tìm những nguyên nhân có thể khiến người ta lo ngại. Trên chặng đường tôi tìm ngược trở lại, nỗi bất hạnh Homeros nói và nỗi lo âu hoạn nạn Mạnh Tử nói sẽ đi đến trước mặt.
Cho nên, nếu nói về Trung Quốc đương đại mặt nào cũng tốt đẹp, thì câu chuyện của tôi sẽ khó tiếp tục, sẽ còn dài dằng dặc hơn “Nghìn một đêm lẻ” của Ả Rập. Đây cũng là lý do tại sao tôi phải chọn mười từ vựng. Bởi vì mười từ vựng cho tôi mười đôi mắt để tôi chăm chắm nhìn Trung Quốc từ mười hướng.
Tôi đòi hỏi công việc mình làm phải đơn giản rõ ràng nổi bật trọng điểm, bắt đầu lối kể chuyện từ cuộc sống thường ngày mắt thấy tai nghe tường tận.
Cuộc sống thường ngày xem ra có vẻ nhàn nhạt vụn vặt, thực ra rộng lớn muôn hình muôn vẻ, chúng phong phú, rộng khắp và xúc động lòng người. Chính trị, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, ký ức, tình cảm, ham muốn, riêng tư thầm kín... đều lên tiếng gọi tôi trong đời sống thường ngày của chúng ta. Đời sống thường ngày giống như cánh rừng già bao la rộng lớn, vừa khéo Trung Quốc có câu tục ngữ: “Rừng lớn loài chim nào cũng có”.
Tôi viết tác phẩm này giống như một người lái xe bus qua lại. Ga bắt đầu cũng là ga chót. Chiếc xe bus chở đầy câu truyện xuất phát từ đời sống thường ngày của người Trung Quốc, qua các ga chính trị, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, ký ức, tình cảm, ham muốn và riêng tư thầm kín, lại còn phải qua một số làng quê không rõ địa danh, có những câu truyện xuống xe giữa đường, có những câu truyện lên xe dọc tuyến, cứ thế sau khi lặn lội đường dài lên lên xuống xuống, chiếc xe bus của tôi lạị trở về trong đời sống thường ngày của người Trung Quốc.
Tôi hi vọng ở đây có thể cô gọn chuyện thao thao bất tuyệt của Trung Quốc đương đại vào trong mười từ vựng đơn giản. Tôi hi vọng lối kể chuyện vượt qua thời gian và không gian của mình có thể hòa quyện làm một những câu truyện thiết thân, những vốn sống, kinh nghiệm cảm tính và sự phân tích lý trí. Tôi hy vọng nỗ lực công tác của bản thân có thể mở ra một lối kể chuyện không hư cấu và sáng rõ trong xã hội rối rắm phức tạp và thay đổi long trời lở đất của Trung Quốc đương đại.
Nếu sự siêu phàm thoát tục của Homeros và nỗi đau sát sườn của Mạnh Tử ảnh hưởng đến bước đi của tôi tới mục tiêu, thì từ đáy lòng tôi xin tỏ lời cảm ơn.
Ngày 17 tháng 8 năm 2009.
![]() |
| Một bản sao của đài tưởng niệm ở thành phố Wrocław của Ba Lan mô tả một chiếc xe đạp bị phá hủy và đường ray xe tăng là biểu tượng của cuộc biểu tình tại Thiên An Môn |
人民 Nhân Dân
1. NHÂN DÂN
Khi viết từ vựng này, tôi cứ cảm thấy mình viết sai, hay nói một cách khác viết không được giống “nhân dân” cho lắm. Tôi nhắm mắt nghỉ một lát. Sau khi mở mắt ra, tôi cảm thấy nó đã có một chút giống. Tôi lại nhắm mắt, khi tôi mở mắt ra lần nữa, cuối cùng xác định mình không viết sai. Từ vựng này là thế đấy, nó khiến tôi lúc thì xa lạ, lúc thì thân quen.
Tôi không biết trong Hán ngữ ngày nay còn có từ vựng nào kỳ lạ như số phận của “nhân dân”. Nó không ở đâu là không có, đồng thời lại bị con người nhìn mà không thấy. Trung Quốc ngày nay, hình như chỉ có các quan chức là mở mồm ngậm mồm nói “nhân dân”, còn nhân dân rất hiếm đề cập từ vựng này, hay nói cách khác đang quên nó. May nhờ có nước bọt của các quan chức, từ vựng này mới tỏ ra mình vẫn tồn tại.
Trước kia từ vựng này đã từng hiển hách biết chừng nào. Nhà nước chúng ta gọi: “Nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa”. Mao chủ tịch nói: "Vì nhân dân phục vụ”. Lúc bấy giờ tờ báo quan trọng nhất gọi là “Nhân dân nhật báo”. Những cá nhân chúng ta, ngày ngày nói: Từ sau năm 1949 nhân dân đã trở thành người làm chủ.
Trong những năm tháng thơ ấu của mình, “Nhân dân” là từ vựng thiêng liêng giống như “Mao Chủ tịch”. Lúc tôi vừa học chữ, trước hết là học hai từ vựng này, sau đó mới học viết tên mình và tên bố mẹ. Tuổi thơ ấu tôi đã từng cho rằng: “Nhân dân chính là Mao Chủ tịch, Mao Chủ tịch chính là nhân dân”.
Thời đó đang diễn ra cuộc đại cách mạng văn hoá, tôi dương dương đắc ý tuyên bố phát minh của mình khắp nơi, tôi nhìn thấy rất nhiều nét mặt nghi hoặc, hình như họ cảm thấy phát minh của tôi còn phải bàn thêm, nhưng không ai tỏ vẻ phản đối rõ ràng. Lúc bấy giờ ai cũng hết sức cẩn thận giữ mồm giữ miệng, chỉ cần nói sai một câu, là sẽ có thể trở thành phần tử phản cách mạng, từ đó mà tan cửa nát nhà. Khi bố mẹ tôi nghe thấy phát minh của tôi, cũng tỏ vẻ như vậy, bố mẹ hết sức thận trọng nhìn tôi nói vòng vo: câu này hình như nói không sai, nhưng tốt nhất không nói.
Thứ Hai, 16 tháng 9, 2019
J S Bach Air on the G String
Bach viết 4 bản Suite cho dàn nhạc, trong đó nổi tiếng nhất bản số 3 (D-dur BWV.1068) nhờ sự hùng vĩ, sức mạnh và đặc biệt là vẻ đẹp phi thường của chương II vẫn được biết đến với cái tên Air on G-string. Chương này được chuyển biên cho các loại nhạc cụ khác nhau độc tấu, nhưng không có bản nào có được âm thanh trọn vẹn đầy đặn bằng bản gốc cho dàn dây của chính tác giả.
Air on the G String (Suite No. 3, BWV 1068) J. S. Bach, original instruments
J S Bach Air on the G String, Sarah Chang
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




