Trải Trung Sơn
Năm Gia Khánh thứ tư, nhằm năm
Kỷ Mùi, (Tức năm 1799) Trung Sơn vương Thượng Mục của nước Lưu
Cầu qua đời. Thế tử là Thượng Triết lại đã mất trước đó bảy năm, nên thế tôn là
Thượng Ôn dâng biểu xin tập phong. Triều đình rủ thương đến nơi phiên quốc xa
xôi, ban cho ân mệnh, hoàng đế ra hiên với gặp, mà đặc ý sai kẻ nho thần sang sứ.
Vì thế, tiên sinh Triệu Giới
Sơn, tên là Văn Khải, người Thái Hồ, giữ chức Hàn lâm viện tu soạn được sung
làm Chánh sứ. Tiên sinh Lý Hòa Thúc, tên là Đinh Nguyên, người Miên Châu, giữ
chức Nội các trung thư làm Phó sứ, cùng đi sứ Lưu Cầu. Giới Sơn gửi thư hẹn tôi
cùng đi, nhưng tôi vì cớ cha mẹ già, rất ngại phải đi xa. Kế đó lại nghĩ, mình
rong ruổi theo việc quan hai mươi năm, đã thấy khắp bắc nam, nhưng vẫn chỉ là
quanh quẩn xó vườn, chứ chưa từng được thấy nơi cõi khác, cũng nên trải xem những
thắng cảnh xa xôi, để mở mang hiểu biết thêm nhiều điều mới lạ. Tôi bèn bẩm với
cha, ông cũng bằng lòng cho đi theo. Cả thảy có năm người tòng khách cùng đi
là: Vương Văn Hạo, Tần Nguyên Quân, Mâu Tụng, Dương Hoa Tài, và tôi.
Ngày sóc, tháng Năm, năm Gia
Khánh thứ năm, dương cờ tiết lên đường, gió lành đưa buồm, cá thần đỡ lái, qua
sáu ngày đêm, thì tới nước Lưu Cầu.
Phàm những điều tôi được mục
đích, đều viết cả vào sổ tay: nào núi sông lạ đẹp, nào sản vật lạ lùng, nào điển
chương quan lại, nào tiết hạnh gái trai. Văn chẳng cốt lạ kỳ, việc chỉ ghi sự
thực. Riêng hiềm thô lậu, lấy gầu đo biển đành lòng Muốn phải truyền ngôn, dựng
gác lửng trời cứ nói, vậy.
Ngày sóc tháng Năm, vừa vặn nhằm
ngày Hạ chí, thì cùng khoác tay nải lên thuyền. Trước giờ, mỗi khi sang sách
phong cho Trung Sơn vương đều chọn ngày Hạ chí, nhân gió tây nam mà lên đường,
còn khi về thì lấy ngày Đông chí, để thuận gió đông bắc, gió luôn chuẩn tín như
thế. Thuyền có hai chiếc, Chánh sứ và Phó sứ cùng ngồi một chiếc, thân thuyền
dài bảy thước, đầu đuôi để không ba trượng, sâu một trường ba thước, rộng hai
trương hai thước, so với những thuyền đi sách phong trước nay thì nhỏ hơn chừng
một nửa. Trước sau thuyền đều có một cột buồm, dài sáu trường có dư, chu vi ba
thước, trước khoảng giữa có một cột buồm, dài mười trượng có dư, chu vi sáu thước,
làm bằng gỗ phiên mộc. Tất thảy thuyền có hai mươi tư khoang, đáy khoang trữ
đá, tải trọng chở được hơn mười một vạn cân, cửa thuyền đặt một đại pháo, hai
bên mạn tả hữu mỗi bên đặt hai đại pháo, binh khí thì để cả trong khoang. Dưới
cột buồm lớn, để một cây gỗ to làm ròng rọc, khi dời pháo, lên buồm đều phải
dùng đến ròng rọc này. Tay chèo có mấy chục người. Trên mặt khoang thuyền là
chiến đài, lầu ở cuối thuyền là tướng đài, dựng cờ xí, xếp khiên mây để làm sảnh
sự của sứ thần. Phía dưới tức là buồng lái, phía trước lái có khoang nhỏ, đổ đầy
cát đặt la bàn. Khoang giữa có cầu thang đi xuống, cao độ sáu thước, là chỗ buồng
ăn của đoàn sứ. Khoang trước chứa thuốc súng, chứa gạo, khoang sau để binh lính
ở. Sau đuôi thuyền là khoang chứa nước, tất cả có bốn bể chứa. Thuyền thứ hai
cũng tương tự như thế, mỗi thuyền ước có hơn hai trăm sáu chục người, thuyền nhỏ
người đông, đến nỗi không có chỗ trống cắm dùi nào. Gió mùa đã đến, nếu lại muốn
đổi thuyền khác, thì e là sẽ kéo dài mất thời nhật vậy.
Ngày mồng hai, giờ ngọ, dong
thuyền ra đậu ở cửa Ngao Môn. Giờ thân, có mây lành hiện ở phía tây, năm sắc vấn
vít, vừa vặn chiếu ánh với cờ xí dựng trên lâu thuyền, những người trông thấy
chẳng ai không tấm tắc là điềm lành kỳ lạ. Đám mây khi như miếng ngọc khuê đen,
khi như miếng ngọc kha trắng, khi như nấm linh chi, khi như giống lúa ngọc, khi
như thứ lụa đỏ, khi như thứ sa tía, khi như lá văn hạnh, khi như quả hàm đào,
khi như cỏ trên đồng mùa thu, khi như sóng sông Tương tiết xuân. Trước nay tôi
chỉ được đọc trong bài phú của Trường Khanh, đến nay mới rõ cái diệu kỳ trong sự
hình dung vậy.
Họa sĩ Thi Sinh, vẽ bức tranh
Hàng hải hành lạc đồ, đẹp lắm. Tôi trông thấy bức vẽ ấy, thì chỉ còn biết gác
bút. Hương Nhai dẫu vẽ giỏi, cũng chẳng thể làm được đến như vậy.
Ngày mồng bốn, giờ hợi thì nhổ
neo, nương theo sóng triều đi đến tháp La Tinh. Biển rộng trời cao, nhìn hết tầm
mắt cũng không biết đâu là bờ bến. Vân nương - vợ tôi, khi trước đi Thái Hồ, có
nói được thấy cảnh trời đất to rộng, thực không uống một đời. Giá như nàng lại
được trong cảnh biển trời này, thì không biết còn vui sướng đến đâu nữa?
Ngày mồng chín, giờ mão, đã thấy
núi Bành Gia, ba ngọn sắp thành hàng phía đông cao hơn, phía tây thấp dần. Giờ
thân thì thấy Điếu Ngư đài, ba ngọn cách rời nhau đứng sững, như cái giá gác
bút, đều là cốt đá cả. Bấy giờ nước trời một sắc, thuyền phẳng lặng mà đi, chỉ
thấy vô số chim trắng, bay lượn quanh thuyền như đưa tiễn, chẳng biết chúng từ
đầu bay tới nữa.
Đêm xuống, ánh sao nghiêng
nghiêng nằm ngang, bóng trăng vỡ vụn, khắp mặt biển là những đốm lửa, ẩn hiện nổi
chìm, chính như trong bài Hải phú của Mộc Hoa (Mộc Hoa: tự Huyền Hư, người
Quảng Xuyên, nhà từ phú đời Tây Tấn, từng làm Chủ bạ cho Thái phó Dương Tuấn.
Hiện còn bài Hải phủ, được Tiêu Thống đời Lương thu thập vào tập Văn tuyển) nói
là: “lửa trăng lặng chìm” vậy.
Ngày mồng mười, đúng giờ thìn,
thì thấy đảo Xích Vĩ. Đảo có hình vuông mà sắc đỏ, hai phía đông tây nhô cao,
mà giữa thì lõm xuống, giữa khoảng lõm ấy lại có hai ngọn núi nhỏ. Thuyền đi
qua phía bắc núi, có hai con cá lớn, kèm hai bên thuyền mà đi, không trông thấy
đầu đuôi, lưng đen mà hơi xanh, tựa cây cổ thụ lớn tới mười ôm, áp ngay bên cạnh
thuyền. Người trên thuyền đều cho là sắp nổi gió lớn, nên cá đến bảo vệ sẵn trước.
Giờ ngọ, mưa to sấm lớn ầm ầm, gió chuyển hướng đông bắc, lái không làm chủ nổi
thuyền nữa, khiến thuyền nghiêng ngả thậm nguy. May mà có cá lớn kèm đỡ bên
thuyền, nên vẫn không hề gì. Bỗng nghe một tiếng sét nổ vang, rồi mưa gió chợt
ngừng. Đến giờ thân, gió lại chuyển hướng tây nam và thổi mạnh, cả thuyền ai nấy
cũng đưa tay lên vỗ trán cho là được thần linh phù trợ. Tôi làm hai bài thơ để
ghi lại việc ấy. Thơ rằng: Bình sinh dạo gót khắp Tề Châu; Thuyền sứ nay theo
cuộc viễn du. Cá biết phù nguy, trời gió thuận; Mây hồng góc bể ấu Lưu Cầu.
Sóng bạc trùng trùng núng cõi
hoang; Ngoảnh động, trời biển những mênh mang. Thư sinh này dịp thêm gan dạy
Tay nắm phong lối, chí khí ngang.
Tự cho là đã viết được gần hết
quang cảnh lúc bấy giờ vậy. Ngày 11, giờ ngọ, đã thấy núi Cô Mễ. Núi có tất cả
tám lớp, mỗi lớp có một, hai ngọn, hoặc tách rời, hoặc nối liền nhau. Giờ mùi,
gió lớn mưa to như trút nước, song tuy mưa lớn, nhưng giá thuận. Giờ dậu, thuyền
đã tới gần núi. Người Lưu Cầu cho núi Cô Mễ nhiều đá ngầm, nên đêm tối thì
không dám vào, phải đợi đến sáng mới cập được, nhưng cũng không thả neo, chỉ hạ
hết buồm, neo thuận theo chiều gió, thì thuyền cứ bập bềnh nhưng không thể lùi
lại được. Giờ tuất, thuyền nổi hiệu lửa, trên núi Cô M cũng có người làm tín hiệu
đáp lại. Hỏi ra mới biết, đó là ám lệnh của người Lưu Cầu, ban ngày thì phóng
pháo, ban đêm thì nổi lửa, trong phép tắc gọi là được tin, chính là việc này.
Ngày mười hai, giờ thìn, qua
núi Mã Xỉ (răng ngựa).
Núi như răng lược xen cài vào
nhau, bốn đỉnh đứng rời mỗi nơi một ngọn, tựa như con ngựa đang phi trên không
vậy. Lại đi bảy canh (Canh: mỗi canh là khoảng thời gian đi được 60 dặm) nữa,
thì thuyền theo hướng giáp dần,(Tức hướng đông đông bắc) đến cảng
Na Bá. Ngoảnh lại nhìn thấy thuyền đón sổ sách phong đã ở phía sau, ai nấy cùng
nhau mừng rỡ. Trước nay, theo lịch trình đường đi, còn thấy có qua Tiểu Lưu Cầu,
núi Kê Lung, đảo Hoàng Ma. Những hành trình lần này không thấy những nơi ấy.
Tôi hỏi viên hỏa trưởng (Tức thuyền trưởng) người Lưu Cầu, tuổi
đã sáu mươi, từng đi biển qua lại Trung Quốc tám lần, mỗi lần đi lại xem xét
kĩ, nên rất chuẩn xác. Ông ấy nhận rằng lối đi cũ không ra ngoài hai hướng
thìn, mão, mà riêng trong hướng ất mão thì kim la bàn lại dịch nhiều về hướng ất
(Hướng mão là hướng chính đông, các hướng ất, thìn thì lần lượt dịch dần xuống
đông nam mỗi hướng 15 độ) hơn. Vì vậy lần này mới đi tắt nhanh hơn,
và cũng chỉ qua ba núi là đến Cô Mễ. Hướng la bàn, đầu tiên là theo hướng thìn,
sau khi đi được bảy canh, thì chuyển hướng ất mão, rồi sau đó chỉ đi hướng ất,
qua Cô Mễ rồi lại theo hướng ất mão, duy có việc chỉ dùng cây hương để xác định
“canh” thì thật khó mà chuẩn xác được. Tôi nghĩ thầm, từ Ngũ Hổ Môn đến Quan Đường,
tính dặm đã có định số, nhân theo biểu tính giờ mà chia ra, thì mỗi giờ ước đi
được một trăm mười dặm. Từ giờ mùi, ngày mồng tám khởi hành, tính giờ trong mười
hai ngày, tổng cộng năm mươi tám giờ. Ngày mồng mười gặp gió lớn, phải dừng mất
hai giờ, đêm ngày mười một sợ đâm phải đá ngầm, dừng mất ba giờ, thời gian đi
thực là năm mươi ba giờ, tính ra thì phải là năm ngàn tám trăm ba mươi dặm,
nhưng tính ra đến cảng Na Bá, đường thực đi lại là sáu ngàn dặm có dư. Theo như
lời hỏa trưởng Lưu Cầu nói: Đi thuyền trên biển, gió nhỏ cố nhiên không thể đi
được, nhưng gió lớn quá cũng không thể đi. Gió lớn thì sóng lớn, sóng lớn lại cản
thuyền, tiến được một thước thì lại lùi hai tấc. Chỉ có gió độ bảy phân, sóng độ
năm phân, là phù hợp cho thuyền đi nhất, lần đi này chính gặp được như thế, xưa
nay qua biển, chưa có lần nào thuyền đi được bình yên như lần này. Khi ấy, người
Lưu Cầu chèo mấy chục cái thuyền độc mộc, dùng dây chão kéo thuyền đi, ba lần gặp
đón sứ sách phong theo đúng nghi thức. Giờ thìn, vào cảng Na Bá. Khi trước, vào
ngày mồng mười, thuyền thứ hai nhìn không thấy đâu cả, đến đây thì hóa ra đã tới
trước rồi. Thuyền đón sách phong cũng theo sau tới nơi, thảy đều đậu cả trước
ngôi chùa bên bờ bể. Người hỏa trưởng nói: Trước nay chưa có ba thuyền đến cùng
một lúc bao giờ.
Giờ ngọ thì lên bờ, nhân sĩ cả
nước Lưu Cầu đều tụ tập đứng xem ở hai bên đường. Thế tôn dẫn bá quan ra nghênh
chiếu như nghi thức. Thế tôn tuổi mới mười bảy, vẻ người trắng trẻo mà đầy đặn,
phong độ ung dung, viết chữ đẹp, rất có bút ý của Tùng Tuyết (Tùng Tuyết:
tức Triệu Mạnh Phủ - nhà thư pháp nổi tiếng đầu đời Nguyên của Trung Quốc. Ông
vốn dòng dõi tôn thất nhà Tống, sau làm quan nhà Nguyên, ngoài thư pháp, ông
còn là một họa sĩ). Xét sách Trung Sơn thế giám, sứ giả nhà Tùy là Vũ kỵ
úy Chu Khoan đến nước ấy, giữa muôn lớp sóng dồi, thấy địa hình tựa như con cầu
long nổi trên mặt biển, nên mới gọi là Lưu Cầu (流虬),
nhưng trong Tùy thư lại chép là Lưu Cầu (流求), Tân
Đường thư chép là Lưu Quỷ (流鬼), Nguyên sử lại viết là Li Cầu
(璃求), đến đời Minh thì viết là Lưu Cầu (璃球). Thế
giám lại chép là năm Diên Hựu nguyên niên đời Nguyên, nước Lưu Cầu chia ra làm
ba đại lý, (Đại lý: đơn vị hành chính ở đó. Trong Sách phong Lưu Cầu quốc
ký ở phần Phụ lục Có nhắc tới là ba phủ) cộng mười tám nước, hoặc
xưng là Sơn Nam vương, hoặc xưng là Sơn Bắc vương. Tôi chơi trải gần khắp Nam
Sơn, Trung Sơn, chỉ là một thôn lớn, chưa bằng hai làng, nhưng đã xưng là nước,
chẳng cũng khoa trương lắm ru? Người Lưu Cầu mỗi khi nói gió lớn, tất gọi là
đài cụ. Xét, thơ Hàn Xương Lê có câu: “Lôi đình bức cụ út” (Sấm sét bức bão
giông), thì “út” là cùng xưng chung với “cụ” vậy. Sách Ngọc thiên chép “Út, là
gió lớn vậy. ừ bút thiết.” Sách Đường thư - Bách quan chí chép: “Có đạo Út Hải.”
có lẽ là chép lầm Lưu Cầu ra vậy. Sách Tùy thư viết: “Lưu Cầu có các giống hồ
sói, gấu beo.” Nay xem thực là không có. Lại nói là không có trâu, dê, lừa, ngựa.
Lừa thì đúng là không có, nhưng ngoài ra thì lục súc ở đó chẳng thiếu giống gì.
Mới hay, chẳng thể tin cả vào sách được vậy.
Quán Thiên sứ ở hướng tây, phỏng
theo như phủ thự của Trung Hoa, dựng hai cột Cờ, trên treo lá cờ vàng sách
phong. Có bình phong, có đông tây viên môn, hai bên tả hữu có đình để trống, có
phòng trực ban. Trên cửa lớn có đề ba chữ Thiên sứ quán, trong cửa là bốn gian
buồng có hành lang. Cửa nghi môn đề là Thiên trạch môn, là chữ của sứ thần đời
Vạn Lịch nhà Minh, Hạ Tử Dương đề, chỗ ghi năm tháng vì lâu ngày nên đã mòn mờ,
được sứ giả trước kia là Từ Bảo Quang(Từ Bảo Quang tự Trực Lượng, người
Trường Châu, Giang Tô, làm chức Biên tu đời Khang Hy. Năm Khang Hy thứ năm mươi
bảy (1718), ông phụng chỉ làm Phó sứ sang sách phong Lưu Cầu, trong thời gian
đó ông có soạn sáu quyển Trung Sơn truyền tín lục) bổ lại. Trong cửa,
hai bên tả hữu, mỗi bên có mười một gian phòng, giữa là đường đi, phía tây đường
có một cây đa, lớn đến mười ôm, do chính tay ông Từ trồng. Cuối cùng phía tây
là nhà bếp, có năm gian đại đường, đề biển là Phu mệnh đường, là chữ của sứ giả
Uông Tiếp (Uông Tiếp (1626-1689): tự Thứ Chu, người Hưu Ninh, An Huy, tính
thẳng hào sảng, ham học hỏi. Năm Khang Hy thứ mười tám (1679) sau khi đậu khoa
Bác học hồng nho, ông được trao chức Hàn Lâm viện kiểm thảo, Toản tu Minh sử.
Năm Khang Hy thứ hai mươi hai (1683) ông làm Chánh sử sang sách phong Lưu Cầu) trước
kia đề. Dịch lên phía bắc là biển ngạch bốn chữ Hoàng luân tam tích của Từ Bảo
Quang viết. Sau đại đường có nhà nối thông xuống nhị đường, nhị đường có năm
gian, trong đó là nơi Phó sứ tụ họp ăn cơm, sứ giả trước là Châu công (Châu
công ở đây tức Châu Hoàng, người Phầu Châu, đỗ Tiến sĩ năm Đinh Tỵ, niên hiệu
Càn Long, làm quan đến Binh bộ Thượng thư. Năm Càn Long thứ 21 (1756) ông từng
làm Phó sứ sang sách phong cho Trung Sơn vương Thượng Mục, có soạn sách Lưu Cầu
quốc chí lược) đề mấy chữ Thanh giáo động tiệm. Hai bên tả hữu tức
là buồng ngủ. Sau nhị đường, phía nam, phía bắc mỗi bên có một tòa lầu. Lầu
phía nam là chỗ Chánh sứ ở, Uông Tiếp đề biển là Trường Phong các. Lầu phía bắc
là chỗ Phó sứ ở, sứ giả trước là Lâm Lân Xướng (Lâm Lân Xướng tự Thạch
Lai, hiệu Ngọc Nham, người Bồ Điền, Phúc Kiến, đậu tiến sĩ năm Canh tuất niên
hiệu Khang Hy (1670), làm Trung thứ xá nhân. Năm Khang Hy thứ 22 (1683), ông phụng
chiếu đi sử Lưu Cầu) đề biển là Đình Vân lâu, phía bắc biển có bia
khắc bài thơ do Hải Sơn tiên sinh đề. Chung quang mài đá tảng mà xây tường,
trông phải tới trăm trĩ.(Trĩ: đơn vị đo diện tích tường thành xưa, mỗi khoảng
dài ba trượng, cao một trường thì là một trĩ) Trên tường thảy trồng
thứ cây Hỏa phượng, Can phương, không có hoa, chỉ có gai, tựa như cây roi của
Bá vương, lá tựa lá cỏ Thận hỏa, tục cho rằng nó có thể tránh được lửa, gọi tên
là Cát Cô La. Phía nam sân có giếng nước. Lầu thì trên mái lợp ngói, dưới lát gạch
vuông. Trong sân phẳng như xoa cát, bàn ghế giường màn đều phỏng theo kiểu của
Trung Quốc. Ký Trần cảm hứng làm bốn bài thơ, trong đó có câu: “Cùng nhìn lầu
gác trong mây dựng, Chính thị Bồng Lai ở đảo chơi.” Lại có câu: “Cắt lối, một
thuyền nhờ sức gió; Dương buồm, năm buổi đậu bè trăng.” Ấy đều là nói tình thật
cảnh thật vậy.
Khổng Tử miếu ở thôn Cửu Mễ,
có đại đường ba gian, trong đặt tượng, trông như vương giả đội mũ miện có tua,
hông giắt ngọc khuê. Nhưng thần chủ thì đề là: “Chí thánh tiên sư Khổng tử thần
vị”. Hai bên tả hữu có hai khám, mỗi khám có tượng hai người đứng hầu, mỗi người
trên tay cầm một cuốn kinh, đề là: Dịch, Thư, Thi, Xuân Thu, ấy tức là tứ phối
vậy. Phía ngoài đại đường là đài cao, đông tây đài có mười bậc để đi lên, dựng
hàng rào như cửa Linh Tinh, (Cửa Linh Tinh: tức cửa chính của Văn miếu bên
Trung Quốc) giữa phỏng theo Kích môn, (Kích môn: tức của Thái
miếu đời nhà Minh) dựng bình phong lưng lửng để ngăn người đi. Ngoài
nữa, sát bên mép nước là tường hoa. Phía đông đại đường là Minh Luân đường,
phía bắc đại đường thờ Khải thánh. (Tức Thúc Lương Ngột - cha của Khổng Tử) Những
học trò ở Cửu Mễ ai học giỏi, đều được cho vào học ở đó. Chọn những người văn
lý tinh thông để làm thầy, hàng năm đều cấp cho lương bổng. Kỳ Đinh tế, cũng giống
như nghi thức của Trung Quốc. Tôi kính đề một bài thơ để tỏ lòng ngưỡng mộ rằng:
Tràn ngập thanh danh khắp bốn
bề;
Đảo xa cũng biết lễ tiên sư.
Miếu đường nghiêm túc nào khuê
miện;
Thánh giáo giờ đây khắp cửu
di.
Các chùa trong nước, thì có
chùa Viên Giác là lớn nhất. Qua cây cầu trên hồ ngắm sen, có ngôi đình thờ Biện
Tài thiên nữ, tức là Đẩu mụ vậy. Sắp vào cửa, lại có ao gọi là Viên Giám, dưới
ao rong tảo dọc ngang, ấu sen chen chúc. Cửa chùa cao rộng, có lầu ở hai bên
cánh. Tả hữu có bốn pho tượng Kim Cương, quy cách cũng tương tự Trung Quốc. Phật
điện bảy gian. Đi tiếp vào sâu nữa, lại đến đại điện cũng bảy gian, gọi là Long
Uyên điện. Giữa là Phật đường, hai bên tả hữu thờ các bài vị, vừa là thần vị
các bậc tiền vương, vừa là thần vị của tổ tiên đời xa của nhà vua. Dãy bên trái
là phương trượng, dãy bên phải là nhà khách, đều cho trải chiếu, xung quanh cạp
khẩu vải, bề mặt rất phẳng mà sạch, gọi là “Đạp cước miên”. Phía trước phương
trường là đình Bồng Lai. Phía trái là Hương Tích trù (bếp), bên cạnh có giếng,
tên gọi là Bất Lãnh Tuyền. Phía phải nhà khách là dãy núi Cổ Tùng, dị thạch lởm
chởm, la liệt giữa những cây tùng. Chái bên tả là nhà Tăng, chái bên hữu là
hang Sư Tử. Phía nam nhà Tăng có lầu Nhạc lâu, phía nam lầu có vườn, trồng các
loại cây hoa. Đó là đại khái về cảnh đẹp của chùa Viên Giác vậy.
Lại có chùa Hộ Quốc, là nơi Quốc
vương cầu mưa. Trong khám có tượng thần, sắc đen mà ở trần, tay chống kiểm,
hình trạng rất hung dữ. Có chuông, được đúc năm Cảnh Thái thứ 7 đời Minh trước
đây. Sau chùa trồng nhiều cây chuối đuôi phượng, còn có một tên khác là thiết
thụ. Lại ở chùa Thiên Vương, có quả chuông, cũng đúc năm Cảnh Thái thứ 7. Ở
chùa Định Hải, thì có quả chuông, đúc năm Thiên Thuận thứ 3 đời Minh. Còn đến
các chùa Long Độ, Thiện Hưng, Hòa Quang, thì hoang phế không có gì để nói cả.
Nước này, các món hải vị có rất
nhiều đặc sản, hiếm khi thấy có ở Trung Quốc. Có thứ gọi là Thạch cự (bạch tuộc),
trông tựa như con cá mực mà lớn hơn, bụng tròn như con nhện, hai râu tám tay, mọc
xúm xít ở hai bên vai, trên có gai tựa hải sâm, không có chân, không có mai vỏ
như bào ngư. Ở Đăng Lai có thứ gọi là Bát đới ngư, lấy hình trạng mà xét, thì
có lẽ chính là Thạch cự, hoặc cũng là một loại khác của cá mực chăng? Lại có thứ
gọi là Hải xà (rắn biển), dài tới ba thước, cứng đơ như khúc củi, sắc đen, hình
trạng rất dữ tợn. Người đất ấy nói rằng có thể sát trùng, khỏi bệnh kinh niên,
hết bệnh tràng nhạc (bệnh nổi hạch quanh cổ), tựa như loại dị xà ở Vĩnh Châu,
người ở đó rất trọng, coi là một món quý. Lại có thứ gọi là Hải đảm, tựa như
con nhộng, bỏ da lấy thịt, giã nát bỏ vào hũ nhỏ, có thể dùng ăn được.
Lại có thứ ốc ký sinh,(Đây
tức là con cua kí cư, hay còn gọi ốc mượn hồn) lớn nhỏ không nhất định,
dài ngắn cũng khác nhau, đều mang vỏ mà đi, trong vỏ ốc có con cua, tám chân
hai càng, chân thì bốn cái lớn, bốn cái nhỏ, dùng chân lớn mà đi lại, càng cũng
một cái lớn, một cái nhỏ, cái nhỏ thường ẩn, cái lớn dùng để gắp lấy thức ăn.
Khi chạm vào nó, thì tất cả mấy cái chân đều có hết vào vỏ, chỉ còn cái càng lớn
đậy ngoài miệng ốc, đó chính là một loại cua, mà có tính như ốc vậy. Trong bài
Hải phú có chữ “tỏa kiết phúc giải”, nhẽ là giống này chăng? Sách “Thái Bình quảng
ký” nói, con cua chui vào trong vỏ ốc, y như từ trước đã có con cua ở đó vậy.
Nhưng bắt nó bỏ vào trong bát xem nó có gắng thoát thân, dụng lực lôi nó ra khỏi
vỏ, chỉ khoảnh khắc là nó chết, thì lại hóa ra là nó với cái vỏ chẳng thể sống
thiếu nhau vậy. Tạo vật thật khôn lường, khó mà có thể lường được vậy.
Lại có thứ cua cát, mình mỏng
mà dẹt rộng, hai cái càng to hơn thân, mai nhỏ mà khuyết phía trước, khi hai
càng có lại thì vừa vặn vào chỗ khuyết ấy, khít dường không thấy khe hở nào,
tám chân rất ngắn, dưới bụng không có yếm, nên yếm nhọn hay yếm tròn(Giống
cua, con cái thì vếm tròn, che kín phần bụng, con đực thì yếm nhọn, chỉ có một
phần ít ở giữa bung Đây ý nóI, cua đực, cua cái không thể phân biệt) chẳng
thể biện nhận được. Khi nó thấy người thì thụt hai mắt lại, rồi phun nước ra
cao tới hơn một tấc, tựa như tức giận lắm. Lấy cát, nước mà nuôi nó, qua hơn chục
ngày, không ăn uống gì cũng không chết.
Lại có thứ sò, bề ngang đến
hơn hai thước, chu vi tới năm thước, người xưa vẫn gọi là Ốc ngõa tử (mái
ngói), vì rằng vỏ nó vạch lồi vạch lõm tựa như cái mái nhà lợp ngói vậy. Lại có
thứ gọi là Hải mã nhục (thịt ngựa bể), làm thành những miếng mỏng xoăn như phoi
bào, sắc như miếng phục linh, là món ăn quý giá hạng nhất, không dễ có được. Nếu
có được, tất trước tiên đem dâng vua. Hình trạng thứ ấy, mình cá mà đầu ngựa,
không có lông nhưng có chân, da như con cá heo sông. Đó đều là những thứ hải vị
đặc sản vậy.
Hoa quả nước này, cũng có những
thứ không giống với Trung Quốc. Quả chuối thì có hình trạng chỉ như ngón tay, sắc
vàng, vị ngọt, chia thành từng múi như quả bưởi, cũng gọi tên là Cam lộ. Khi mới
chín, sắc quả còn xanh, lấy đường mà phủ lên thì vàng. Hoa nó có màu đỏ, một buồng
dài tới mấy thước, mỗi năm đều trổ năm, sáu nải hoa, kết quả theo như số bông từng
nải. Trung Quốc cũng có chuối, nhưng không nghe thấy nói có ra quả hàng năm,
cũng không có việc lấy tơ chuối mà làm vải, nhẽ là vì đặc tính chúng khác nhau
chăng?
Nguyên liệu làm vải, cùng phép
làm vải, cũng có điểm khác với Trung Quốc. Có loại gọi là Tiêu bố, sắc ngà, rộng
một thước, là loại vải lấy sợi rút từ cây chuối sau khi ngâm nước mà dệt nên,
nhẹ mà sít như vải là. Có loại gọi là Trữ bố (vải sợi gai), trắng mà mịn, rộng
một thước hai thốn, có thể sánh ngang với vải bông. Có loại gọi là Ti bố (vải
tơ), gấp mà mềm như bông, dùng sợi gai làm sợi dọc, tơ làm sợi ngang, là loại vải
đứng đầu ở đó vậy. Sách Hán thư có nói đến “tiêu đồng thuyên cát”, (Loại vải
bề mặt có hoa văn) tức là loại vải này vậy. Có loại gọi là Ma bố, sắc
ngà mà thô, là loại phẩm cấp kém nhất. Người nước ấy giỏi in hoa lên vải, kiểu
hoa văn đa dạng khác nhau, đều là cắt giấy ra làm khuôn, rồi để khuôn lên trên
vải, lấy tro đồ lên, tro khô, bỏ khuôn ra, rồi quét màu vào, đợi khô thì đem giặt,
tro được giặt sạch đi thì hoa văn hiện ra, càng giặt lại càng tươi, có khi áo
đã rách mà màu vẫn không phai. Trong việc ấy tất có cách làm đặc biệt, nhưng họ
giữ bí mật không truyền cho ai biết, cho nên thú vải hoa từ ngoài biển phía
đông vẫn được đặc biệt coi trọng ở đất Mân vậy.
Cây cỏ ở nước này, phần lớn đều
gọi khác với Trung Quốc, tôi lấy làm tiếc vì không mang cuốn Quân phương phổ đi
theo để có chứng cứ mà nhất nhất đối chiếu. Cây La Hán tùng thì đây gọi là Kiên
mộc, cây Đông thanh thì đây gọi là Phúc mộc, Cúc vạn thọ thì đây gọi là Thiền
cúc. Cây Thiết thụ (Tức cây vạn tuế) thì đây gọi là Phượng vĩ
tiêu (chuối đuôi phượng) - vì hình trạng lá nó trông giống như đuôi chim phượng
vậy, lại cũng gọi là Hải tông lư (cây cọ biển), vì tán lá trên đầu cây như tán
cọ vậy. Có người mang cây này đến Trung Hoa trồng trong chậu làm cảnh, thì lại
gọi nó là cây cọ Vạn niên. Cây Phượng lê, loại ra hoa thì gọi là Nam mộc, cánh
trắng trông như hoa sen, mùi hương rất thơm, nhưng không đậu quả; loại không ra
hoa thì gọi là Nữ mộc, nhưng có quả lớn, tựa như quả dưa, ăn được. Có người nói
đó tức là một loài khác trong họ nhà Ba la mật (mít), người Lưu Cầu lại gọi nó
là A đán ni. Cây Nguyệt quất, gọi là Thập lý hương, lá như lá táo, hoa nhỏ sắc
trắng, rất thơm, quả như quả cây Thiên trúc, hơi lớn hơn một chút. Nghe nói, giữa
tháng Hai, quả nguyệt quất chín đỏ, chi chít đầy cây, tựa như thắp lửa, tiếc rằng
tôi chưa được thấy cảnh ấy.
Lưu Cầu nhiều nắng, khí hậu
thường ấm áp, khi ấy đã vào tiết giữa thu mà hoa cỏ vẫn xanh tươi, tiếng muỗi
không hết, hoa lau tràn ngập. Hoa mẫu đơn rừng nở hoa từ tháng Hai, tháng Ba, đến
tháng Tám lại đơm bông dày đặc như bát úp, cánh trắng loang tím, nhụy đen như
nhung, hoa tròn mà lớn, tỏa hương thơm lắm. Dâm bụt thì bốn mùa đều sẵn hoa, có
loại hoa trắng, có loại hoa hai màu đỏ sẫm và hồng phấn. Tôi nhân viết một bài
thơ rằng:
Chợt theo cờ sứ, dạo thuyền
tiên;
Bữa bữa rong chơi ngắm mọi miền.
Khí hậu thường như thuở xuân
muộn;
Bốn mùa hoa nở khắp lâm tuyền.
Ấy cũng là tình thực cảnh thực
vậy.
Người Lưu Cầu rất mê hoa lan,
gọi lan là hoa Khổng Tử, trưng bày trong nhà rất nhiều giống lạ. Có giống phong
lan, lá so với lan thường dài hơn một chút, đan tre làm chậu, treo ở trước gió,
là lập tức chúng sinh sôi. Lại có thứ Danh Hộ lan, lá tựa lá quế mà dày, cuống
dài như ngón tay, mỗi một giò hoa có tám, chín bông, thường tháng Tư thì nở,
hương thơm hơn lan bình thường, giống lan này sống trên vách đá núi Danh Hộ(Tức
núi Nago), nên không cần đất nước, chỉ cần gá trên chục cây, hoặc bọc
trong xơ cọ mà treo lên, là đủ để xanh tốt. Lại có thứ Túc lan, còn gọi là Chỉ
lan, lá tựa hoa đuôi phượng, hình trạng hoa như viên trân chân. Có thứ Bổng
lan, sắc xanh, cành như san hô, không có lá, hoa mọc từ các chạc nhánh ra, tựa
như lan thường mà nhỏ, cũng sống gửi trên thân cây gỗ. Lại còn loại Tây biểu
tùng lan, Trúc lan, hoặc lấy từ đảo ngoài về, hoặc lấy trên núi xuống, hương
thơm đều không kém gì lan khác. Tôi nhân viết một bài thơ rằng:
Đảo xa dời gốc đáng khen thau;
Rằng tự rừng sâu hoa tới đây.
Cây cỏ tầm thường sao sánh được;
Gió xuân vừa đến ngát hương đầu.
Đề thơ xong, lại nhìn hoa mà vẽ,
chỉ thẹn chưa có cái diệu bút như Hoàng Thuyên.
Ven biển Lưu Cầu có nhiều đá nổi,
hang hốc lung linh, nước biển vỗ vào, âm thanh phát ra nghe như tiếng chuông,
tiếng khánh, cái ấy cũng tương tự như núi Thạch Chung ở cửa Bành Lãi của Trung
Quốc.
Ngồi rỗi không có trò gì tiêu
khiển, tôi bèn cùng Thi Sinh chơi cờ vây bằng quân cờ của Lưu Cầu. Quân trắng
thì được làm từ vỏ miệng ốc biển. Loại ốc nhỏ trong đất liền cũng có vỏ miệng
hình tròn, nhưng những con ốc biển lớn, thì cái vỏ miệng phải dày tới năm, sáu
phân, đường kính rộng tới hai tấc, tròn trắng như xà cừ, người đất ấy gọi là
“Phong khẩu thạch”. Quân đen thì làm từ đá đen, đường kính quân cờ độ sáu phân,
chu vi khoảng hai tấc, ở giữa lõm xuống mà bốn chung quanh gọt vát đi, không
phân biệt mặt trái mặt phải, khác hẳn với kiểu quân cờ của Vân Nam. Bàn Cờ dùng
gỗ mà làm, dày tám tấc, có bốn chân, chân cao bốn tấc, trên mặt sạch những đường
kỳ lộ. Tục dân nước ấy thích chơi cờ, nhấc một quân cờ nào lên cũng có bài bản
hẳn hoi, trong nước cũng rất nhiều tay cao thủ. Tàn ván cờ, đếm những chỗ trống
quân xem là bao nhiêu để định được thua, chứ không đến những chỗ có quân, con số
tính ra cũng giống nhau vậy. Tương truyền, trong nước ấy có thờ cúng Thần cờ, vẽ
hình một người nữ diện mạo như thần tiên, không cho ai được thấy, đó là cái tôn
sùng rất mực ở trong nước ấy vậy.
Giờ thìn, ngày mồng tám tháng
Sáu, Chánh, Phó sứ cùng kính phụng dụ tế văn, cùng tiền lụa điếu tế, đến bày biện
cả ở đình Long Thái, ra khỏi quán Thiên sứ đi về phía đông, qua Cửu Mễ Lâm, Bạc
Thôn, đến cầu An Lý, tức là cầu Chân Ngọc, đã thấy Thế tôn quỳ đón theo đúng
nghi thức, rồi lập tức đưa vào trong miếu. Lễ xong, lại đưa đi thăm miếu tiên
vương. Miếu chính bảy gian, chính giữa quay ra ngoài, bày một khám thờ, bày thần
vị của các tiên vương. Mé bên trái, từ Thuấn Mã đến Thượng Mục, tất cả có mười
sáu vị, mé bên phải, từ Nghĩa Bản đến Thượng Kính, tất cả có mười lăm vị. Ngày
hôm ấy, người Lưu Cầu kéo nhau đến xem đầy non chật đất, đàn ông con trai thì
quỳ cả ở bên trái đường, còn đàn bà con gái thì chỉ túm tụm đứng mãi đằng xa mà
nhìn. Cũng có người quây màn hoặc che rèm trúc, thổ nhân nói đó là những quyến
thuộc nhà quyền quý. Con gái đều xăm vẽ trên trán, đeo nhẫn ngón tay để trang sức,
người nhiều thì xăm đen hết cả trán, người ít thì xăm bằng bông hoa mai. Tục nước
ấy không đeo khuyên tai, không tô son phấn, không dùng các trang sức xanh đỏ.
Dân chúng, trước cửa nhà phần nhiều đều dựng đá “Thạch cảm đang”, trên tường phần
nhiều trồng dây Cát cô la hoặc cây gỗ mềm, cắt xén rất chỉnh tề.
Người Lưu Cầu gọi Trung Quốc
là Đường Sơn, gọi người Hoa là Đường nhân.
Đất ở Lưu Cầu đều là thứ đất
cát, mưa tạnh là có thể đi bình thường, không có bùn lầy. Ở Áo Sơn có đình Khước
Kim. Đời Minh trước đây, có sứ giả sang sách phong là Cấp sự Trần Khản, khi trở
về đã từ chối không nhận số vàng được tặng, cho nên người nước ấy dựng đình này
để khen ngợi.
Núi Biện Nhạc, cách phía đông
nam vương cung độ ba dặm. Qua chùa Viên Giác, theo sống núi mà đi, có sông rẽ
ra hai bên tả hữu, chính như các nhà phong thủy nói là “quá hiệp”, là long mạch
chạy đến của Trung Sơn vậy. Núi có năm ngọn lớn nhỏ, ngọn cao nhất gọi là Biện
Nhạc, cây che rậm rạp, phía trước có hai trụ đá, giữa để hai rào chắn, phía
ngoài dựng hai căn gác bằng ván gỗ. Dịch một chút sang mé trái, có tháp đá nhỏ,
hai bên tả hữu bày năm cái án bằng đá. Ngoặt sang mé đông, đi mấy chục bậc thì
đến đỉnh, có hai bệ đá, phía tây để tế sơn thần, phía đông để tế thần tải nhạc
Có tên gọi là Chúc. Chúc tức là người con gái thứ hai của Thiên Tôn thị vậy. Quốc
vương thụ phong, tất phải trai giới rồi đích thân lên đó tế. Tháng Giêng, tháng
Năm, tháng Chín, thì tế thần núi biển cũng thần hộ quốc, đều ở Biện Nhạc cả.
Các nơi Ba Thượng, Tuyết Kỳ,
và Quy Sơn, tôi đều đã tới chơi qua, nhưng đẹp hơn cả phải kể đến núi Hạc Đầu.
Tôi theo Chánh, Phó sứ đến đó chơi, trèo lên đỉnh núi, ngồi chỗ bóng mát tránh
nắng, sắc có liền trời, bóng tùng kín đất, phía đông nhìn sang Biện Nhạc, đẹp đẽ
vươn đến lưng trời, có thể nhìn thấy vương cung rõ như tranh vẽ. Ngoảnh sang
phía nam, nước ở gần như hồ, núi ở xa tựa bờ, thành Phong Kiến cao vọt hẳn lên,
dấu tích cũ của Sơn Nam vương vấn còn nguyên đó. Trông sang phía tây, đảo Mã
Xí, Cô Mễ, thấp thoáng ẩn hiện, như gần như xa, chính là đường thuyền sứ sách
phong đi tới vậy. Cúi xuống phía bắc là Na Bá, Cửu Mễ, khói bếp xúm xít. Phàm
xem đến núi sông linh dị, cây cỏ xum xuê, cá chim chìm nổi, khói mây biến ảo,
chẳng nét gì là không tranh kỳ đọ khéo, mà họp lại cả trước mắt. Mới hay những
chỗ du ngoạn bữa trước, thật thô sơ làm sao. Lương đại phu bày một tiệc rượu nhỏ,
cùng ngồi xuống đất mà uống. Tôi cũng bảo bộc tòng mang rượu cùng đồ nhắm đến.
