Thứ Ba, 13 tháng 4, 2021

ALICE MUNRO, CUỘC ĐỜI YÊU DẤU

 

Nhà văn Alice Munro. Ảnh AP.

ALICE MUNRO, CUỘC ĐỜI YÊU DẤU

Nguyễn Đức Tùng

Năm 2013, khi trao giải Nobel về văn học cho Alice Munro, người phụ nữ thứ mười ba trên thế giới nhận giải thưởng này, đại diện của Hàn lâm viện Thụy Điển đã gọi bà là “bậc thầy của truyện ngắn đương đại”. Một đánh giá cao về thành tựu nghệ thuật và tất nhiên khó khăn mới đạt được. Lúc ấy, nhiều người đã ngạc nhiên hỏi nhau: bà này ở đâu ra?

Thật ra Alice Munro đã viết văn từ năm mươi năm nay, với tác phẩm đầu tay Vũ điệu của bóng mờ hạnh phúc, xuất bản 1968. Trong các tuyển tập truyện ngắn hay nhất của Hoa Kỳ, tôi nhận thấy tên bà xuất hiện rất đều đặn, gần như hàng năm, được chọn lựa bởi các nhà văn hay nhà phê bình có quan điểm khác nhau. Nhà văn cũng nhận nhiều giải thưởng, trong đó ba lần giải Governor General danh giá của Canada, và Man Booker International, năm 2009. Giữa nhiều nhà văn viết tiếng Anh, bà được kính trọng và yêu mến một cách đặc biệt. Tuy vậy, tính tình kín đáo, khiêm cung, Alice Munro ít khi xuất hiện trên báo chí, ngoại trừ bằng tác phẩm của mình. Cách đây vài năm, khi tôi đến dự một buổi hội thảo ở Vancouver sau giải Man Booker International vừa nói, với sự tham gia của nhiều nhà văn nổi tiếng như Margaret Atwood, họ đọc những tham luận xúc động về sự nghiệp của bà và diễn đọc những trích đoạn tác phẩm, Alice Munro cũng đã không có mặt.

Sinh ngày 10 tháng Bảy năm 1931 ở Wingham, Ontario, Canada, Alice Munro có tên khai sinh là Alice Ann Laidlaw. Cha của bà là chủ nông trại, mẹ là cô giáo. Bà trải qua tuổi thơ ở Huron County, rồi theo học đại học Western Ontario, nhưng rời trường sớm khi lập gia đình năm hai mươi tuổi. Bà và gia đình từng sống ở Vancouver và trên một hòn đảo ngoài khơi Vancouver nhiều năm. Sau khi cuộc hôn nhân đầu tiên tan vỡ, bà trở về quê cũ ở Huron County, và tình cờ gặp lại người bạn thời thơ ấu, một giáo sư đại học, và họ mau chóng trở thành đôi bạn thân, sau đó lập gia đình với nhau. Ontario là bang lớn nhất Canada, bên bờ Ngũ Đại Hồ. Vùng phía Nam của bang có khí hậu ôn hòa, cảnh sắc xinh đẹp, đất nông nghiệp bằng phẳng, nhiều sông hồ. Nhờ vào những truyện ngắn nổi tiếng của bà, quang cảnh vùng đất Huron County xuất hiện nhiều lần trong truyện, trở thành một xứ sở được nhiều người biết, gần như huyền thoại.

Có nguồn gốc tổ tiên từ Scotland, truyền thống Thiên chúa giáo, bà lớn lên trong thời Đệ nhị thế chiến và những giai đoạn kinh tế khó khăn. Sự phân tích tinh tế, sự quan sát sắc bén đối với các hành vi cá nhân và khác biệt giai cấp, cảnh giàu nghèo, sự hy sinh, tính chung thủy, sự dối trá, những tình cảm gia đình, được ghi lại một phần nhờ những kinh nghiệm bà đã có được khi lớn lên ở vùng thị trấn nhỏ. Có người nhận xét rằng Munro ít viết về tình yêu, nhưng thật ra nhiều truyện của bà đều phảng phất một thứ tình tuy được diễn tả chấm phá nhưng với nét bút mạnh mẽ, dường như đầy ẩn ý. Ngòi bút của bà khi đề cập đến các đề tài khác như phụ nữ, tình dục, đều táo bạo bất ngờ.

Tác phẩm: Vũ điệu của bóng mờ hạnh phúc (Dance of The Happy Shades) (giải Governor General), Cuộc đời những cô gái và đàn bà (Lives of Girls and Women), Bạn nghĩ bạn là ai kia? (Who Do You Think You Are), Những mặt trăng của Mộc tinh (The Moons of The Jupiter), Tiến triển của tình yêu (The Progress of Love) (giải Governor General), Chạy trốn (Runaway). Năm 80 tuổi, xuất bản tập Quá sức hạnh phúc (Too Much Happiness). Tiếp sau đó, trước sự ngạc nhiên của nhiều người, năm 81 tuổi, tác phẩm mới Cuộc đời yêu dấu (Dear Life). Một chuyện tình cảm động, đã được Sarah Polley chuyển thành phim với các tài tử Julie Christie và Gordon Pinsent.

Alice Munro viết về đời sống những người bình thường với ngôn ngữ giản dị, trong trẻo, đẹp. Nhưng đó là bề ngoài dễ gây ngộ nhận. Thật ra văn của Munro không dễ hiểu. Người đọc cần chú tâm đến từng dấu hiệu mà bà để lại dọc đường. Bên trong là sức mạnh của sự phân tích các xung đột, sự nghiêm khắc với thói dung tục, tính hài hước, lòng trắc ẩn. Truyện của bà biểu hiện một nghệ thuật quan sát mà mô tả xác thực, có khi tường tận, một cách cố ý. Nhưng đằng sau bản mô tả khách quan ấy, đằng sau bức tranh về một cảnh vật cụ thể và sinh động, bản tường trình về cuộc đời, người đọc cảm nhận có một điều gì khác nữa như một hiện thực thứ hai, Alice Munro đã nói về lối đọc truyện và viết truyện của mình.

“Tôi sẽ bắt đầu bằng cách giải thích cách tôi đọc truyện của nhà văn khác như thế nào. Có thể nói, tôi bắt đầu đọc chúng bất kỳ ở đâu, từ đầu truyện đến cuối truyện, từ cuối truyện ngược lên, từ bất cứ điểm nào ở giữa chúng, theo hướng xuôi hay ngược. Như vậy rõ ràng tôi không nắm lấy một câu chuyện và cứ đi theo như thể đó là con đường, sẽ mang tôi tới nơi nào đó, với những quang cảnh và lối rẽ rất gọn gàng dọc theo con đường ấy. Tôi bước vào truyện ngắn, đi lui đi tới, ngồi xuống nơi này nơi kia, hoặc ở lại đó đây một lát. Truyện ngắn giống như ngôi nhà. Mọi người đều biết ngôi nhà là gì, nó chứa các phòng, những cửa ngách liên lạc giữa các phòng và trình bày một khuôn mặt ngoài mới mẻ như thế nào. Đây là cách gần nhất với sự giải thích mà tôi có thể có về việc một truyện ngắn ảnh hưởng ra sao đối với tôi, như người đọc, và tôi muốn những truyện ngắn của mình làm gì với người đọc của tôi.”(1)

Thật ra các nhà phê bình có những cách nhìn nhận rất khác nhau đối với nghệ thuật của Munro. Tác phẩm của bà là hiện thực hay là tưởng tượng? Đầy xúc cảm hay hoàn toàn lạnh lùng? Những cuộc đời trong ấy là của những người bình thường mà ta hay gặp hay là những số phận đặc biệt, lạ kỳ, ngoại hạng? Bà là nhà văn của người đọc bình dân hay là nhà văn của giới tinh hoa, bác học? Là một kiểu mẫu Chekhov thứ hai hay là người chống lại Chekhov?

Tập truyện Cuộc đời yêu dấu (Dear Life) gồm mười bốn truyện: 1. Trôi về Nhật Bản (To Reach Japan), 2. Thị trấn bạch dương (Amundsen), 3. Ly hương (Leaving Maverley),4. Sỏi đá (Gravel), 5. Tổ ấm (Haven), 6. Lòng tự hào (Pride), 7. Người tình (Corrie), 8. Xe lửa (Train), 9. Thấp thoáng mặt hồ (In Sight of The Lake), 10. Búp bê (Dolly), và bốn truyện sau cùng được tác giả xem là tự truyện, vì có yếu tố tiểu sử: 11. Con mắt (The Eye), 12. Đêm (Night), 13. Giọng nói (Voices) và 14. Cuộc đời yêu dấu (Dear Life) (2). Đây có thể xem là một trong những tác phẩm cuối cùng của Alice Munro, vì lúc nó ra đời năm 2012, bà đã ngoài 80 tuổi và tuyên bố không viết nữa.

Những mô tả tỉ mỉ trong truyện của Munro có thể rất dài nhưng bao giờ cũng nằm trong một cấu trúc cần thiết, đôi khi là sự chuẩn bị bắt buộc phải có, như trong trường hợp chúng dẫn đường cho người già đi vào một cõi trần gian khác (truyện Thấp thoáng mặt hồ). Một người thanh niên quen với một thiếu nữ, nhập ngũ, trở về, rồi quen với một người phụ nữ khác, trải qua bao biến đổi, tựa như một cuốn tiểu thuyết thay vì truyện ngắn, những nhân vật lạ lùng xa lánh tình dục và sợ hãi sự thân mật của con người (truyện Xe lửa). Câu chuyện phiêu lưu tình cảm của một nhà thơ, một người mẹ trẻ (truyện Trôi về Nhật Bản). Cô đến dự một buổi tiệc của một tờ báo, uống say bằng một thứ nước mà cô ngỡ là nước trái cây nhưng thật ra có rượu. Một ký giả từ Toronto lái xe đưa cô về nhà, nhưng bất chấp sự chờ đợi, đã không hôn cô. Thế là cô đem lòng thương nhớ. Rồi một dịp hai mẹ con cô và đứa con gái lên một chuyến xe lửa, bỏ người chồng ở lại, và mối quan hệ vợ chồng của họ cũng có chút nghi vấn. Đó là một chuyện tình yêu, nhưng lại không phải là chuyện tình chúng ta hay gặp. Có một thứ tình cảm khác, sâu xa, ẩn mình phía sau, có một lời nói thầm, nửa cảnh giác, một sự chú ý lặng lẽ đối với thói vô tâm của con người. Lặng lẽ nhưng đau đớn. Cũng tương tự như thế, trong truyện Sỏi đá, việc ngoại tình của một người đàn bà, thói phiêu lưu, sự thờ ơ trưởng giả của một người đàn ông, lối sống phóng túng và vô trách nhiệm của chàng nghệ sĩ, đưa đến những hậu quả không ngờ. Trong khi trong truyện Đêm, người đọc có ấn tượng tất cả mọi cảnh vật bên ngoài đều chỉ là biểu hiện hiện thực của những tư tưởng thầm kín của một thiếu nữ.

Trong một cuộc phỏng vấn với Geoff Hancock (3), Munro cho rằng cả yếu tố cốt truyện và khung cảnh câu chuyện đều không quan trọng lắm trong truyện ngắn. “Điều gì xảy ra như một sự kiện thật chẳng quan trọng gì. Khi một sự kiện trở thành vấn đề quan trọng, truyện ngắn đó không có khả năng phát triển”. Sự cảm xúc, theo bà, đóng vai trò lớn hơn. “Tôi cũng không nghĩ khung cảnh truyện là hệ trọng. Nhiều người nghĩ rằng tôi là một nhà văn viết truyện địa phương. Và tôi sử dụng các địa phương nơi tôi lớn lên làm vật liệu sáng tạo. Nhưng tôi không biết cách nào để diễn tả một điều gì đó, ở một nơi nào đó, với mục đích định trước. Những việc ấy xảy ra và nơi chốn là một phần của nó. Chẳng qua đó chỉ là sự tình cờ.”

Có thể cho rằng cái mà Alice Munro gọi là cảm xúc (feeling) chính là khí hậu của truyện. Khí hậu ấy thường xoay quanh một hình ảnh trung tâm, hình ảnh ấy được chiếu rọi bởi một bên là khả năng quan sát khách quan, gần như lãnh đạm, và một bên là khả năng thương yêu nồng nàn sâu kín. Hay phương pháp hiện thực và khuynh hướng chống lại, gần như căm phẫn, đối với cái tệ hại. Truyện của Munro phát triển qua một thời gian dài, tuy vậy khác với nghệ thuật tiểu thuyết, sức mạnh của bà nằm ở các mối tương quan trong cùng một thời gian, như trong một bức tranh. Bà nhìn thấy các nhân vật trong những chớp sáng của đời họ, tức là trên những khúc quanh của số phận. Vì vậy truyện ngắn của bà, tuy dài, gần như một loại tiểu thuyết ngắn, được viết với ngôn ngữ chân phương nhưng tinh tế, tinh tế nhưng không hiền lành chút nào, thực ra phần nào gần với ngôn ngữ thơ ca.

Sự mô tả đối với các tình huống, các tâm trạng, các diễn biến đi vào chi tiết và chính xác, vì chi tiết nên chính xác, và vì chính xác nên chi tiết. Chính vì vậy bà để mất một số độc giả không quen với việc đọc truyện kiểu ấy, lối đọc tinh tế, tuy đồng cảm nhưng lại không thương cảm bi ai, và ngược lại, trở thành nỗi quyến rũ không ngớt đối với nhiều người đọc khác, những người cũng đặt cược vào sự chính xác như bà. Từ sự chính xác ấy mà các quyết định riêng tư của cá nhân, những hy sinh và sai lầm của họ, các ngã rẽ của số phận bỗng lộ diện bất ngờ, làm kinh ngạc bất cứ một người đọc điềm tĩnh nào.

Thật ra, sự chính xác cũng là bổn phận của tình yêu.

Nguyễn Đức Tùng

(1) The Art of Short Fiction by Gary Geddes, 1993, Harper Collins, p.824.

(2) Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu các truyện này, theo thứ tự được đánh số như trên. Các chú thích dưới mỗi truyện là của người dịch.

(3) Sách đã dẫn, p.513

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét