Thứ Năm, 9 tháng 2, 2017

Tích “Hòa hợp nhị Thánh”


Đĩa vẽ tích “Hòa hợp nhị Thánh”, niên đại thế kỷ XVIII
Theo truyền tích Trung Hoa, vào đời nhà Đường có hai nhà sư tên Hàn Sơn và Thập Đắc là bạn đồng tu  tại chùa Quốc Thanh. Sau một thời gian xa cách, Thập Đắc đi đến Tô Châu tìm Hàn Sơn. Nghe tin bạn đến, Hàn Sơn vội bẻ một cành hoa sen đang nở làm vật đón bạn. Gặp nhau hai người vô cùng hoan hỷ, Hàn Sơn lấy hoa sen phủi bụi trên áo cho Thập Đắc. Thập Đắc mở bình bát mới khất thực được mời Hàn Sơn cùng ăn. Về sau hai người cùng về ẩn tu ở Hàn Sơn tự, thường cứu giúp, hóa độ quần chúng. Do cảm niệm ân đức của Hàn Sơn và Thập Đắc cùng phong thái tự tại giải thoát nên dân gian thường vẽ hình ảnh Hàn Sơn  tay cầm hoa sen, Thập Đắc tay cầm bát cơm ngụ ý sự chia sẻ và hòa hợp. Đến đời Ung Chính nhà Thanh, vua Ung Chính hạ chiếu phong Hàn Sơn là Hòa Thánh, Thập Đắc là Hợp Thánh, cho nên bức họa thường đề là “Hòa hợp nhị Thánh”.

Trương Lương dâng giày

Trương Lương nhờ nhẫn nại dâng dép 3 lần cho Ông Tiên Huỳnh Thạch Công mà được trao sách quí. Nhờ học sách nầy mà Trương Lương làm Quân Sư cho Hán Lưu Bang. 

Gốm sứ



















































Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Quả đào, quả phật thủ trên gốm sứ

Quả đào, quả phật thủ.
Bình thời Thanh - Ung Chính, men trắng vẽ men lam,
motif 9 quả đào. 9 (cửu) phát âm giống jie có nghĩa là lâu dài.
Quả đào là biểu tượng ưa thích của người Hoa về sự trường tồn (thọ). Sự kết nối về biểu trưng này có lẽ bắt nguồn từ câu huyện thần thoại của Lão giáo nói về các quả đào tiên được trồng trong vườn của Tây Vương Mẫu. Cứ mỗi 6000 năm trong sinh nhật bà, Tây Vương Mẫu lại tặng các vị khách trên thiên đình những quả đào tiên này. Những chuyện thần thoại nổi tiếng khác có gắn kết với biểu trưng “thọ” là về vị tiên nữ Ma Cô (麻姑) và tiên nam Đông Phương Sóc – (東方朔. Nhưng vị tiên nổi tiếng nhất biểu tượng cho “thọ” chắc chắn phải là Thọ Tinh (寿星), ông “thọ” thường được vẽ cầm trên tay một quả đào lớn. Cùng với hai vị thần tiên khác là Phúc Tinh và Lộc Tinh(福星) và Luxing(禄星), họ gói trọn các ước muốn của người Hoa từ thời xa xưa về hạnh phúc, bổng lộc tài sản và trường thọ.
Một tiêu bản khác với 5 điều chúc phúc
đại diện bởi 5 con dơi vẽ bao quanh Thọ Tinh cưỡi hạc tay cầm quả đào.
Một đồ án trang trí được ưa chuộng là sự kết hợp quả đào và những con dơi (biểu tượng cho hạnh phúc) để chuyển tải mong ước về hạnh phúc và sống thọ. Một quả đào được vẽ bao quanh bởi 5 con dơi chuyển tải ý nghĩa của 5 điều chúc phúc cho con người: sống thọ, giàu có, sức khõe, danh giá và một cái chết an lành. Những trang trí có quả đào khác là Thọ Sơn Phúc Hải – shou san fu hai (Longevity like the mountain, happiness boundless as the sea – ví dụ có trong bài biểu tượng về con dơi) và Tam Đa – san duo (ba điều dư dật – three abundances).



Tam Đa có nghĩa là ba điều dư dả: nhiều con trai, hạnh phúc/ của cải và sống thọ. Trong mô típ ở trên, quả lựu với thuộc tính có nhiều hạt đại diện cho sự sinh sôi nảy nở, phúc/lộc được đại diện bởi con dơi và quả phật thủ (mà phát âm nghe giống như phúc thọ – fu shou)


Quả phật thủ có tên như vậy vì trông giống bàn tay của đức Phật và trong tiếng Hoa cũng vậy: foshao (佛手. Nó biểu tượng cho phúc, thọ.
Theo khanhhoathuynga.

Họa tiết hoa trên gốm sứ.


Hoa thủy tiên (narcissus) trong tiếng Hoa được gọi là shui xian (水仙), hoa này nở vào dịp đầu năm và tượng trưng cho vận may.Thường thường được vẽ đi kèm với những biểu tượng về sự trường tồn chẳng hạn như đá shou shi – thọ thạch (寿石)và nấm linh chi cũng được gọi là zhi xian – chi tiên (芝仙) và tre trúc, giống như một thông điệp chúc tụng của thần tiên chúc cho ai đó trong ngày sinh nhật có được một cuộc sống thọ.


Đĩa doucai thời Khang Hy vẽ vị quan tay cầm bông hoa quế, biểu thị đổ đầu khoa thi
Hoa quế (hoa đan quế)
Ostmanthus (桂花), Hoa quế, là một loại hoa Châu Á nổi tiếng vì hương thơm của nó. Trong tiếng Hán , từ quế – gui (桂) phát âm tương tự như khôi – kui (魁) trong các cụm từ khôi nguyên, tam khôi, á khôi, … hay tương đương với từ “top” trong các cụm từ top three, top ten,… có nghĩa là đổ đầu trong kỳ khảo hạch tại kinh thành. Thường thường ý nghĩa của nó được chuyển tải bằng cách vẽ một nho sĩ tay cầm một cọng hoa quế.
-------------------------------------------------------------

Cúc Điệp

Đĩa có niên đại thời Lê – Trịnh, vẽ Cúc – Điệp 
chàm Hồi lam xanh thẫm trên nền màu trắng của men sứ,
toàn lành phủ men kín, trôn có hiệu đề chữ Thọ.
Bức họa vẽ Cúc Điệp ở một phía của bề mặt đĩa tạo ra sự tương phản giữa khoảng không gian dầy đặc họa tiết với những khoảng để trống tạo cảm giác thoáng đãng cùng lối vẽ giản dị.Ta thấy Cúc được vẽ cách điệu với rất nhiều lá xanh, bên trên là hai bướm đang bay là là, nhún nhẩy lúc đậu lúc bay tìm mật hoa.