Độ giờ mùi, giờ thân, chợt nổi gió mát, lắc rắc có hạt mưa, bèn cùng nhau dời
mâm lên thuyền. Bấy giờ nước triều vừa lên, bãi cát đã ngập mênh mông, bèn từ
sườn phía nam Áo Sơn đi ngoặt về hướng đông bắc, đá núi tạc vào bầu không chon
von như đổ ụp đến nơi, hải yến bay lượn như chim âu, thuyền câu dọc ngang đường
mắc cửi. Phút chốc, bóng tà đã khuất non tây, trăng bạc nổi lên mặt nước, từng
đàn cá đuối, bay vọt lên đầu ngọn sóng. Tôi cùng Giới Sơn nâng chén mời trăng,
gõ mái chèo mà hát, chén chẳng khi vơi, người đều túy lúy. Qua thôn Độ Lý, thì
đã trống canh ba, trước đình Khước Kim, đuốc cắm sáng như ban ngày, những người
đón đợi đều đã mệt, bèn cùng nhau đi bộ dưới trăng mà về. Ấy là chuyến du ngoạn
thứ nhất ở Trung Sơn vậy.
Dưới cầu Tuyền Kỳ là bến Mạn Hồ.
Mỗi đêm trăng sáng đẹp trời, hai cửa cầu tràn ngập ánh trăng, muốn cảnh tượng đều
sáng trong văn vắt, thế giới như được làm bằng pha lê vậy, đó chính là một
trong Trung Sơn bát cảnh (tám cảnh đẹp của Trung Sơn). Suối Vương Tuyền nước rất
ngọt, cũng là một trong Trung Sơn bát cảnh. Trong vương thành có đình, tựa vào
thành, trồng mãi ra đằng xa, tội nhân dừng chân nghỉ tạm trong đình, uống nước
suối Thụy Tuyền, phóng tầm mắt ngắm hết tám cảnh Trung Sơn. Tám cảnh ấy là: Tuyền
Kỳ dạ nguyệt (trăng đêm Tuyền Kỳ), Lâm hải triều thanh (tiếng sóng bờ biển), Cửu
Mễ trúc ly (hàng rào tre ở Cửu Mễ), Long Động từng đào (sóng thông reo ở Long động),
Duẩn Nhai tịch chiếu (nắng chiều trên vách núi Duẩn Nhai), Trường hồng thu tễ
(cầu vồng sau cơn mưa thu), Thành nhạc linh tuyền (suối thiêng trên núi trong
thành), Trung đảo tiêu viên (vườn chuối đảo giữa). Dưới đình có nhiều trúc tía
lá cọ, trúc mọc thành bụi, cao hơn ba thước, lá tựa như CỌ, ngang hẹp mà dài, tức
là thứ mà người ta vẫn gọi là trúc Quan Âm.(Đây tức là loại cây họ song
mây (mây cảnh), hiện ở ta cũng hay trồng trong chậu làm cảnh) Phía
nam đình Có cái vỏ sò, dài hơn tám thước, dùng đựng nước để rửa ráy, mới biết
thứ sò lớn cũng chẳng dễ có vậy.
Người nước ấy súc miệng rửa
ráy không dùng nước nóng, trước nhà chỉ dựng cột đá, trên đầu cột để chậu đá,
hay vỏ sò lớn để đựng nước, bên cạnh để một cái gáo bằng ống bương. Sáng dậy,
thì dùng gáo múc nước mà rửa mặt súc miệng, khách đến cũng như thế.
Đất ấy nhiều cỏ, nhỏ mềm như tấm
thảm nhung, khi hữu sự thì lấy cát sạch phủ lên trên cỏ. Người nước ấy lấy mai
đồi mồi làm thứ trâm dài cài đầu, được truyền đến Trung Quốc là do những nhà
lái buôn ở vùng Mân, Việt. Người Lưu Cầu không biết là quý, chỉ coi là thứ tầm
thường, chính như người ta nói: Ở bên Côn Sơn, lấy ngọc ném sẻ, ấy là địa lý mà
khiến ra như vậy.
Trên đỉnh núi Phong Kiến, có
di tích thành cũ là phủ đệ của Sơn Nam vương. Trong thơ của Từ Bảo Quang có
câu: "Cung khuyết tường long cùng ngói cỡ; Trâu dê gặm cỏ tựa thôn hoang.”
Con cháu của vương, nay là họ Na, vẫn còn tụ cư quanh đó.
Thập Sơn, người ở đó đọc thành
Thất Sơn, chữ Lưu Cầu chỉ ghi âm, Thập, Thất không phân biệt gì cả, ngờ là từ
chữ Điệt đọc lầm ra. Quan Phó sứ biên tập sách Cầu nhã, nói Lưu Cầu có khi một
chữ có hai, ba âm đọc, lại có khi hai, ba chữ cùng một âm đọc, tức như người ta
vẫn nói là ký âm, người nước ấy vẫn đều nghe hiểu cả. Âm thì có khi họp hơn
trăm chữ, hoặc hơn chục chữ đều đọc cùng một âm, khác rất xa so với âm đọc của
Trung Quốc. Trong nước, chỉ có những người đọc sách thông hiểu văn lý, mới biết
đối âm, còn thứ dân thì đều chẳng biết. Các đệ tử con nhà quan ở Cửu Mễ, mới vừa
biết nói, là được dạy tiếng Hán, vừa mới biết viết, là được dạy chữ Hán. Đến mười
tuổi, thì gọi là Nhược tú tài, được Quốc vương cấp lương một thạch gạo. Mười
lăm tuổi, cắt tóc chịu lễ, trước tiên lễ thánh Khổng, thứ đến lễ Quốc vương,
vương bèn cho biên tên vào danh sách, gọi là Tú tài, cấp lương ba thạch gạo.
Khi lớn lên, sẽ được tuyển chọn vào làm Thông sự. Những nhà có thanh danh văn vật
nhất trong nước ấy, đều là hậu duệ của ba mươi sáu họ đời Minh trước đây vậy.
Người Na Bá sống bằng nghề buôn bán, nên nhiều nhà giàu có. Đầu niên hiệu Hồng
Vũ đời Minh, triều đình ban cho ba mươi sáu họ ở đất Mân chọn những người giỏi
đi thuyền đến ở đó để qua lại lo việc triều cống. Nay các họ Lương, Sái, Mao,
Trịnh, Trần, Tăng, Nguyễn, Kim ở thôn Cửu Mễ, chính là hậu duệ của ba mươi sáu
họ khi ấy, đến nay người ở đó vẫn rất coi trọng.
Tôi cùng đàm luận về lẽ huyền
vi với các vị quan khách cư ở đó, thấy họ cũng có nhiều sở ngộ, bèn cùng xướng
họa thành thơ. Thi tập của ba người: Pháp ti Sái Ôn, Tử kim đại phu Trình Thuận
Tắc, Sái Văn Phổ, rất có khí vị tác gia. Thuận Tắc lại soạn cuốn Hàng hải chỉ
nam nói về việc qua biển rất tường tận. Sát Ôn thì dốc sức vào cổ văn, có các tập
như Son ông ngữ lục, Chí ngôn, câu nào cũng đều có căn cứ từ kinh học, có hơi
hướng đạo học, ra vào trong phạm vị học thuyết của hai nhà Trình, Chu, nhưng học
Chu tử còn chưa được thuần.
Núi non ở Lưu Cầu phần đa cằn
cỗi, chỉ thích hợp trồng thứ khoai dây. Các phụ lão truyền rằng, năm nào có thụ
phong, tất sẽ được mùa. Năm nay, tháng Năm trời hơi khô hạn, may là từ sau đó
thì mưa chẳng sai kỳ, rốt cùng khoai được mùa to, thu hoạch gấp bốn mọi khi,
dân chúng ở nơi hải bang, đều vô cùng vui mừng. Ai nấy đều nói: “Năm nay nếu chẳng
phải là năm thụ phong, thì làm sao được mùa như vậy.”
Thượng tuần tháng Sáu, lúa đã
gặt xong. Lưu Cầu khí hậu ấm áp, nên lúa thường chín sớm, tháng Mười một thì cấy,
tháng Năm, tháng Sáu thì gặt. Khoai thì bốn mùa đều trồng, ba lần thu hoạch là
được mùa, bốn lần thu hoạch thì được mùa to. Ruộng trồng lúa thì ít, ruộng trồng
khoai thì nhiều, người nước ấy lấy khoai làm nguồn sống, gạo thì chỉ vương cung
mới được ăn. Cũng có mạch, đậu, nhưng trồng chẳng được nhiều. Ngày hai mươi
tháng Năm, trong nước lại cúng tế thần lúa. Nếu chưa làm lễ tế này, thì dẫu lúa
có chín cũng chưa dám gặt mang về nhà vậy.
Thượng tuần tháng Bảy mới thấy
chim én, nhưng chúng không làm tổ trong nhà người. Ở Trung Quốc, tháng Tám thì
chim én bay về, chim én ở đây ngờ là chưa vào Trung Quốc, cho nên đến vào tháng
Bảy, tất là có chỗ làm tổ ở nơi khác. Lại có giống gọi là hải yến, so với chim
én thì lớn hơn một chút, mà lông cánh có màu trắng, có khi toàn thân đều trắng
như chim âu, phần đa làm tổ ngoài hải đảo, thỉnh thoảng cũng có con tới tận
Trung Quốc, mà người ta đều cho đó là điềm lành. Có loài ứng triều kê (gà theo
sóng), con trống sắc đen tuyền, con cái lại trắng tinh, đều chân ngắn đuôi dài,
đã được thuần dưỡng không còn sợ người. Hương Nhai mua một con chó nhỏ, màu
lông có hoa văn như con báo, rất khôn, cho Cơm thì không ăn, mà cho khoai nó mới
ăn, mới hay người ở đó đều ăn khoai vậy. Chuột và chim sẻ ở đó rất nhiều, mà
chuột lại càng hoành hành quá lắm. Cũng có mèo, nhưng không biết bắt chuột, người
nước ấy chỉ nuôi làm cảnh mà thôi, mới biết bản tính mỗi vật cũng tùy nơi chốn
mà thay đổi. Ở Lưu Cầu, rất ít có ưng, nhạn, ngỗng, vịt.
Gối đầu, có chiếc hình chữ nhật
như cái khuê, (Khuê: dụng cụ để đong thóc xưa) có chiếc tròn
như bánh xe mà nối với nhau bằng một trục nhỏ, có chiếc như cái tráp đựng đồ
bút mực văn phòng, có mấy tầng, đều được làm rất tinh xảo bằng gỗ, thường rộng
ba tấc, cao năm tấc, bên ngoài sơn màu hoặc đen hoặc đỏ. Để dựng mà tựa,
nghiêng người là ngã ngay. Xét, sách Lễ ký - Thiếu nghi có chú rằng: “Dĩnh, là
thứ gối để cảnh tỉnh vậy.” Cái gọi là “Dĩnh”, ấy là sáng suốt mà cảnh tỉnh nhận
ra vậy. Lại có chuyện, ông Tư Mã Văn Chính (Tức Tư Mã Quang) dùng
cái gỗ tròn làm gối để cảnh tỉnh mình, chỉ hơi ngủ gật là nó lăn khiến cho lại
tỉnh dậy mà đọc sách. Đây chính là dấu tích còn sót lại của cái gối cảnh tỉnh vậy.
Áo ở đó may đều là áo giao
lĩnh to rộng, tay áo rộng hai thước, cổ tay đều không viền, tay áo rất ngắn, để
tiện làm việc. Vạt áo thường không dùng nút cúc, mà gọi chung là “khâm” cả. Đàn
ông thì thắt đai lớn, theo tiêu chuẩn chung: dài một trường sáu thước, rộng bốn
tấc, quấn bốn năm vòng quanh eo, rồi thắt lại bỏ hai đầu ở hai bên sườn. Những
thứ lặt vặt như thuốc lá, túi giấy, dao con, lược thưa, lược bí đều bỏ trong
người, cho nên vạt áo phía trước ngực thường nổi phồng lên. Phần phía dưới eo
không khâu lại thì chỉ có áo của trẻ nhỏ và tăng nhân là như vậy. Tăng nhân lại
có một cái áo ngắn như áo lót mặc phía trong, gọi là “đoạn tục”. Đó là đại khái
về y phục.
Mũ thì dùng miếng gỗ mỏng làm
cốt, rồi gấp khăn trùm lên trên, phía trước là bảy lớp, phía sau là mười một lớp.
Có mũ hoa cẩm, từ xa nhìn như ngấn nước mái nhà dột, là loại sang quý nhất, chỉ
có vương thức nhiếp chính, và Quốc tướng là được đội. Kém một bậc là loại mũ
hoa tử, cho các quan Pháp ty đội, dưới một bậc nữa là mũ thuần tử. Đại lược, ở
đó coi màu tía là quý, màu vàng là thứ hai, màu đỏ lại dưới nữa, xanh lục còn
kém hơn. Các thứ vải lại lấy lăng (lụa mỏng có hoa) là quý, quyên (lụa sống)
thì kém hơn. Quốc vương khi còn chưa thụ phong, đội mũ ô sa, hai cánh chuồn hướng
lên trên, mép viền vàng, có dây đỏ buông xuống đến cằm, dưới thắt dây tơ ngũ sắc.
Đến đây được thụ phong rồi, thì đội mũ bì biền, hình trạng tựa như thứ mũ mà
phường hát Trung Quốc thường dùng cho kép đóng vai vương giả, phía trước có cài
bảy bông hoa, mình mặc mãng bào, lưng thắt đai ngọc.
Kiệu ở đó tựa như thứ “bính kiệu”
của Trung Quốc, ở giữa đặt ghế tựa, trên che cái lọng lớn, không có màn vây,
đòn kiệu thô mà dài, không có dây buộc, không có hoành mộc (Thanh gỗ ngang
phía trước), dùng tám người khiêng hai bên mà đi.
Sách Thông điển của họ Đỗ chép
tục nước Lưu Cầu, nói khi người đàn bà sinh con xong tất phải ăn nhau thai, lại
lấy lửa tự hun mình, khiến toát mồ hôi ra. Tôi đem chuyện đó ra hỏi ông Dương
Văn Phượng xem có đúng thế không? Ông đáp: “Chuyện dùng lửa hận người thì đúng
là có. Còn chuyện ăn nhau thai thì không phải” Đến nay, Trung Sơn đã không còn
cái tục hun lửa nữa, chỉ có vùng Bắc Sơn là còn chưa bỏ hết hẳn mà thôi.
Lễ hôn thú ở đó thì giản dị
thô sơ vô cùng. Những nhà thế gia thì cũng có nhà đem rượu, nhắm, châu báu làm
sính lễ, đến ngày cưới thì dùng thứ kiệu của nước ấy, kết hoa nổi nhạc mà
nghênh dâu, không cần so tính hồi môn, cha mẹ đưa con gái đến nhà chồng thì về.
Không có cỗ mời khách, những kẻ chí thân mang rượu đến mừng, cũng chỉ vài người.
Sách Tùy thư chép: Phong tục Lưu Cầu, trai gái thích nhau, bèn thành chồng vợ, ấy
là tục cũ vậy. Tôi hỏi ông Trịnh Đắc Công, ông Trịnh bảo: “Khi ba mươi sáu họ
người Hoa mới tới đây, tục ấy còn chưa đổi. Về sau họ mới dần biết hôn lễ, tục ấy
bèn đổi đi. Bây giờ ở đây, những đàn bà đã có chồng mà phạm gian tình, tất bị
giết chết. Tôi mới ngộ ra, Lưu Cầu sở dĩ gọi là nước biết giữ lễ, cũng là nhờ
công giáo hóa của ba mươi sáu họ ấy vậy.
Nhà dân chúng có tang, thì xóm
giềng cùng tụ tập đưa tiễn, những người theo xem cũng cùng hộ tang, chôn cất
xong thì về. Những nhà quan lại có tang thì các bạn đồng liệu tương tri, cũng đến
đưa đám, ra khỏi nhà thì về, phần đa đều không làm cơm đãi khách. Việc đề thần
chủ, đều nhờ sự tăng, đàn ông chết thì đề là “viên tịch đại thiền định”, đàn bà
chết thì đề là “thiền định ni”, chứ không có cách xưng là “khảo, tỉ”.(Cha
đã mất thì gọi là khảo (hiển khảo), mẹ đã mất thì gọi là tỉ (hiển tỉ)) Gần
đây, những nhà quan lại cũng có khi đề thêm quan tước. Áo quan, quy định là dài
ba thước, (Một thước là khoảng 33cm. Ba thước thì tương đương 1 mét) phải
gập người mà liệm. Gần đây, những nhà quan lại cũng có khi dùng áo quan dài
năm, sáu thước, nhưng dân chúng thì vẫn theo lệ cũ.
Người ở nước này, tay hơi ngắn
hơn so với người Hoa. Sách Triều dã kiềm tải cũng nói, người ở đó thân hình thấp
bé, như người Côn Luân (Tên một đảo quốc ở Nam Dương). Những sĩ đại
phu mà tôi đã gặp, tuy nhiều người thấp nhỏ, nhưng cũng có người mặt lớn rầu
dài, có người thân hình cao lớn, có người béo mập eo đến mười ôm, những lời
trên tựa hồ không thực đáng tin vậy. Người ở đó nhiều kẻ hôi nách, như lời người
xưa nói là “uẩn đê” (Ý nói hôi như mùi dê đực, cũng chỉ bệnh hôi nách) vậy.
Những nhà nối đời ăn lộc triều
đình, thì đều được ban họ vua. Sĩ thứ đều lấy tên đất làm họ, và cũng không có
tên. Hậu duệ của họ thì nói là con hay cháu trai thứ mấy của họ mỗ, gọi là lấy
ruộng làm họ riêng vậy.
Binh hình ở nước ấy chỉ có ba
điều: giết người thì phải chết; làm bị thương người và mắc trong tội thì phải
đày; tội nhẹ thì phạt phải phơi nắng, xét tội mà tính xem bao nhiêu ngày. Trong
nước hàng mấy năm không có ai mắc tội chém đầu, thỉnh thoảng có người mắc tội
phải chém, thì lại thường tự cầm dao mổ bụng mà chết.
Tối ngày rằm tháng Bảy, mở cửa
sổ ra thấy nhà người dân ai cũng cắm ngoài của hai cây đuốc, tôi hỏi thăm người
bản địa, họ nói: Tục trong nước ngày rằm tháng Bảy thì làm lễ Bồn tế, nên cắm sẵn
đuốc để nghênh thần, tế xong thì mới bỏ đi. Bồn tế, tức chính như Trung Quốc gọi
là Vu Lan hội vậy. Liền mấy hôm tôi đều thấy bọn trẻ con ngoài chợ, đứa nào đứa
nấy đều cầm tay một cành phan giấy, đứng đối nhau mà vẫy, làm ra dáng vẻ nghênh
đón thần linh vậy. Mới hay tục Bồn tế cúng lễ tổ tiên của nước ấy, cũng là một
kỳ đại tế vậy.
Bờ nam núi Quy Sơn có lò vôi,
người nước ấy lấy vỏ của những con ngao, sò lớn mà nung. Tuy dùng quét tường
thì không bằng đá vôi, nhưng độ dính thì hơn hẳn. Lại đi về phía đông bắc thì
có hồ, là nơi làm muối của người bản quốc.
Ngày hai lăm tháng Bảy, Chánh,
Phó sứ làm lễ sách phong, dọc đường đi người đứng xem đông lắm. Lên núi Vạn
Tùng, đi quanh co về phía đông, đường rất dài rộng, có cổng chào, bảng đề là
Trung Sơn đạo. Lại đến một cổng chào, bảng đề là Thủ lễ chi bang (nước giữ lễ
nghi). Thế tôn đội mũ bì biền, mặc áo măng bào, thắt lưng đai ngọc, xiêm chùng
tua kết, dẫn bá quan quỳ đón ở bên trái đường. Lại tiến thêm nữa, thì tới cửa
Hoan Hội, cung điện nằm trên đỉnh núi, chất đá tảng làm thành, mài nhẵn như tường,
trên thành có lối nhỏ đi lại, nhưng không có nữ tường, cao hơn năm thước, từ xa
nhìn lại thấy như tường được xây bằng đầu lâu. Tôi chợt ngộ ra, câu trong Tùy
thư nói, nơi Quốc vương ở, chất nhiều đầu lâu ở dưới, chính là nhìn từ xa không
rõ hình mà lầm lẫn, chứ thực là chưa đi tới dưới thành vậy. Trên vách đá ngoài
thành, bên tả khắc hai chữ Long cương (gò rồng), bên hữu khắc hai chữ Hổ tốt
(núi hổ).
Vương cung hướng tây, vì cớ
Trung Quốc ở phía tây biển ấy, nên quay hướng đó để tỏ lòng trung thuận hướng về.
Phía sau, quay hướng đông là Kế Thế môn, bên trái quay hướng nam là cửa Thủy
môn, bên phải quay hướng bắc là Cửu Khánh môn. Lại vào sâu lên cao thêm một lượt
bậc thềm nữa, thấy có cửa quay hướng tây bắc gọi là cửa Thụy Tuyền, hai bên tả
hữu đều có đường lát gạch, có hai cửa nách trái phải. Lại vào tiếp, thấy có đồng
hồ giọt, để quay hướng tây, có biển đề hai chữ Khắc lậu, phía trên để đồng hồ
nước nhỏ giọt. Lại đi tiếp, có cửa quay hướng tây bắc, là cửa Phụng Thần, tức
là cửa vào vương phủ. Sân điện rộng mười mấy mẫu, chia làm hai ngả. Theo đường
lát gạch đi vào cửa khuyết, là nơi Quốc vương ngự nghe chính sự. Trên vách điện
treo bức tranh Phục Hy vạch bát quái, có long mã chở đồ hình đứng trước, màu lụa
cổ kính, đã hơi bị sờn mòn, có lẽ là vật đã lâu đời rồi. Bắc cung điện đường giản
dị, mái nhà đưa tay có thể chạm tới, ấy là vì ở nơi núi cao lại nhiều bão biển
nên làm thấp như vậy. Đối diện là Nam cung. Hôm ấy, Chánh, Phó sứ dự yến ở Bắc
cung, đại lễ xong xuôi, cả nước cùng vui mừng. Nghe nói, những nơi Quốc vương
đi qua, đều được trang hoàng rực rỡ. Hai bên đường Tuyền Kỳ, sắp những chậu hoa
kỳ cỏ lạ, có rào son vây quanh, ở giữa tạc gỗ làm thành hình kỳ lân, đề chữ rằng:
“Không phải rồng, không phải báo, không phải gấu, không phải beo, là giống thú
tốt lành của bậc vương giả.” Trước cung Thiên Phi, trồng sáu cây thông lớn, xếp
bốn ngọn giả sơn, làm hình hai con bạch hạc, lại có ba mẹ con con hươu thật.
Trên hồ làm lán, lợp bằng cành tùng, những quả thông rủ xuống như chùm nho.
Trên hồ tạc năm con cá chép lớn nhỏ bằng gỗ, để nổi trên mặt nước. Quanh hồ trồng
trúc, bên bao lơn có cổng chào, gọi là Giai Lạc phường. Trên cột trụ treo một tấm
gỗ, đề rằng: “Hươu béo mượt, Chim trắng muốt, Cá chen vọt”. (Nguyên văn: lộc
trục trặc, điều hạc hạc, nhận ngư dược) Khi quay về, tôi thuật lại
cho ông phó sứ nghe, ông phó sứ bảo: “Cái này chính như sách Chí lược chép. Việc
đã cách mấy chục năm, mà chẳng sai một chữ, đúng là chuẩn như ván in vậy!” Những
khách đi cùng ai nấy cùng bật cười.
Huyện Nghi Dã Loan, có người
tên là Quy Thọ, thờ mẹ kế rất hiếu thảo, người trong nước ai cũng biết tiếng.
Người mẹ kế yêu con đẻ, nói xấu Quy Thọ trước mặt người cha là Y Tá, lại không
chịu ăn để khích ông ấy nổi giận. Y Tá bị mê hoặc, muốn giết Quy Thọ, định sai
Quy Thọ đêm khuya đến Bắc cung lấy nước, rồi sẽ giết chết. Một người ở bên giấu
Quy Thọ trong nhà, rồi đến cạn Y Tá, Y Tá liền trói kẻ ấy lại, nhưng sau lại thả
ra, cho rằng việc đã lộ, không thể giết được nữa, mới đuổi Quy Thọ đi. Quy Thọ
bị đuổi, định tự sát mà chết, nhưng lại e rằng như vậy sẽ để tiếng ác cho mę kế.
Phải hôm mưa tuyết, Quy Thọ ốm không dậy nổi, nằm lăn bên đường. Quan đi tuần
trông thấy, đến gần sờ xem, thấy thân thể còn ấm, biết là chưa chết, bèn lấy áo
của mình mà đắp cho. Quy Thọ dần dà tỉnh lại, tuần quan hỏi han duyên cớ, Quy
Thọ không muốn nói ra cái ác của cha và mẹ kế, bèn kiếm cớ nói dối với quan.
Trước đó, tuần quan nghe thấy chuyện người hiếu tử Quy Thọ bị đuổi đi, trong
lòng đã có ý bất bình. Đến bây giờ thấy người này nói năng ấp úng, liền ngờ
chính là Quy Thọ, bèn ban cho cái ăn cái mặc rồi cho đi, mà ngầm bí mật hỏi han
rõ được tình hình. Tuần quan | bèn truyền tụ tập người trong làng, bắt vợ của Y
Tá đến, kể rõ tội trạng rồi giam lại. Đang định bẩm báo lên Quốc vương thì Quy
Thọ đến xin đem thân mình thay chịu tội. Viên tuần quan không đành tâm làm tổn
thương tấm lòng kẻ hiếu tử, bèn gọi vợ chồng Y Tá đến trước mặt mà úy dụ. Người
vợ mới cảm ngộ, rốt mẹ con lại tình cảm như xưa. Ông phó sứ đã chép lại chuyện
này, tôi lại làm một bài thơ để khen ngợi rằng:
Lưu Cầu phong tục hỏi thăm chừng;
Có đức thì nên được xiển
dương.
Hiếu thảo trước nay thường dễ
cảm;
Khác Chi Mẫn Tổn với Vương Tường!
(Mẫn Tổn, Vương Tường: hai trong số hai mươi tư
gương đều là những người hiếu thảo với mẹ kế)
Để khuyến khích cho những ai
thờ kế mẫu mà chưa tận hiếu vậy.
Qua gò việt Sơn, đúng bữa vừa
họp chợ, tôi bèn bộ hành vào chợ. Xem những mặt hàng họ mua bán, chỉ có khoai
là nhiều nhất, cũng có cá, muối, rượu, rau, đồ gốm, đồ gỗ, các thứ vải tiêu, vải
trữ địa phương, thảy đều thô sơ không tốt, chẳng có thứ gì đáng để xem cả. Nước
ấy không đặt quán chợ, người ta đều bán hàng trong nhà mình, chợ búa chỉ là đem
những thứ mình có mà đổi lấy những thứ mình không có, chứ không dùng đến tiền bạc.
Thường nghe nói trong nước Lưu Cầu, phần đa dùng tiền Khoan Vĩnh của Nhật Bản,
nhưng đến đây cũng không thấy. Hôm trước, Hương Nhai có đem cho xem một xâu tiền,
tròn như mắt ngỗng, không có viền, xâu bằng dây thừng, dài chừng ba tấc, tất cả
có bốn xâu, buộc gộp lại lấy giấy bọc, phía trên có dấu niêm phong. Đó là tiền
người Lưu Cầu mới đúc, mỗi một gói là mười đại tiền. Vì rằng trong nước ít đúc
tiền, mà tiền Khoan Vĩnh chất đồng lại tốt, e rằng có người mua đi mất, nên
Trung Sơn mới cho thâu tàng lại, mà đặc biệt cho đúc loại tiền này để tiêu
dùng, trong chợ không có tiền là vì vậy.
Nước ấy, đàn ông nhàn nhã, mà
đàn bà vất vả, không có ai gồng gánh hay mang vác cho cả. Đi chợ, dệt vải vá
may, cho đến lấy củi, gánh nước, đều do một tay đàn bà lo liệu cả. Phàm mọi vật
họ đều đội trên đầu. Áo của đàn bà đã không khuy, không nút, lại không thắt
lưng, mà tục nước ấy nam nữ đều không mặc quần, thế tất phải dùng tay giữ vạt
áo, vạt áo của đàn bà dài hơn của đàn ông, phần áo dưới có hai lớp, gió cũng
không thổi lật được. Tôi nhân đó mới ngộ ra, tóc của đàn bà ở đấy đều buộc búi
buông sang một bên là vì tay họ đã giữ vạt áo, nên tất phải để trống trên đầu để
đội đồ vật, họ được rèn luyện từ nhỏ, nên dẫu có là thứ nặng hàng trăm cân, phải
trèo non lội suối, cũng không rơi đổ, ấy là một tuyệt kĩ đệ nhất ở nước này vậy.
Khi họ làm gì, thường cuốn hai ống tay áo kéo đến tận lưng, dùng dây buộc chặt
lại. Đầu tóc bẩn thì lại gội. Gội đầu thì dùng bùn (?), cởi áo buộc ngang thắt
lưng, để mình trần, cúi đầu xuống nước mà gội, thấy người cũng không tránh. Họ
bế con chỉ một tay, cắp vào bên sườn, cũng nhân đó để giữ chắc vạt áo luôn.
Đông Uyển ở núi Kỳ Sơn, ra khỏi
cửa Hoạn Hội rẽ lên phía bắc, xuôi xuống hạ lưu suối Thụy Tuyền, đến cầu Long
Uyên, nước dồn lại thành hồ, rộng chừng mười trượng, dài độ mấy chục trượng.
Người ta đắp để ngăn lại, gọi là Long Đàm, nước trong vắt có thể đếm được cá ở
dưới, lá sen chao nghiêng mặt hồ. Lại rẽ sang phía đông, thấy có thân nhỏ, rào
tre cắt gọn, lọng tùng rợp che, mây mỏng phủ rừng, gió vờn réo trúc, cảnh ngoài
vườn đã vô cùng u nhã. Vào đến cửa, thấy có hai ngôi đình bằng ván gỗ, quay hướng
nam. Tiếp tục đi vào sâu hơn về phía nam, có ba gian nhà. Phía đông đình có gò,
trông như cái bát úp. Rẽ về phía nam, có vách núi quay hướng tây, trên khắc chữ
Phạn, dưới có con sư tử đá đang ngồi, được trang hoàng lụa màu ngũ sắc. Dưới nữa,
lại có hồ nhỏ hình vuông, tạc đá thành hình đầu rồng, để nước suối tuôn từ miệng
rồng ra. Có hồ cá vàng, phía trước Có rừng trúc vạn cây, phía sau có rừng tùng
trăm gốc. Lại sang phía đông là gác Vọng Tiên, phía trước có gác Đông Uyển,
phía sau là đình Năng Nhân, phía đông bắc trông ra bể, phía tây nam trông vào
núi, nơi thắng địa trong nước, chỗ này là đứng đầu.
Thắng cảnh Nam Uyển cũng không
kém gì ĐôngUyển. Trong vườn có rất nhiều ngựa. Rẽ về phía đông, đi men theo bờ
ruộng, ruộng nước mênh mang, khoai lang mươn mướt, không hề có chút gì vẻ úa
vàng của mùa thu. Khoai cũng có chỗ thấy mới trồng, tôi hỏi ra mới biết họ đã
thu hoạch ba vụ rồi. Lại đi sâu vào núi, bóng tùng rợp lối, nhà cỏ chen nhau,
khung cảnh nơi điền gia chẳng khác gì bức vẽ. Đi hơn chục dặm, mới vào đến thôn
Nam Uyển, gọi tên là Cô Trường Xuyên, nghĩa là khu vườn cùng vui vẻ. Nam Uyển nằm
trên sống núi, có năm gian hiên, dãy nhà áp hai bên thì làm thành gác hai tầng,
bố cục khúc chiết. Trước hiên có ao mới đào, hẹp dài theo hướng đông tây. Xếp
đá hộc làm cầu. Phía nam cầu nhiều đống san sát, nhận gò cao lại dựng đình, để
có thể ngắm nhìn ra đằng xa. Phía đông đình trồng các thứ kỳ hoa dị thảo, có loại
hoa như cánh bướm, màu đỏ hồng, lá như lá hòe non, gọi là cây hoa Hồ điệp. Có
loại tùng lá như tóc trắng, gọi là Bạch phát tùng. Phía đông ao xưa vốn có
đình, nay đã đổ nát, người ta lấy vải vẽ hình tam thế vào đó. Phía tây ao có
gác, rất rộng rãi, bốn mặt thoáng gió, có thể lên hóng mát được. Lại có gác tên
gọi Nghênh Huy, có đình tên gọi Nhất Lãm, là chữ của chánh, phó sứ đề cho. Phía
bắc hiên có tùng, có phượng tiêu (vạn tuế), có đào, có liễu. Buổi hoàng hôn, mọi
nhà đều nổi khói bếp, cũng tựa như Trung Quốc. Tôi cùng Ký Trần đi chơi Ba Thượng,
thấy căn gác ghép ván không thờ thần gì khác, mà chỉ treo một lá phan bằng đồng,
trên khắc mấy chữ: Phụng ký ngự tệ. Phía sau có lạc khoản: Nguyên Hòa nhị niên
Nhâm Tuất (Năm Nhâm Tuất, niên hiệu Nguyên Hòa thứ 2). Có người ngờ là vật đời
Nguyên Hòa nhà Đường, nhưng không phải. Xét, năm Nguyên Hòa thứ 2 đời Đường là
năm Đinh Hợi chứ không phải Nhâm Tuất.
Ông Mã Trường Tín Vũ(Tức
Baba Nobutake (?-1715) nhà Nho thời kỳ Edo ở Nhật Bản) người Nhật Bản
có soạn sách Bát quái thông biến chỉ nam, trong đó có kê ra Tam nguyên, rằng:
“Thượng nguyên khởi từ năm Giáp Tí - Vĩnh Lộc(Tức Eiroku - niên hiệu của
Thiên hoàng Ogimachi Nhật Bản, từ năm 1558-1570) thứ 7, kết thúc năm
Quý Hợi – Nguyên Hòa(Tức Genna - niên hiệu của Thiên Hoàng Go-Mizunoo Nhật
Bản, từ năm 1615-1624. Năm Quý Hợi đúng ra là năm Nguyên Hòa thứ 9) thứ
3; Như nguyên khởi từ năm Giáp Tý - Khoan Vĩnh(Tức Kanei - niên hiệu của
Nhật Bản từ 1624-1643) nguyên niên, kết thúc năm Quý Hợi, Nguyên Hòa
(Chỗ này đúng ra là Thiên Hòa. Thiên Hòa, tức Tenna (Tenwa) là niên hiệu của
Thiên hoàng Reigen từ năm 1681-1684. Năm Thiên Hòa thứ 3 là năm Quý Hợi (1683)) thứ
3; Hạ nguyên khởi từ năm Giáp Tý - Trinh Hanh (Tức Jokyo - niên hiệu của
Thiên hoàng Reigen từ năm 1684-1688) nguyên niên. Nay là năm Quý
Mùi, Nguyên Lộc (Tức Genroku - niên hiệu của Thiên Hoàng Higashiyama từ
năm 1688-1704. Năm Quý Mùi, Nguyên Lộc thử 16 tức năm 1703) thứ 16.”
Nước này nay vẫn còn lưu hành tiền Khoan Vĩnh của Nhật Bản, lại có vật chứng
dùng niên hiệu Nguyên Hòa của Nhật Bản tiếm xưng, thì có thể biết là Lưu Cầu
xưa vốn thần phục theo lịch chính sóc của Nhật Bản, chỉ là nay tránh mà không
nói đến thôi chăng?
Diều giấy nước ấy làm không có
gì tinh xảo, trẻ con phần đa đứng trên mái nhà mà thả. Xét, Trung Quốc thường
thả diều trước tiết Thanh Minh, ý nghĩa là khiến người ta phải há miệng ngửa mặt
nhìn lên trời, để hấp thụ dương khí, cho trẻ nhỏ ít bệnh. Nay ở đây người ta lại
thả diều vào tháng Chín, chẳng phải là tháng Chín thì không thả diều được, ý
tôi chỉ là sức gió ở đây khác với Trung Quốc. Xem đó cũng có thể nghiệm thêm rằng
Lưu Cầu khí hậu ấm áp, cho nên tháng Mười vẫn còn cấy lúa vậy.
Tục nước ấy, đàn ông nào muốn
được làm tăng sẽ được bằng lòng ngay, sau khi thu giới rồi sẽ được cấp lương
ăn. Kẻ nào phạm giới, sẽ sức lệnh cho phải hoàn tục, đồng thời đuổi đi đảo
khác. Con gái muốn làm kỉ nữ, cũng bằng lòng cho tiếp đón khách ngoài. Anh em
trai của kĩ nữ ấy cũng nhận khách ngoài ấy như người thân của mình mà qua lại.
Vì hầu hết họ đều là dân nghèo, nên không coi việc ấy có gì đáng hổ thẹn cả.
Còn nếu con gái đã lấy chồng mà lại dám phạm tội gian dâm, thì cho phép cha anh
được quyền giết chết, mà không cần phải bẩm Quốc vương. Dù cho có bẩm lên Quốc
vương, Quốc vương cũng không tha tội. Đó là điều răn lớn phân biệt lượng dân với
tiện dân ở nước ấy, vì thế mà họ đều trọng liêm sỉ. Ở đó có nàng kĩ nữ gọi là Hồng
Y, tôi cùng trò chuyện, nhưng không hiểu được lời nói, gõ phách ca hát, cũng đều
là thứ tiếng ở đó. Nhưng phong vận cũng có những nét rất đẹp, nhẽ chẳng kém gì
Hàm Viên. Sau đó, tôi bỗng vì công việc phải dời đi chỗ khác, Hồng Y bèn đem
cái quạt bảo tôi đề thơ cho. Tôi nhận đề tặng hai bài thơ rằng:
Tuổi vừa đôi tám vẻ phong lưu;
Thon thả eo mềm, mắt sắc dao.
Tay ẵm tì bà, lời chửa ngỏ;
Mà dường quen biết ở Tô Châu.
*
Hận sầu cũ mới mấy nguồn cơn;
Tái ngộ rày xem khó vạn phần.
Tiếc bấy đêm nay trăng sáng đẹp,
Cuốn mành nào biết với ai xem.
Người nước ấy vốn tính cung
kính cẩn thận, được cho cái gì, tất đưa hai tay cao rất lễ độ, thấy người tôn
kính, thì cúi mình lau tay rồi mới bái lạy. Mời rượu người tôn kính, thì rót đầy
rồi để trên đầu ngón tay để tỏ ra kính trọng, còn nếu ngang hàng nhau, thì để
trong lòng bàn tay.
Nhà cửa ở đó đều không cao,
mái thủy lợp bằng ngói ống để tránh gió bão. Sàn nhà tất phải cao cách mặt đất
ba thước, để tránh nước dâng. Sống mái nhà chia ra bốn hướng như đình bát giác.
Bốn mặt dựng nối nhà vào, chứ không làm nhà rời từng tòa, để tiết kiệm vật liệu
vậy. Phòng ốc không làm cửa, phía trên phía dưới xẻ hai rãnh máng, lắp một
khung vuông dán giấy, đẩy ra hai bên tả hữu. Lại càng không làm then cài, mà giản
lược bỏ bớt đi, vì ỷ vào việc không có trộm cắp. Chỉ có buồng ở sát đường đi mới
làm then. Ban thờ thần thì để phiến đá lên chỗ bếp lò, đổ đầy cát, để thờ cúng
thần linh, tổ tiên. Nước ấy coi đó là thần, không truyền rõ hình tượng ra thế
nào cả. Trên mái ngói có để con sư tử bằng đất nung, chính là chỗ sách Tùy thư
gọi là Thủ đầu cốt giác (Nghĩa là: đầu thú với xương và sừng). Vách
tường không quét vôi, chỉ để mộc. Những nhà phú quý thỉnh thoảng có người dán
giấy hoa, học theo phong cách Trung Hoa, dần dà xa xỉ vậy.
Núi Quy Sơn có một ngọn vươn
cao, vượt hẳn các núi khác, phía trước có phụ một ngọn nhỏ, cách độ hai trường.
Người nước ấy gác đá, nối qua hai ngọn núi, làm thành động, cao hơn mười trượng,
kết màn vải ở phía đông của động. Chúng tôi dừng chân tạm nghỉ, rồi theo bậc
thang mà lên, đến trên động, lại đi thêm hơn mười bậc nữa thì tới đỉnh núi. Đỉnh
núi vừa đủ để dựng một tòa lầu. Lầu không có tên, bốn bề để trống, không lắp
song cửa. Phó sứ bảo với tôi rằng: “Từ lầu này cái nhìn có thể thấy hết được
hình thế đất Trung Sơn, chẳng thể nào lại để vô danh được.” Nhân bèn đặt tên
cho là Thục lâu, lại viết lời bạn rằng: “Thục nghĩa là thế nào? Tức là Độc (một
mình) vậy. Lần này sao lại gọi là Thục? Là vì nó nằm trên một ngọn núi độc nhất
vậy. Không gọi là Độc mà gọi là Thục, vì rằng phó sứ ta là người đất Thục, lầu
này dựng đã trăm năm, mà lại được phó sứ ta đặt tên, có khác chi là đợi nhau vậy.”
Bên trái ngó đồng xanh, bên phải kể đá xám, phía sau liền biển lớn, phía trước
đối Trung Sơn, ngồi trong lầu mà nhìn ngắm, tựa như ngồi trên đỉnh nóc cao của
đất ấy vậy. Tôi lại thỉnh với ông phó sứ rằng: “Đã có biển ngạch, chẳng thể
không có câu đối.” Phó sứ nhân viết lại bốn câu vừa nói ở trên cho làm câu đối
(Tức bốn câu: Bên trái ngó đồng xanh, bên phải kè đá xám; Phía sau liền biển lớn,
phía trước đối Trung Sơn). Lúc trở về, chúng tôi vòng trên biển đi sang
phía tây, thấy vách núi, hang động, suối khe thảy đều kỳ tuyệt, ấy lại cũng là
một bữa thắng du vậy.
Vượt Nam Sơn, qua thôn Ti Mãn,
nhà dân đều quay mặt ra biển, đá lạ dựng như rừng. Theo luồng biển đi sang phía
tây, có núi, sắc xanh in trên nền trời, đá ngầm nhô lên mặt nước, đó gọi là Sa
Nhạc. Khi ấy nước triều buổi trưa vừa rút, đá trắng nhấp nhô, như từng đàn ngựa
xô nhau chạy, bọt sóng tung như mưa. Lại sang phía tây, qua thôn Đại Lĩnh, nhà
nào cũng kết bụi gai làm hàng rào, đem phơi trên đó lưới đánh cá hàng trăm cái.
Ngoài thôn ruộng nước mênh mông, bùn lầy ngựa không đi nổi. Thấy có trâu bò thả
trên gò đồi. Trong ghi chép của Uông tiên sinh, nói nước ấy dùng ngựa cày chứ
không có trâu, nay thấy chưa hẳn là đúng vậy.
Đảo này, nếu có ai có thể nói
được tiếng Trung Sơn thì sẽ được ban cho mũ vàng làm tù trưởng, hàng năm Quốc
vương sẽ sai Thân cân thượng (Tức quan Khâm sai) đến, đến giám
sát yên vỗ, gọi là Phụng hành quan, chuyên lo về việc thuế khóa kiện tụng ở đó,
thu lấy đặc sản thử nghi từng nơi, để nộp cống lên Quốc vương. Lại có chức Gián
thiết, tức là cách gọi quan viên ở ngoài phủ. Bốn phủ: Thủ Lý, Bạc, Cửu Mễ, Na
Bá đều thuộc vương kỳ, cho nên không đặt chức ấy, còn những nơi khác đều có đặt
cả. Công việc của các chức quan này là gần gũi dân chúng, quan sát cái hay cái
dở ở mỗi nơi mà báo cho Thân cân thượng hay. Chức Gián thiết, cũng gần như chức
Tri phủ của Trung Quốc. Trung Sơn có cả thảy mười bốn thuộc phủ, có mười chức
Gián thiết. Tỉnh Sơn Nam có mười hai thuộc phủ, tỉnh Sơn Bắc có chín thuộc phủ,
chức Gián thiết theo đúng số phủ như thế.
Tục nước ấy, từ ngày mồng mười
đến ngày rằm tháng Tám, nhà nào cũng đồ xôi, trộn với đậu đỏ làm bánh đem biếu
tặng nhau để cúng trăng, phong tục tương tự Trung Quốc. Tối hôm ấy, Chánh, Phó
sứ cùng mời những người tòng khách uống rượu ngoài trời. Ánh trăng trong vắt
như nước, sắc trời một vẻ biếc xanh, gió lặng vật im, tiếng sóng xen lẫn tiếng
tơ, tiếng trúc từ xa vắng lại, tưởng chừng như thân đang ở nơi ba tòa tiên đảo
mà nghe Tử Tấn thổi sênh, Ma Cô dạo nhạc, muốn sự đều yên tĩnh vậy. Vũ trụ lớn
lao thế, mà đều cùng chung một mảnh trăng này. Tôi chợt nhớ lại những ngày xưa
khi ở lầu Tiêu Sảng, cảnh đẹp đêm thanh, dễ dàng bỏ lại, nay thì mỗi người một
phương, lẽ nào đối nguyệt mà lòng không cảm khái cho được?
Tương truyền rằng, ngày mười
tám tháng Tám là ngày sinh của sóng bể, tục nước ấy, vào tối hôm đó sẽ đến Ba
Thượng đợi sóng triều lên. Đến giờ tý, tôi cùng Ký Trần tới Ba Thượng, Cỏ như một
tấm thảm xanh, có sương xuống càng thêm trơn ướt, người ở dìu đỡ, bám tường dựa
đá mà ngồi. Giờ sửu, sóng mới tới, tựa như muôn trùng mây núi, cuốn biển tiến lại.
Khoảnh khắc, khí tanh sực lên, thủy quái thổi gió, kim xà xẹt chớp, thiên trụ
dường gãy, địa trục đà rung, bọt tuyết ướt đầm, vọt cao trăm thước. Còn chưa
dám nhìn trộm chốn long cung, mà dường đã bị sức thần xô dậy, mịt mù thảng thốt,
muôn hình vạn trạng. Xem đó mới biết, bài phú Thất phát của Mai Thặng (Mai
Thắng (?-140 TCN) tự Thúc, người Hoài Âm, nhà từ phú đời Tây Hán. Thất phát là
một bài phú nổi tiếng của ông, trong đó có miêu tả các việc vui thích ở đời, mà
ngắm sóng là một trong số ấy) vẫn còn chưa hình dung được hết vậy.
Sóng lui rồi, mới nghe thấy những âm thanh như tiếng chuông tiếng trống từ những
mỏm đá bên bờ vẳng lại. Thong thả đi bộ đến chùa Hộ Quốc, mà tiếng sóng ầm ầm
như sấm vẫn còn văng vẳng bên tai, ngắm sóng mà đến thế này, thì chẳng cần phải
xem thêm ở đâu nữa vậy.
Từ Nguyên đán, đến ngày mồng
sáu, là dịp ăn Tết. Ngày mồng năm thì đón Táo quân. Tháng Hai, tế thần lúa mạch.
Ngày mười hai, khơi giếng, lấy nước mới, tục gọi là: “Rửa bách bệnh”. Ngày mồng
ba tháng Ba, làm bánh ngải. Ngày mồng năm tháng Năm, đua thuyền. Ngày mồng sáu
tháng Sáu, trong nước làm lễ Tháng Sáu, nhà nhà đều đồ xôi, làm món ăn biếu lẫn
nhau. Ngày mồng tám tháng Mười hai, làm bánh dậm, bọc lá cọ, luộc đem biếu
nhau, gọi là “bánh Ma”; ngày hăm bốn tiễn Táo quân. Tháng Giêng, tháng Ba,
tháng Năm, tháng Chín là tháng tốt, đàn bà con gái ra chơi ngoài bãi bể, bái thủy
thần để cầu phúc. Gặp ngày sóc đầu tháng, thì kéo nhau lấy nước mới để cúng thần.
Đây chỉ nói đại lược như vậy. Tôi duy vẫn lấy làm ngờ, tục nước này tin kính Phật,
nhưng lại không biết ngày mồng tám tháng Tư là ngày Phật đản; “bánh Ma” ngày mồng
tám tháng Chạp hình trạng tựa như bánh sừng trâu, nhưng lại không biết món cháo
Thất bảo.
Quốc vương tặng hơn hai chục
chậu hoa cúc, hoa lá đều tốt, dưới gốc đều cắm thẻ tre đề tên. Trong số ấy, có
ba loại là khác lạ hơn cả: một loại tên gọi Kim cẩm, hoa gồm cả ba màu đỏ trắng
vàng, bông nhỏ nhưng nhiều, rực rỡ như sao sa; một loại tên gọi Trùng bảo, cánh
như hoa sen, mà nhỏ, sắc hồng nhạt, một loại tên gọi Tố cầu, cánh rộng, không
giống cúc, xếp lớp nhiều tầng, sắc trắng như tuyết, đó đều là những loại tôi
chưa được thấy. Tôi bèn tặng một bài thơ rằng:
Hàn, Đào vườn dậu sắc thu đầy
Hội Vị tất năm xưa có giống
này.
Dáng vẻ u nhàn yêu mến quá;
Trung Hoa khôn dễ bứng dời
ngay.
Xem múa sư tử ở nước ấy, thấy
lấy vải làm thân, lấy da làm đầu, lấy tơ làm đuôi, cắt lụa màu làm như lông để
trang trí phía ngoài, đầu, đuôi, miệng sư tử đều có thể cử động được. Lại gắn mắt,
cắm răng, cho hai người chui vào trong, cúi ngửa nhảy nhót, làm ra động tác thuần
phục đùa giỡn. Tôi nói: “Đây cũng gần với âm nhạc đời cổ xưa vậy.” Xét, Cựu Đường
thư - Âm nhạc chí chép: thời Vũ đế nhà Hậu Chu, triều đình cho soạn Thái Bình
nhạc, cũng gọi là: Ngũ phương Sư tử vũ. Bạch Lạc Thiên trong bài thơ Tây Lương
kĩ có câu:
Mặt nạ, người Di múa sư tử; Đầu
tạc bằng gỗ, đuôi tơ rủ. Vàng mạ con người, bạc gắn răng; Vẫy rối hai tai, áo
lông phủ. Ấy tức là điệu múa này vậy.
Nước này có trò diễn gọi là Đạp
đà hú. Người ta bắc ngang một cây gỗ làm xà, cao hơn bốn thước, rồi lại xếp ván
gỗ dài một trường hai thước bắc ngang, để sao cho cân bằng mà không kê gì ở hai
đầu. Cho hai đứa con gái người Di, mặc trang phục sặc sỡ, đi chân không, mỗi
người cầm một cái khăn, đứng đối diện nhìn nhau mà hát. Hát chưa hết bài, liền
nhảy lên đứng ở hai đầu ván, cho hơi bập bênh, rồi lên xuống dần nhanh như giã
gạo, càng ngày càng cao. Người phía đông nhảy rơi xuống ván thì người phía tây
vụt bật lên đến hơn ba trượng, vun vút như chim én bay giữa bầu không vậy. Khi
người phía tây rơi xuống ván lại bật người phía đông lên, chẳng khác gì chim cắt
lao lên mây xanh vậy. Cứ như vậy họ kẻ lên người xuống, mỗi lúc mỗi nhanh, chẳng
khác gì gà lôi múa trước gương, không còn nhận ra đâu là hình, đâu là ảnh nữa.
Rồi khoảnh khắc thế dần giảm đi, Cơ dần chậm lại, cuối cùng tấm ván lại yên,
hai người cùng nhau nhảy xuống, sửa áo đứng nghiêm. Vãn trò, mà không hề sai lệnh
nghiêng ngả gì cả, kĩ thuật tuyệt diệu đến như vậy.
Người ở đó tiếp đón khách khứa
rất giản dị, không lắm sự nghi lễ phiền hà. Khách đến không cần đón, cứ tùy ý
mà ngồi, chủ nhân sẽ đem ra cho đủ cả giá điếu, hỏa lò, ống tre, hộp gỗ, mỗi thứ
một cái. Một ống tẩu hút để nằm ngang ở trên, hộp đựng sẵn thuốc lá, ống tre để
thổi tàn thuốc. Gặp những khách mà mình tôn kính thì mới pha trà, lấy một chút
bột mịn, trộn lẫn bột trà, bỏ vào nửa bát nước sôi, dùng một chổi trúc nhỏ mà
đánh đều sao cho bọt đầy ngang miệng bát là được. Khách đi về, cũng không tiễn.
Các bậc quý quan tiếp khách, thường lấy đũa chấm vào một chút rượu, quệt vào mỗi
khách để tỏ ý kính trọng. Rượu đun nóng cho thêm chút đường vàng thì gọi là
Phúc, cho thêm chút đường trắng thì gọi là Thọ, cũng là một món quý để đãi
khách vậy.
Tiết Trùng dương cùng sắp thuyền
rồng ra đua ở hồ Long Đàm. Lưu Cầu cũng có đua thuyền rồng vào tháng Năm. Cuộc
đua vào ngày Trùng dương này, chỉ là bày ra để đón tiếp sứ giả thiên triều mà
thôi. Tôi nhân viết ba bài thơ ghi lại việc ấy rằng:
Vườn xưa uổng phụ các đơn vàng
Muôn dặm xa xôi chốn khách
hương.
Xem cuộc Long Đàm thuyền đọ sức;
Trùng dương mà cứ ngỡ Đoan
dương.
*
Thu trước còn đang ở Động
Đình;
Hoa càng hái giắt tóc ai xanh.
Đăng cao ta ở nơi phiên quốc;
Núi Vọng Phu nàng phải một
mình.
*
Đợi mùa gió tín trở thuyền ra;
Cho kịp đầu đông khá đến nhà.
Đã lỡ trước sương bày các vến;
Chỉ mong dưới tuyết hỏi mai
hoa.
Nghe nói, ông Trình Thuận Tắc
từng mua được ở Thiên Tần bức mặc tích viết mười bốn chữ của Chu Văn Công, nay
con cháu hậu duệ vẫn giữ gìn như của quý. Tôi mượn xem không được, nhân đến tận
nhà xem nhờ. Mở quyển ra, thấy nét bút nghiêm cẩn, như kỳ sơn quái thạch, vẻ
cao vọi như vách núi không thể phạm được, nhìn mà tưởng như thấy được khí tượng
đạo học thuở bấy giờ. Chữ cao hơn tám tác, lời văn là: “Hương bay Hàn uyển cây
đồng bãi; Xuân báo Nam kiều ngút lá xanh.” Phía sau có lạc khoản đề tên, không
ghi năm tháng. Mặc tích của Văn Công còn lưu truyền trên thế gian, thì có ai mà
chẳng quý báu cất giữ, vì rằng ông là người có thành tựu lớn, bút mực chỉ là
chuyện nhỏ mà thôi, thế nhưng vẫn có thể tự thành một nhà như vậy, mới biết rằng
học lực của cổ nhân, chẳng điểm gì là kém vậy.
Tôi lại đến chơi từ đường nhà
Sái Thanh Phái, trong từ đường có thờ phụng chân dung của Sái Quân Mô, lại cũng
đem mặc tích của Sái Quân Mô(Tức Sái Tương (1012-1067) tự Quân Mô, là
chính trị gia, thư pháp gia nổi tiếng đời Tống) ra cho xem, bèn biết
rằng ông chính là dòng dõi của Sái Quân Mô, từ đầu đời Minh thì đến Lưu Cầu, là
một trong ba mươi sáu họ vậy. Thanh Phái có thể nói tiếng Hán, con người cũng
tiêu sái tự nhiên. Từ từ đường quay lên đến nhà, hoa lá thảy đều thanh nhã, một
khuôn hồ tròn như vầng nguyệt, tôi bèn đề chữ biển ngạch cho nhà là: Nguyệt ba
đại ốc (Ngôi nhà sóng trăng). Đại khái người Lưu Cầu giỏi cắt tỉa cây cối, khéo
xếp đặt giả sơn, cho nên trong nhà những sĩ đại phu, đều có suối khe để dành du
lãm. Trong sân dựng sào dài, trên để thuyền gỗ nhỏ, dài chừng hai thước, cột buồm,
bánh lái đầy đủ cả. Đầu đuôi thuyền đều có cánh quạt năm lá, treo cờ màu để xem
hướng gió. Những nhà đi biển, xem đó sẽ dự tính được ngày trở về. Thấy có gió
nam thì cả nhà hoan hỉ, nói là hành nhân sắp trở về, khi nào người đi về đến
nhà, thì hạ sào xuống cất đi. Đó tức là cái di phong của ngũ lạng kỳ đời xưa vậy.
Quốc vương có thỏi mực dài năm
tấc, rộng hai tấc. Lại có cái nghiên đá Đoan Khê lấy từ mỏ cũ, dài một thước, rộng
sáu tấc, trên có bốn chữ Vĩnh Lạc tứ niên. Lưng nghiên lại khắc dòng chữ:
“Tháng Tư năm thứ 7, Đông Pha cư sĩ lưu tặng Phan Bân Lão”. Hỏi ra thì được biết
đó là vật được ban tặng từ đời Minh trước kia. Trong nước ấy còn có Đông Pha
thi tập, nên biết Quốc vương chẳng những chỉ quý báu một cái nghiên ấy mà thôi
vậy.
Các loại giấy Miên chỉ, Thanh
chỉ, đều dùng vỏ trấu chế ra, khó mà viết nổi. Có loại giấy bọc bìa sách, loại
lớn khá tốt, bề dài độ chừng ba thước, bề rộng hai thước, trắng như ngọc. Loại
nhỏ giảm đi một nửa. Cũng có loại giấy hoa thiên chép thơ, có thể dùng viết thư
được. Riêng lại có loại giấy bình phong, được dùng để dán tường vậy. Từ Bảo
Quang có bài thơ Cầu chỉ thi (Bài thơ về giấy ở Lưu Cầu) rằng:
Lãnh Kim trắng tinh hơn lụa
óng;
Trắc Lý sóng triều một mảnh đọng.
Dao Côn xén thẳng một thước
vuông;
Tuyết xếp ngàn tầng khăn nhẹ mỏng.
(Lãnh Kim, Trắc Lý là tên hai loại giấy tốt thời
xưa. Dao Côn: tức Côn Ngô đạo - Cột loại dao sắc, có thể cắt được ngọc)
Có thể nói là hình dung đủ hết
vậy.
Nơi pháo đài phía nam có hai tấm
bia: Một tấm khắc chữ khải còn chưa mấy mờ mòn, khắc ba chữ Phụng thư tạo, Một
tấm khắc chữ Lưu Cầu. Bia dựng năm Gia Tĩnh thứ 21 triều Minh trước, duy không
thể đọc được hết nội dung viết gì, song bút lực cũng rất rắn rỏi bay bướm.
Có thứ cây, tên gọi là Sơn mê,
lại gọi là Dã ma cô, lá có thể dùng để nhuộm được, quả như quả nữ trinh, vị
chua, người bản địa đem ép làm dấm ăn. Dấm ở Lưu Cầu màu trắng tinh, không chua
lắm, người bán nói là dấm gạo, nhưng vị không giống, có nhẽ là dấm ép từ thứ quả
này chăng?
Tục ở đây thường ngồi dưới đất,
cho phía đông là trọng, nên để đệm ngồi. Đồ ăn để cả lên một mâm nhỏ độ một thước
vuông, đóng hai tấm ván làm chân, cao chừng tám tấc. Món ăn thường được dâng
lên bốn lần, chia ra để trong các mâm khác nhau mà không đưa lên cùng lúc,
trong ba lần đưa lên trước đều kèm theo cơm, đến lần thứ tư mới kèm theo hai hồ
rượu, uống không được quá ba tuần. Mỗi lần dâng món ăn chỉ có một mâm, trước
tiên tất phải dọn mâm trước đi rồi mới bưng mâm sau lên. Cơm ở mâm đầu tiên thì
là bánh bột chiên dầu, ở mâm thứ hai thì là bỏng gạo, ở mâm thứ ba thì là cơm nấu.
Mỗi lần dâng món, thì chủ nhân tất phải tự tay nâng cao mâm mà đặt trước mặt
khách, rồi cúi mình xoa tay mà lui. Từ đầu đến cuối tiệc, chủ nhân đều không ngồi
cùng ăn, để tỏ ý kính trọng. Đó là lễ yến hội khách quý của người Lưu Cầu. Còn
nếu ngang hàng nhau thì mới có thể cùng ngồi đối ẩm. Đại khái tục Lưu Cầu, tiệc
tùng đều ngồi dưới đất, chứ không dùng bàn ghế, đồ mâm bát đều như lối mâm bát
đời cổ xưa, món ăn đều làm khô, không cần dùng đến thìa muối. Dẫu là nhà quyền
quý, thì tiệc mời cũng chỉ một món nhắm, một món cơm, một đôi đũa. Đũa phần đa
đều là cành liễu mới vót. Dù là vợ cũng không ngồi cùng ăn, cũng là vẫn giữ cái
di phong của người xưa vậy.
Phía sau Phu Mệnh đường của
nhà sứ quán, có hai bảng văn tự xưa vẫn lưu lại. Một bảng ghi họ tên các sứ giả
sang sách phong đời Minh trước đây:
Năm Hồng Vũ thứ 5, sách phong
Trung Sơn vương Sát Độ, sứ giả là Hành nhân Thang Tải; Năm Vĩnh Lạc thứ 2.
phong Quốc Vương Vũ Ninh, sứ giả là Hành nhân Thời Trung: Năm Hồng Hy nguyên
niên, phong Quốc vương Ba Chí, sứ giả là Trung quan Sài Sơn; Năm Chính Thống thứ
7, phong Quốc vương Thượng Trung, sứ giả là Cấp sự trung Du Biên, Hành nhân Lưu
Tốn; Năm Chính Thắng thứ 13, phong Quốc vương Thượng Tư Đạt, sứ giả là Cấp sự
trung Trần Truyền, Hành nhân Vạn Tường: Năm Cảnh Thái thứ 2, phong Quốc vương
Thượng Cảnh Phúc, sứ giả là Cấp sự trung Kiều Nghị, Hành nhân Đồng Thủ Hoành;
Năm Cảnh Thái thứ 6, phong Quốc vương Thượng Thái Cửu, sứ giả là Cấp sự trung
Nghiêm Thành, Hành nhân Lưu Kiệm; Năm Thiên Thuận thứ 6, phong Quốc vương Thượng
Đức, sứ giả là Lại khoa Cấp sự trung Phan Vinh, Hành nhân Sái Triết Năm Thành
Hóa thứ 6, phong Quốc vương Thượng Viên sứ giả là Binh khoa Cấp sự trung Cung
Vinh, Hành nhân Hàn Văn; Năm Thành Hóa thứ 13, phong Quốc vương Thượng Chân, sứ
giả là Binh khoa Cấp sự trung Đông Mân, Hành nhân ty Ty phó Trương Tường: Năm
Gia Tĩnh thứ 7, phong Quốc vương Thượng Thanh, sứ giả là Lại khoa Cấp sự trung
Trần Khản, Hành nhân Cao Trừng; Năm Gia Tĩnh thứ 41, phong Quốc vương Thượng
Nguyên, sứ giả là Lại khoa tả cấp sự trung Quách Nhữ Lâm, Hành nhân Lý Tế Xuân;
Năm Vạn Lịch thứ 4, phong Quốc vương Thượng Vĩnh, sứ giả là Hộ khoa tả cấp sự
trung Tiêu Sùng Nghiệp, Hành nhân Tạ Kiệt; Năm Vạn Lịch thứ 29, phong Quốc
vương Thượng Ninh, sứ giả là Binh khoa hữu cấp sự trung Hạ Tử Dương, Hành nhân
Vương Sĩ Chính; Năm Sùng Trinh nguyên niên, phong Quốc vương Thượng Phong, sứ
giả là Hộ khoa tả cấp sự trung Đỗ Tam Sách, Hành nhân ty Ty chánh Dương Luân. Tất
cả là mười lăm lần, hai mươi bảy người sang sứ. Từ Sài Sơn về trước không có
Phó sứ vậy.
Một bảng ghi họ tên những sứ
giả của bản triều sang sách phong:
Năm Khang Hy thứ 2, phong Quốc
vương Thượng Chất, sứ giả là Binh khoa Phó lý quan Trương Học Lễ, Hành nhân
Vương Cai; Năm Khang Hy thứ 21, phong Quốc vương Thượng Trinh, sứ giả là Hàn
lâm viện kiểm thảo Uông Tiếp, Nội các trung thư xá nhân Lâm Lân Xướng Năm Khang
Hy thứ 58, phong Quốc vương Thượng Kính, sứ giả là Hàn lâm viện kiểm thảo Hải Bảo,
Hàn lâm viện biên tu Từ Bảo Quang; Năm Càn Long thứ 21, phòng Quốc vương Thượng
Mục, sứ giả là Hàn lâm viện thị giảng Toàn Khôi, Hàn lâm viện biên tu Châu
Hoàng. Tất cả là bốn lần, tám người sang sứ.
Sau tiết Thanh minh, thường có
gió nam, sau tiết Sương giáng, thường có cả gió nam gió bắc, không như vậy thì ắt
sắp có bão gió. Tháng Giêng, Hai, Ba nhiều bão, tháng Năm, Sáu, Bảy, Tám nhiều
gió lớn. Bão thì xảy ra bất ngờ nhưng mau hết, còn gió lớn thì dần dần mới nổi
nhưng kéo dài nhiều ngày. Tháng Chín, gió bắc có khi kéo dài cả tháng, tục gọi
là Cửu giáng phong, thỉnh thoảng cũng có gió lớn nổi lên, bất ngờ như bão. Gặp
bão còn khá, chứ gặp gió lốc thì khó mà chống đỡ nổi. Sau tháng Mười nhiều gió
bắc, giông bão không định kỳ, những người lái thuyền phải trông chừng lúc lặng
gió mà đi lại. Phàm sắp có bão đến, sắc trời có những chấm đen, thì phải nhanh
chóng hạ buồm giữ vững lái mà đợi, chậm là không kịp, thậm chí là bị lật chìm.
Sắp có giông lốc thì chân trời có từng mảng ráng cầu vồng như cánh buồm, người
ta gọi là Phá phàm (buồm rách), chỉ chốc lát những ráng ấy lan phủ nửa bầu trời
trông như đuôi con sam, gọi là Khuất hấu (sam cong đuôi), nếu lại xuất hiện ở
phía bắc thì càng dữ dội. Còn nữa, nếu như trên mặt biển đột nhiên biến đổi, nổi
nhiều bọt bẩn như cám, và có rắn biển nổi lên bơi, hoặc chuồn chuồn đỏ bay
vòng, cùng đều là dấu hiệu có bão gió.
Từ khi tôi đến Lau Cầu đến
nay, chớp mắt đã nửa năm, nhưng không có gió đông, nên muốn về mà chẳng thể nào
được. Ngày hăm lăm tháng Mười, mới bắt đầu giường buồm về nước. Đến ngày hăm
chín, đã thấy núi Nam Kỳ, Ôn Châu, lúc sau thì thấy núi Bắc Kỷ. Có mấy chục chiếc
thuyền đang đậu, người trên thuyền đều mừng, cho rằng đó tất là thuyền ra đón
mà hộ vệ. Quân thủ bị trèo lên chòi sau thuyền quan sát, bỗng kinh hãi báo rằng:
“Những thuyền đang đậu là thuyền cướp bể!” Lại báo, thuyền cướp đã đều giương
buồm rồi. Chưa bao lâu thì mười sáu chiếc thuyền của bọn cướp bể đã hò hét kéo
tới. Thuyền của chúng tôi, từ cửa khoang lái bắn dàn pháo tử mẫu ra lập tức giết
chết bốn tên, lại hất một tên đang hò hét xuống biển, thuyền cướp phải lui. Các
tay súng cùng bắn, lại giết chết sáu tên. Rồi lại dùng pháo bắn, giết chết năm
tên. Giặc cướp hơi tiến, chúng tôi lại bắn, giết chết bốn tên, rồi bèn lui. Khi
ấy, thuyền cướp đã chiếm được chiều gió thuận, chúng tôi bèn ngầm dời pháo tử mẫu
sang mạn phải thuyền, bắn liền được mười hai tên cướp, thiêu rụi đầu thuyền của
chúng, thuyền cướp bèn quay lại rút chạy hết. Trong số ấy, có hai thuyền khá lớn,
hò hét thuận chiều gió xông tới. Đại pháo nhằm chuẩn thuyền cướp bể lại khai hỏa,
một quả bắn trúng chỗ tên đầu xỏ, khói đen mù mịt, đến khi tan, thì thuyền cướp
đã rút hết rồi. Trận chiến ấy, súng pháo không bắn sai phát nào, chúng tôi may
mắn thoát nạn.
Chưa đầy canh giờ, gió bắc lại
tới, sóng cao quá thuyền. Tôi đang còn say giấc, chợt nghe người trên thuyền ồn
ào nói: “Đến Quan Đường rồi!” khiến tôi tỉnh dậy. Các vị tòng khách đều phải một
đêm không ngủ, cùng bảo tôi rằng: “Nguy hiểm như thế, mà ông vẫn ngủ được ư?”
Tôi hỏi lại xem tình hình thế nào, thì đáp: “Mỗi khi thuyền nghiêng thì tưởng
chừng mui mái đều chìm trong nước cả. Mỗi một con sóng lớn up lên thuyền, thì cả
thuyền lại chìm trong nước, chỉ nghe tiếng nước đổ như thác không ngừng, vậy mà
rốt không bị lật, may thay!” Tôi cười đáp lại rằng: “Giả như thuyền lật, thì
các ông có thể thoát được không? Tôi cứ say trong giấc nồng, mắt chưa từng thấy
cảnh nguy hiểm ấy, há lại là không may sao?” Rửa mặt súc miệng xong, tôi lên
chiến đài quan sát, thấy hơn chục cái bếp để trước sau đều đã không còn, trên
boong thuyền sạch nhẵn không còn một thứ gì, đun nấu thôi hẳn vậy. Người trên
thuyền chỉ tay nói: “Phía trước là Định Hải, có thể không lo gì nữa rồi.” Giờ
thân thì thuyền đậu lại. Thuyền phu lên bờ mua củi gạo, mới có Cơm ăn. Tối ấy,
tôi biên thư gửi về nhà, để an ủi Vân khỏi trông ngóng, mà bản thân mình thì
càng mong mỏi về nhà lắm. Lại nhớ đến câu Vân từng nói với tôi năm nào: “Mặc áo
oải, ăn cơm rau, mà khá trọn đời vui thú, bất tất phải tính kế miễn du làm
chi.” Lần đi biển này, tuy mới lạ nhưng nguy hiểm, bao phen nguy ngập may mắn vẫn
không sao, mới thấy lời nói của Vân là chí lí vậy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét