Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

IDA – NỖI ÁM ẢNH VỀ QUÁ KHỨ CỦA NGƯỜI DÂN BA LAN


IDA – NỖI ÁM ẢNH VỀ QUÁ KHỨ CỦA NGƯỜI DÂN BA LAN                                                         
Ida là một bộ phim đơn giản đến kì lạ. Tiết tấu chậm rãi, những cảnh quay đầy chất thơ nhưng vô cùng ám ảnh về sức nặng được truyền tải cho người xem, từng khung hình một, bộ phim lật dở dần bí mật của sự tìm kiếm, tìm kiếm câu chuyện, tìm kiếm sự thật và tìm kiếm bản thể. Đạo diễn gốc Ba Lan Pawel Pawlikowski, người được biết đến nhiều với bộ phim My summer of Love (2004), đã mang đến cho chúng ta một trải nghiệm tuyệt vời tưởng chừng như không còn xa lạ về chủ đề hậu chiến tranh thế giới thứ 2 tại Ba Lan. Và thật không quá ngạc nhiên khi Ida đã được Viện Hàn Lâm Mỹ trao giải Oscar cho bộ phim nói tiếng nước ngoài hay nhất trong buổi lễ trao giải thứ 87.

Cảm giác về một bộ phim tối giản gợi đến ngay từ tấm poster chính thức của Ida. Trên hậu cảnh tòa nhà tu viện là cô gái đang nhìn xuống lối đi phủ đầy băng tuyết. Chữ Ida màu hồng nhạt nổi lên trên nền đen - trắng, tông màu chính của bộ phim.
Dùng tông màu đen trắng để biểu hiện, bộ phim là hành trình đi xuyên Ba Lan của một nữ tu 18 tuổi, sắp nhận lễ thụ phong để mãi mãi ở lại trong tu viện, hiến dâng trọn đời mình cho Chúa. Cô đi cùng với người dì từng là công tố viên. Chuyến hành trình của họ chứa đầy những ẩn ức về quá khứ đau thương của dân tộc cũng như từng người dân Ba Lan ở cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 và dưới thời xã hội chủ nghĩa. Anna (Agata Trzebuchowska), một nữ tu mồ côi từ bé, được khuyến khích liên lạc với người thân duy nhất là dì Wanda (Agata Kulesza), từng là nữ công tố viên, có tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội. Wanda một hình ảnh hoàn toàn đối lập với Anna, nghiện rượu, đàng điếm và phức tạp. Lúc này, Wanda tiết lộ cho Anna biết cô tên là Ida, là người Do Thái và bố mẹ cô đã chết trong chiến tranh. Sau đó, hai người họ, hai tính cách khác biệt, một cặp đôi lệch pha cùng nhau làm cuộc hành trình đi xuyên về quá khứ với mục đích tìm kiếm nơi chôn cất bố mẹ Ida. Những bí mật được tiết lộ, Wanda sau một cuộc đời do dự đã dám trở về và tìm kiếm sự thật, Ida hiểu hơn về cuộc sống, về bản thể, và về đức tin của mình qua cuộc gặp gỡ với Lis, một nhạc công chơi Saxophone, khi anh đang chơi nhạc của John Coltrane – một nghệ sĩ nhạc Jazz nổi tiếng người Mỹ.


Hai nữ diễn viên Agata Kulesza và Agata Trzebuchowska đã có màn hóa thân xuất sắc trong vai Ida và Wanda. Những vai diễn tưởng như đơn giản, ít lời nhưng lại rất tinh tế và có khả năng truyền đạt cảm xúc sâu sắc. Ở Wanda là sự tổn thương, nỗi đau được giấu kín trong sự hưởng thụ dường như quá đà, sự mạnh mẽ và từng trải. Ida thì ngược lại, ít nói, ngay cả lúc nghe tin bố mẹ đã chết trong chiến tranh cô cũng không biểu cảm gì. Đó là một trái tim thuộc về Chúa và chỉ đang đi chứng kiến cuộc đời thực sự ra sao.

Hai nữ diễn viên Agata Kulesza và Agata Trzebuchowska
Người Do Thái và chủ nghĩa Phát Xít, người dân và chủ nghĩa xã hội dưới thời Stalin, những đề tài chưa bao giờ ngừng ám ảnh trong suốt chiều dài lịch sử đến tận bây giờ. Một người nông dân Ba Lan giúp bố mẹ Ida lẩn trốn đã giết họ vì sợ hãi. Một công tố viên dưới chướng chế độ cộng sản đã phán xét người khác và đôi khi buộc họ tội chết mà thực ra họ là người vô tội. Wanda day dứt trong hành trình của mình để tìm đứa con trai thất lạc, day dứt nghĩ về quá khứ buồn bã của mình. Đạo diễn không cần kể lể dài dòng, không cần những thước phim hồi tưởng, quá khứ của Wanda cộng hợp với sự buông thả mình của bà ở hiện tại với rượu, với tình dục… đã tạo nên một sức nặng đầy ám ảnh về lịch sử. Những người dân bà gặp, nói chuyện, chứa quá khứ nhiều bi thương của dân tộc đến mức đa phần họ lảng tránh trong những câu nói ngắn, cộc lốc và thiếu thiện cảm. Bối cảnh phim được đặt vào năm 1962, chiến tranh chưa lùi xa, chủ nghĩa xã hội vẫn đang tồn tại. Một xã hội đè nặng và tổn thương, xã hội mà Wanda đã trốn tránh cho đến khi dám đối diện với sự thật, đó cũng là lúc bà không còn mong muốn sống nữa. Điều mà nữ tu Ida, sống cả đời trong tu viện lần đầu tiên được chứng kiến.
Điểm sáng đầu tiên của Ida chính là diễn xuất nhẹ nhàng nhưng cũng mạnh mẽ khi cần thiết của nữ diễn viên đảm nhận vai Anna tức Ida là Agata Trzebuchowska. Trước khi tìm được người thủ vai này, đạo diễn Pawel Pawlikowski đã phải phỏng vấn hơn 400 ứng viên nhưng vẫn hoàn toàn bế tắc. Ông bèn dùng đến biện pháp nhờ vả bạn bè đi khắp nơi để tìm những gương mặt phù hợp và Agata Trzebuchowska đã được một người bạn của đạo diễn để mắt khi cô đang ngồi đọc sách ở một quán cà-phê.
Trong khi đó, một Agata khác, Agata Kulesza, nữ diễn viên gạo cội của Ba Lan, cũng chinh phục người xem bằng diễn xuất dữ dội và đầy hoang dại qua nhân vật người dì Wanda Gruz. Đây là nhân vật có số phận phức tạp được đạo diễn lấy cảm hứng từ Helena Wolińska-Brus, một nữ công tố viên của Ba Lan trong thập niên 1950. Pawel Pawlikowski đã có dịp gặp gỡ người này ngoài đời vào khoảng những năm 1980 và những câu chuyện của bà vẫn còn ám ảnh ông đến tận bây giờ. 

Nếu Ida là gam màu lạnh, Wanda mang màu nóng thì Lis giữ tông màu trầm. Anh thích đơn giản hóa cuộc sống giống như bao người. Nghe Lis chơi những bản nhạc jazz của John Coltrane, nhạc sĩ người Mỹ nổi tiếng thời kỳ ấy, có thể thấy tâm hồn hứng khởi của anh.
Sức mạnh của camera được thể hiện tối đa, để chỉ cần 82 phút phim với hai màu đen trắng và tỉ lệ khung hình 4:3 đã từ lâu không còn nhiều người sử dụng, đạo diễn Pawel Pawlikowski đã một cách kiệm lời và tiết chế để mạch chuyển tự nó diễn ra, tự nó đi đến hồi kết, tự mỗi nhân vật tìm thấy mình, tự con người Ba Lan lột tả được chân thực đất nước mình trong bối cảnh xã hội như vậy. Tất nhiên, phải kể đến khả năng hóa thân tuyệt vời vào nhân vật của hai diễn viên Agata Kulesza và Agata Trzebuchowska. Những vai diễn tưởng như đơn giản, ít lời nhưng thực sự nó cần sự tinh tế và khả năng truyền đạt cảm xúc sâu sắc. Ở Wanda ta thấy sự tổn thương, nỗi đau được giấu kín trong sự buông tuồng hưởng thụ dường như quá đà trong cuộc sống, sự mạnh mẽ và từng trải để rồi đi đến một kết cục mà dường như rất hợp lý cho tất cả những gì bà đã trải qua. Ida ngược lại, ít nói, ngay cả nghe tin bố mẹ đã chết trong chiến tranh cô cũng không biểu cảm gì, đó là một trái tim thuộc về Chúa, chỉ đang đi chứng kiến cuộc đời thực sự ra sao, niềm tin của cô là mãnh liệt và ngoan đạo, một niềm tin càng được tôi đúc khi nó hiểu hơn những tội lỗi của con người, của chính bản thân mình. Đôi mắt có thần, khuôn mặt được thể hiện đầy ám ảnh. Agata Trzebuchowska thực sự có một vai diễn xuất sắc.
Với những thước phim đen trắng, tiết tấu chậm và quá sức giản dị, ba con người xuất hiện trong 80 phút phim cho thấy ba cách nhìn cuộc sống, ba cách lựa chọn dùng cuộc đời mình thế nào. Lựa chọn sống cuộc đời thường nhật của Lis khiến ta bâng khuâng; lựa chọn sống thanh tịnh, phụng sự đấng siêu nhiên của Ida khiến ta băn khoăn liệu Chúa có ở khắp nơi và có đang tồn tại; hay lựa chọn nhẹ bẫng mà đớn đau của người dì Wanda khiến ta tê buốt.
Sinh ra dưới chế độ cộng sản Ba Lan và rời khỏi đó năm 14 tuổi, đó cũng chính là ý niệm để Pawel Pawlikowski khiến bộ phim Ida có chiều sâu và cá tính như vậy. Chiến tranh dù lùi xa, nhưng bản thân xã hội chủ nghĩa hay bất kì một chế độ chính trị nào cũng đều tạo nên những cuộc chiến bên trong bản thể của mỗi người, giữa tốt và xấu, giữa những lựa chọn mà chính thể chế đó đặt vào tay mình, buộc mình phải đi theo, để từ đó, ẩn ức xuất hiện và được lưu giữ, nó khiến cho mỗi người chúng ta ai cũng phải thành một phần của lịch sử, một phần của xã hội. Lúc đó, chúng ta phải hiểu mình, biết mình là ai, biết quá khứ của mình, để chiến thắng số phận, để tìm được bình yên cho cuộc sống.


Sức mạnh của máy quay được thể hiện tối đa để chỉ với 82 phút phim cùng hai màu đen trắng và tỉ lệ khung hình 4:3 đã từ lâu không còn nhiều người sử dụng, đạo diễn Pawel Pawlikowski đã kiệm lời và tiết chế cho mạch truyện tự diễn ra, tự đi đến hồi kết, tự mỗi nhân vật tìm thấy mình, tự con người Ba Lan lột tả được chân thực đất nước mình trong bối cảnh xã hội như vậy.




Một số hình ảnh trong phim

Khi Ida ra đời, bộ phim là một thách thức với những ai đã quen phong cách làm phim thương mại truyền thống của Hollywood. Âm nhạc và lời thoại cực kỳ tiết chế. Máy quay lười biếng đến độ gần như không bao giờ chuyển động (gợi nhớ phong cách đặc trưng của Apichatpong Weerasethakul). Phần hình ảnh đầy khiêu khích: giữa khung hình tiêu chuẩn là những bố cục lệch chuẩn, nhân vật luôn luôn bị dồn vào một góc, đôi khi xuất hiện giữa màn ảnh chỉ với một gương mặt nhỏ xíu, hệt như thân phận bé mọn của họ trong xã hội.





Lễ Thánh trọn đời


Hãy quên đi, làm lại cuộc đời

Lis nhờ xe

 Dì Wanda từ biệt cuộc đời


An táng di hài bố mẹ và con dì Wanda



Hình ảnh hai dì cháu đi tìm gia đình


Gặp và chia sẻ với Lis  lần đầu

Ấn tượng một câu nói cuối phim: Hãy quên đi, làm lại cuộc đời


IDA Movie Trailer (2014)

im


Xem phim https://bongngo.tv/xem-phim/nu-tu-ida-5834/

Thích Nhất Hạnh: Người đánh khẽ tiếng chuông Tỉnh thức cho thế giới

Thích Nhất Hạnh: Người đánh khẽ tiếng chuông Tỉnh thức cho thế giới


Trong suốt quá trình lịch sử Việt, trên bình diện triết và đạo học, trí thức Việt chỉ có giao lưu với thế giới Âu Mỹ trên con lộ một chiều. Văn hóa Việt chỉ du nhập và tiếp thu những sản phẩm tư tưởng từ Tây phương - chứ chưa hề có nhân vật nào có khả năng khai mở một dòng tri thức từ Việt Nam để đem gieo giống tư duy ra hải ngoại. Thiền sư Thích Nhất Hạnh có lẽ là người đầu tiên và duy nhất đã làm được chuyện này.

Đó không phải là một đánh giá chủ quan quá cao - mà là một sự thể học thuật khách quan. Hãy đi vào Wikipedia, trang tự điển bách khoa trên mạng, gõ tìm “Thich Nhat Hanh”, để đọc danh sách những cuốn sách bằng Anh ngữ mà Nhất Hạnh là tác giả. Hầu hết các tác phẩm trên đều đã được chuyển ngữ ra các ngôn ngữ lớn trên thế giới.

Hãy đi vào các hiệu sách ở Âu Mỹ, trên những kệ sách về tôn giáo và triết học, để nhìn thấy hàng loạt sách Nhất Hạnh được trưng bày ngang với tầm nhìn của khách hàng. Hãy đi vào các phòng sách giáo khoa của các đại học ở Hoa Kỳ và Âu châu để thấy những tác phẩm Nhất Hạnh là các đầu sách bắt buộc phải đọc cho sinh viên về các khoa tâm lý, triết học, tôn giáo và văn hóa.

Ở các phân khoa triết học và tôn giáo tổng hợp Đông Tây, tư tưởng Nhất Hạnh đứng vị trí cao trọng hàng đầu - có lẽ chỉ có đứng đằng sau Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng trong dòng triết học Phật giáo và Á châu.

Hạt giống tư tưởng mà Nhất Hạnh gieo cho khối nhân loại Tây phương là hai ý niệm Từ bi và Tỉnh thức. Có thể nói rằng, phong trào Chánh niệm - Mindfulness - vốn đang lan tỏa trên nhiều bình diện văn hóa và tâm lý hiện nay ở Âu Mỹ được khởi động và phát huy bởi Nhất Hạnh.





















Đây là một hiện tượng văn hóa không mang nội dung hay hình thái tôn giáo - dù rằng gốc rễ của hai ý niệm về Tỉnh thức và Từ bi mang nội dung Phật giáo Đại thừa và truyền thống thiền định Đông phương. Nhất Hạnh đã khai mở nền móng ý niệm Tỉnh thức từ gốc rễ thiền của đạo Phật qua lăng kính và truyền thống thiền của Việt Nam. Do đó, ta có thể nói rằng, tư tưởng và thực hành Chánh niệm mà Nhất Hạnh khởi xướng và rao giảng khắp thế giới chính là tư tưởng Việt Nam.

Tính ưu việt của tư duy đạo học và triết học Chánh niệm mà Nhất Hạnh truyền bá là khả thể vươn thoát khỏi tư tưởng nhà Phật truyền thống vốn đã từng mang nhiều sắc thái tôn giáo huyền bí. Nhất Hạnh - không những chỉ là một tu sĩ Phật giáo, mà là một triết gia Tỉnh thức - đã thành công trong việc kiến tạo một hệ thống tư tưởng tâm lý học và đạo học mới. Bằng một hệ quy chiếu và tiêu chuẩn tư duy hiện đại, với một thể loại ngôn từ cập nhật, mang bản sắc thực nghiệm, tư tưởng Nhất Hạnh đã thẩm thấu sâu sắc vào tâm lý cũng như ý thức con người Âu Mỹ hiện nay.

Chìa khóa thành công của Nhất Hạnh nằm nơi sự khai mở được lớp vỏ huyền bí của ý niệm thiền định và tâm Từ bi để chỉ thẳng vào trái tim Đạo lý mà trong đó đức tin thần học nay đã được chuyển hóa và nâng cao thành khả thể khai sáng cho tri thức và hành động.

Từ đó, với Nhất Hạnh, phong trào Chánh niệm đang lan tỏa ở Âu Mỹ hiện nay là cả một trào lưu hiện sinh mới cho các tầng lớp quần chúng ưu tú và trẻ trung nơi các khối nhân loại Tây Âu. Đây là một con lộ sinh thức thực tiễn trên nền tảng Tiếp-hiện (Inter-Being) cho một đời sống Tinh thần không Tôn giáo - Spirituality without Religion.

Khi các thế hệ trí thức trẻ cấp tiến Âu Mỹ từ bỏ tôn giáo truyền thống cha ông, họ đã đi vào một khoảng trống sâu và lớn ở năng lực tinh thần; khi mà triết học Tây Âu nay đã khô cạn hết niềm hứng khởi siêu hình mà chỉ còn loay hoay với phân tích ngôn ngữ, thì Nhất Hạnh đã mang đến cho khối nhân loại đó - vốn đang khao khát một đời sống tinh thần - một bát nước Chánh niệm đơn giản và tươi mát nhưng không thiếu chiều sâu về bản thể và nhận thức luận.

Nhất Hạnh không nhân danh chân lý, không tự cho mình là bậc thầy để trao truyền kiến thức. Mà khác đi. Như là một người đánh khẽ tiếng chuông Tỉnh thức, Nhất Hạnh chỉ là người hướng dẫn cộng đồng nhằm khơi mở một câu chuyện bình dị, bắt đầu một cuộc đối thoại đơn giản - tất cả đều nhằm nhắc nhở nhân loại rằng, mọi sự thật hay ảo tưởng, giác ngộ hay vô minh, tất cả chỉ là hiện thân cho một tầm mức khai sáng nơi trình độ tự ý thức và bản sắc sinh hiện trong Chánh niệm của từng cá nhân.


Ngôi sao truyền hình Mỹ Oprah Winfrey đàm đạo cùng Thiền sư Thích Nhất Hạnh, 
người mà cô được đặc cách phỏng vấn vào tháng 9.2009 tại New York. Ảnh: Rob Howard

Nếu một ngày nào đó, bạn đi về một làng quê xa xôi ở miền Trung Việt Nam, bạn có thể sẽ thấy một em bé chăn trâu, ngồi bên ngôi mộ vắng giữa cánh đồng trơ trọi, chăm chú đọc Thả một bè lau của Nhất Hạnh, hay bạn bước vào một tiệm sách ở phố xá đông đúc Hà Nội hay Đà Nẵng, hay Tokyo, hay Madrid, bạn sẽ thấy độc giả đang đứng nhìn từng bìa sách của Nhất Hạnh - thì bạn nên nhớ rằng, ở cùng thời điểm ấy, trong một căn hộ nhỏ ở Paris, hay nơi một ghế đá công viên ở Munich, hay là trong thư viện Đại học Stanford, California, một sinh viên tâm lý học nào đó đang nghiên cứu The Miracle of Mindfulness (Phép lạ của Tỉnh thức), hay là một phụ nữ trung niên, một nhà giáo đã nghỉ hưu ở San Diego, Mexico City, đang đọc và thưởng thức về một bản sắc ý nghĩa của Chánh niệm với Understanding Our Mind (Để hiểu về tri thức). Khi đó, bạn sẽ thấy câu chuyện gieo hạt giống Tỉnh thức của Nhất Hạnh đã được lan truyền và phổ cập hóa trên thế giới như thế nào.

Và cũng lúc ấy, bạn sẽ hiểu tại sao khối nhân loại cấp tiến tiền phong Tây phương đang đón nhận Nhất Hạnh với vòng tay lớn. Từ Jack Kornfield, nhà văn nổi tiếng, đến Jim Yong Kim - nguyên chủ tịch Ngân hàng Thế giới, đến Marc Benioff - nhà sáng lập công ty Salesforce... là những học trò lừng danh của Nhất Hạnh. Họ không phải là những đệ tử theo truyền thống thầy-trò cũ. Họ đến với Nhất Hạnh trong tinh thần tư duy và đạo học duy lý và tỉnh thức. Như bà Elizabeth Gilbert, một nhà văn Mỹ, được trích trong Wikipedia tiếng Việt, đã phát biểu về Nhất Hạnh rằng:

“Nhà sư vĩ đại người Việt Nam, nhà thơ và sứ giả hòa bình, người đàn ông Việt Nam nhỏ nhắn này đã thu hút chúng tôi từng người một vào tĩnh lặng của ông. Hay có lẽ chính xác hơn nếu nói Thầy đã đưa từng người chúng tôi vào trong yên tĩnh chính mình, vào trong an tịnh mà mỗi người chúng tôi vốn đã sở đắc nhưng chưa khám phá hay khẳng định. Khả năng Thầy đã phát khởi trạng thái này trong tất cả chúng tôi, chỉ bằng sự hiện diện của Thầy - đây là một năng lực thiêng liêng. Và đấy là lý do ta tìm đến một Sư phụ: Với hy vọng là công đức của Thầy sẽ soi rạng cho ta sự cao quý khuất lấp nơi chính mình”.

Đến với từng người, từng cá nhân, từng nhóm nhỏ, hay với những khóa giảng cho cả ngàn người, từ hơn nửa thế kỷ qua, Nhất Hạnh đã đi khắp địa cầu, gõ nhẹ từng tiếng chuông, gieo hạt giống Tỉnh thức cho nhân loại.

Từ nay, lịch sử tư tưởng và triết học Tây phương và thế giới đã ghi thêm tên một triết gia quen thuộc, một nhà đạo học tiên phong - một con người đến từ Việt Nam: Thích Nhất Hạnh. 
Thích Nhất Hạnh (tên khai sinh Nguyễn Xuân Bảo, sinh ngày 11.10.1926) là một thiền sư, giảng viên, nhà văn, nhà thơ, nhà khảo cứu, nhà hoạt động xã hội, và người vận động cho hòa bình người Việt Nam.
Ông sinh ra ở Thừa Thiên-Huế, miền Trung Việt Nam, xuất gia theo Thiền tông vào năm 16 tuổi, trở thành một nhà sư vào năm 1949. Năm 1973 khi Hiệp định Paris được ký kết, ông bị cấm về Việt Nam và ở lại Pháp từ đó đến nay.
Thích Nhất Hạnh được một số tờ báo đánh giá là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ hai ở phương Tây chỉ sau Đạt Lai Lạt Ma. Ông là người đưa ra khái niệm “Phật giáo dấn thân” (engaged Buddhism) trong cuốn sách Vietnam: Lotus in a Sea of Fire của ông.
Thích Nhất Hạnh đã viết hơn 100 cuốn sách, trong số đó hơn 70 cuốn bằng tiếng Anh. Ông là người vận động cho phong trào hòa bình, với các giải pháp không bạo lực cho các mâu thuẫn. (Wikipedia)

Nguyễn Hữu Liêm - Tiến sĩ luật khoa, tiến sĩ triết học (Hoa Kỳ), hiện là giáo sư triết học tại San Jose City College, California

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Sacsayhuaman và Tiahuanaco thần bí

Sacsayhuaman và Tiahuanaco thần bí 

Ở châu Nam Mỹ có 2 nơi thần bí: Sacsayhuaman và thành Tiahuanaco hấp dẫn đông đảo các nhà khảo cổ trên thế giới.

Tiahuanaco

Kim tự tháp Akapana, Tiahuanaco, Bolivia. Franciso Javier Argel


Tượng đại thần (Ảnh: dudeman) 

Ở Tiahuanaco thần bí, trong vũng bùn đã khô cạn các nhà khảo cổ tìm thấy một loại lịch thiên văn đưa ra những căn cứ và sự thực, chứng minh rằng: Sinh vật làm ra và sử dụng loại lịch thiên văn này có một nền văn mình và văn hóa cao hơn rất nhiều so với loài người chúng ta ngày nay. Ở đây các nhà khảo cổ còn có một phát hiện kỳ lạ nữa là Tượng đại thần. Tượng thần được tạc bởi nguyên một khối nham thạch màu hồng, dài 8,5m nặng hơn 30 tấn, được tìm thấy trong Cổ thần miếu. Các nhà khoa học đã không thể lý giải được hàng trăm ký hiệu vô cùng tinh xảo trên áo của tượng thần và kỹ thuật xây dựng công trình kiến trúc để bảo tồn tượng thần rất nguyên thủy nhưng lại vô cùng siêu việt. Chính từ sự nguyên thủy của kỹ thuật xây dựng này mà công trình đó mới được gọi là Cổ thần miếu. 

Thần nước là một di tích nằm ở phía đông của khu phức hợp khảo cổ Tiwanaku


Belami và Aron trong cuốn "Tượng đại thần của Tiahuanaco" đã có những giải thích tương đối hợp lý đối với những ký hiệu đó. Họ cho rằng, những ký hiệu này ghi lại rất nhiều kiến thức thiên văn học, hơn nữa những tri thức đó lấy sự thực Trái đất hình tròn làm cơ sở. 

Những quan điểm này của họ hoàn toàn đồng nhất với quan điểm của Horbeca trong cuốn "Học thuyết vệ tinh". Trong khi đó, cuốn sách của Horbeca xuất bản năm 1930 sớm hơn 5 năm so với việc phát hiện ra bức tượng thần. "Học thuyết vệ tinh" chỉ ra, có một vệ tinh đã từng bị Trái đất hút. Khi vệ tinh bị kéo về phái Trái đất thì tốc độ quay của Trái đất trở nên rất chậm, cuối cùng thì vệ tinh bị vỡ ra làm nhiều mảnh và sản sinh ra Mặt trăng. Những ký hiệu trên tượng thần cũng ghi lại một cách chính xác lý luận về hiện tượng thiên văn này. 

Hồi đó, một năm Trái đất có 290 ngày, mỗi năm vệ tinh quay quanh Trái đất 427 vòng. Do vậy, tính ra lịch thiên văn trên tượng thần đã ghi lại hiện tượng thiên văn từ 27.000 năm trước. Belami và Aron đã viết trong sách: "Nói tóm lại là ấn tượng của bài văn trên tượng thần là một ghi chép để lại cho hậu thế". 


Nói một cách chính xác, tượng thần đó là một vật rất cổ. Nếu chỉ nói rằng "đây là tượng thần cổ đại" thì chưa chuẩn nên các nhà khoa học cần có một cách giải thích chính xác hơn nữa. Nếu cách giải thích của Belami và Aron đủ chứng thực thì không thể không đặt câu hỏi: Như vậy, ngay cả việc xây nhà cũng cần phải học tập những người có khả năng tích lũy những kiến thức thiên văn ấy ư? Những kiến thức ấy họ học từ đâu, có thể nào từ một nền văn minh của người ngoài hành tinh? Bất luận thế nào, tượng thần và lịch thiên văn ấy đã thể hiện tính phức tạp của một tri thức làm cho chúng ta vô cùng kinh ngạc. 


Quang cảnh thành Tiahuanaco trước Cổng Mặt trời (Ảnh: dudeman) 

Một phần của Tiahuanaco

Thành Tiahuanaco nằm trên cao nguyên cao 5000m so với mực nước biển còn chứa đầy những điều thần bí. Xuất phát từ Cuzco của Vicero, đi mấy ngày tàu biển và tàu hỏa chúng ta mới đến được địa điểm khai quật thành phố. Cảnh tượng cao nguyên này trông giống như một hành tinh khác: 



Cổng Mặt trời (Ảnh: dudeman) 


Chi tiết, Cổng mặt trời, Tiahuanaco. 
Bức phù điêu trên cùng này nằm trên một khối đá Andesite duy nhất nặng 10 tấn.

Về mặt sức khỏe, đối với một người không phải là dân bản địa thì khó có thể chịu đựng được bởi áp suất ở đây rất thấp, chỉ bằng khoảng 1/3 so với mặt biển; hàm lượng dưỡng khí trong không trung vô cùng ít, chỉ chiếm 1/3 mức bình thường. Nhưng trên cao nguyên này đã từng có một thành phố. Bây giờ chỉ còn lại một đống phế tích hoang tàn, khắp nơi đầy những dấu ấn bí mật cổ xưa thần bí khôn lường. Bức tường của Thành Tiahuanaco được xây bằng những tảng nham thạch nặng 150 tấn, xếp lên những tảng đá nặng 70 tấn. 


Cận cảnh đầu mộng bằng đá được chạm khắc trên tường của Đền Bán ngầm của Tiwanaku.


Mặt ngoài của đá được mài sáng bóng, độ lớn của các góc ghép với nhau cũng chính xác tuyệt đối, đều dùng mộng bằng đồng để liên kết, thế mà chúng gắn với nhau rất chặt. Ở một số tảng đá nặng khoảng 10 tấn, các nhà khảo cổ học phát hiện ra một số lỗ sâu tới 3m, những cái lỗ này được dùng để làm gì cho tới nay vẫn chưa ai giải thích được. 



Tiwanaku  - Versunkener_Hof

Từ một tảng đá bảy lên, người ta nhìn thấy ở dưới có những phiến đá mài lớn dài tới 5m, có những vòi nước bằng đá dài 2m to 1m giống như những thứ đồ chơi rơi lả tả trên mặt đất. Có thể những di vật này do một đại họa nào đó tạo nên, những ống nước này được chế tác rất tinh xảo so với ống nước xi măng cực chuẩn ngày nay cũng còn thua kém nhiều. Tổ tiên của người Thành Tiahuanaco không có những công cụ tiên tiến, tại sao họ lại làm ra được những ống nước vô cùng tinh xảo như vậy? Điều này thực sự cho tới nay chưa ai giải thích được. 


Một số những đầu tạc tượng bằng đá thể hiện những giống người khác nhau 

 Hình người, được tìm thấy ở Tihuanaco
Trong cái sân đã được sửa chữa, các nhà khảo cổ tìm thấy một đống lộn xộn với những đầu tạc tượng bằng đá. Nhưng khi xem kỹ lại mới thấy những đầu tượng này thể hiện nhiều giống người khác nhau: người môi mỏng, người môi dày, người mũi dài, người mũi tẹt, người tai to dày, người tai nhỏ mỏng, người lộ rõ góc cạnh, người ôn hòa nhã nhặn và còn có một số đầu tượng đội những cái mũ kỳ lạ. Tại sao có nhiều giống người khác nhau đến thế? 

Ở đây còn có Cổng Mặt trời được làm từ một tảng đá nguyên khối lớn, nặng tới khoảng 10 tấn. Hai bên Cổng có những bức đồ án hình vuông, quây lấy một bức tượng giống như tượng phi thần (Thần biết bay). Truyền thuyết của Thành Tiahuanaco kể lại rằng, ngày xưa có một phi thuyền từ trên trời bay xuống. Từ phi thuyền có một phụ nữ tên là Malianna bước ra với nhiệm vụ sẽ trở thành "Người phụ nữ vĩ đại" của Trái đất. Malianna chỉ có 4 ngón tay, giữa các ngón tay đều có màng. Bà mẹ vĩ đại Malianna sinh được 70 người con cho Trái đất, sau đó bay về trời. Ở Tiahuanaco cũng có bức tường đá vẽ một sinh vật có 4 ngón, tuy nhiên niên đại của bức tranh này chưa thể xác định được. 



Tượng phi thần (Ảnh: dudeman) 

Sacsayhuaman

Ngoài Thành Tiahuanaco ra, di tích đáng để người ta nói tới là Pháo đài Sacsayhuaman, cách thành Inca nổi tiếng không đầy 900m. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi vào thời ấy các cư dân ở đây đã dùng kỹ thuật gì mà từ bãi đá họ chọn ra những tảng đá lớn nặng tới hơn 150 tấn, sau đó vận chuyển tới một nơi rất xa để tiến hành gia công đục đẽo Pháo đài phòng ngự Sacsayhuaman. Khi đã đục đẽo đủ 4 tầng, họ chuyển pháo đài về đặt trong một núi lửa. Tảng đá khổng lồ này đã được điêu khắc tinh xảo và tỉ mỉ, có hình thang và sườn dốc, có hốc mắt và đường hoa văn hình xoắn ốc trang trí, làm nên một tảng đá lớn vô tiền khoáng hậu như vậy chẳng phải là cái thú nhàn tản của người Inca cổ ư? Nhưng thật khó tưởng tượng nổi người Inca cổ có thể dùng bàn tay của mình, dựa vào chính sức lực của mình để khai thác rồi vận chuyển và đục đẽo những tảng đá khổng lồ thành một pháo đài đẹp kỹ vĩ. Chắc hẳn, để làm được việc này họ cần phải có một sức mạnh ghê gớm. Nhưng người Inca cổ làm việc này để đạt mục đích gì và đã làm như thế nào? 


Pháo đài Sacsayhuaman (Ảnh: peruexpediciones) 

Ngoài ra, ở một nơi cách tảng đá khổng lồ trên 800m các nhà khảo cổ còn phát hiện thấy một tảng nham thạch dạng pha lê, loại nham thạch này chỉ có thể hình thành từ đá nung với nhiệt độ cực cao. 





Nơi cỏ dại um tùm của thành Tiahuanaco còn có những ngọn núi nhỏ, những ngọn núi này đích thực là do con người tạo nên. Đỉnh núi bằng phẳng, diện tích rộng 5000m2. Không biết những ngọn núi ấy có tàng trữ vật liệu kiến trúc gì không? Cho đến nay, vẫn chưa có ai tìm hiểu về điều kỳ diệu này. 





Di tích cổ này được xây dựng từ các tảng đá lớn (khoảng 300 tấn) nằm xếp lớp theo một trật tự hết sức độc đáo và đẹp mắt. Phải nói rằng, kĩ thuật xây dựng mà người xưa áp dụng để tạo nên công trình lịch sử này đến nay vẫn còn là “bài toán khó” chưa được “giải đáp” đầy đủ.





Theo ước tính của các nhà khảo cổ học, cấu trúc tường thành Sacsayhuaman dài khoảng 400 mét, cao 6 mét. Khoảng 6000 mét khối lượng đá được sử dụng để tạo nên công trình lịch sử vô giá này.





Trong khuôn viên Sacsayhuaman còn có thêm một phế tích nhỏ của nền văn minh Inca để du khách khám phá là Muyuqmarca. Di tích cổ này gồm có 3 bức tường dạng vòng tròn đồng tâm, liên kết với nhau bằng các bức tường đá khác.



Lễ hội truyền thống


https://youtu.be/aMKLebIIhH0

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2020

Họa sĩ Lưu Công Nhân: Một bậc thầy tĩnh tại

Họa sĩ Lưu Công Nhân (1929-2007): Một bậc thầy tĩnh tại


                           

                                   
Đến nay vẫn còn những tranh luận về việc phân kỳ sáng tác của Lưu Công Nhân, nhất là các giai đoạn tiêu biểu về thuốc nước (cách gọi khác của màu nước). Như những năm 1959-1964, khi ông đi vẽ từ miền Bắc đến Vĩnh Linh; như những năm 1984 – 1985, khi ở Hội An; hay tranh tĩnh vật lúc về già, giai đoạn sau những năm 1990. Nhưng điểm chung dễ nhận thấy nhất trong các vật liệu/ chất liệu tranh của ông là tinh thần tĩnh tại đến ngạc nhiên, đôi khi tĩnh tại ngay trong bão tố cuộc đời và thị phi lòng người.
.


Lưu Công Nhân sinh ngày 17. 8. 1929 tại xã Lâu Thượng, Việt Trì, Phú Thọ, mất ngày 21. 7. 2007 tại Đà Lạt, Lâm Đồng.

Những năm cuối đời, trong một bức thư gởi bạn, Lưu Công Nhân viết: “Hiện tôi đang làm bản thảo tuyển tập Lưu Công Nhân của Lưu Công Nhân, gồm trên 1.000 ảnh chụp tranh và những bài viết của tôi lai rai suốt 50 năm, sơ thảo đã xong 11-12 cuốn”. Các con số này cho thấy sức làm việc đáng nể của ông.

Còn theo nhà thơ Lê Thiếu Nhơn: “Năm 1996, tôi có ghé thăm họa sĩ tại nhà riêng sau 10 năm ông định cư tại thành phố cao nguyên sương mù, ông chỉ bốn chiếc rương lớn: ‘Mỗi rương cỡ 1.000 bức tranh đấy!’. Vì vậy, tôi ngờ rằng, nếu tính cả cuộc đời sáng tạo thì Lưu Công Nhân vẽ hơn một vạn bức tranh”.

Ông được mệnh danh là “bậc thầy thuốc nước”, vì riêng vật liệu này, ông đã vẽ ít nhất 600 tác phẩm. Nó trải rộng qua các đề tài, từ cảnh làng Bắc bộ, cảnh Hội An- Huế- Mỹ Sơn, cảnh biển – vịnh Hạ Long, cảnh lao động, cảnh Tây Bắc…, cho tới khỏa thân, tĩnh vật, hoa… Xem lại những sách đã in, các bản thảo và cả các bộ sưu tập, ví dụ của Lưu Quốc Bình, của Lê Thái Sơn, của Ty Audio …, đặc biệt các tranh tĩnh vật, phong cảnh, chân dung trong bộ sưu tập của Apricot, thấy thuốc nước luôn giữ một vị thế đặc biệt, và tiêu biểu.
.


Năm 1995, ông tâm sự: “Từ tuổi niên thiếu đến nay ngoài sáu mươi, thường hay đi rong xóm làng, khi cuốc bộ, khi cưỡi xe đạp, thong thả ngồi vẽ cảnh và người”. Trở lại quá khứ, chúng ta thấy năm 1956 ông về vẽ ở xã Lê Lợi (Kiến An, Hải Phòng); các năm 1959 – 1964 đi vẽ từ Bắc đến Vĩnh Linh; năm 1970 mở xưởng họa ở Thác Bà (Vĩnh Kiên, Yên Bình, Yên Bái). Rồi các năm 1976-1983 đi vẽ ở Sài Gòn; các năm 1984-1985 vẽ ở Hội An; nửa cuối năm 1985 ở Ba Lan. Sau chuyến xuất ngoại hiếm hoi đó – vì ông không thích đi, ngay cả suất du học Liên Xô trước đó, ông cũng từ chối – năm 1986, ông thăm dò Đà Lạt, đi lại giữa thành phố này với Sài Gòn và vài nơi khác, cũng chỉ để vẽ. Năm 1990 ông định về xã Định Trung (Tam Đảo, Vĩnh Phú) ở luôn, do chán chường thế sự và những thay đổi về cảm xúc đời sống. Dù không phải là họa sĩ của cái nhìn chính trị, nhưng do tinh thần trí thức, ông chịu sự tác động lớn từ việc Bức tường Berlin sụp đổ tháng 11 năm 1989 và sự tan rã của Liên bang Xô Viết tháng 12 năm 1991. Sau giai đoạn này tác phẩm của ông càng tĩnh tại và u mặc hơn. Ông là họa sĩ của vô vàn triển lãm riêng và chung, giai đoạn này ông còn triển lãm nhiều hơn nữa. Về vật liệu, ngoài thuốc nước và giấy dó, ông còn vẽ khá nhiều sơn dầu, ký họa, thậm chí giai đoạn ở Đà Lạt ông còn thuê thợ phụ giúp làm sơn mài. Những năm cuối ông chọn sống và qua đời ở Đà Lạt.

Nếu phong cảnh nông thôn Bắc bộ, vịnh Hạ Long, Hội An, Tây Bắc… cho ông những trải nghiệm tinh tế về đời sống, để trong suốt hành trình hội họa, nó cũng giúp ông vững tin và miệt mài hơn với cuộc đi tìm sự tĩnh tại trong bộn bề hiện thực, thì giai đoạn Đà Lạt đã cho ông sự tươi nguyên, tự tại và u mặc trong cách đối diện với tĩnh vật (đặc biệt là hoa và các vật dụng thường nhật), cũng như phụ nữ khỏa thân. Câu nói tưởng như phi lý, nhưng rất hữu lý với ông: “Tôi vẽ tranh sơn dầu như vẽ tranh thủy mặc”. Ông đi ra từ hai ngôn ngữ này, sau đó, tìm cách liên kết, xóa nhòa các ranh giới.
.
Người thầy đầu tiên và trực tiếp của ông là họa sĩ Tô Ngọc Vân – khóa mỹ thuật kháng chiến tại Việt Bắc (1950-1953), nhưng thần tượng sâu kín của ông lại là Auguste Renoir (1841 – 1919), người Pháp. Renoir được nhà phê bình Herbert Read gọi là “hiện thân cuối cùng của truyền thống chuyển tiếp từ Rubens tới Watteau”. Renoir tiên phong về phong cách biểu hiện; luôn đề cao vẻ đẹp tự nhiên, đặc biệt cơ thể phụ nữ. Lưu Công Nhân chịu ảnh hưởng rất rõ về quan niệm này. Ông cũng xem và đọc rất nhiều sách mỹ thuật về thời Phục hưng ở châu Âu, về hội họa Trung Hoa (đặc biệt thủy mặc), về tranh dân gian Việt Nam. Lưu Công Nhân cho rằng việc một họa sĩ Việt Nam chịu ảnh hưởng từ truyền thống, từ bên ngoài là chuyện đương nhiên, còn cái riêng, nếu có, là do khả năng chắt lọc của từng người, đặc biệt, phải bày tỏ được cõi lòng riêng tư của mình. Chính cõi lòng riêng tư làm nên cốt cách, bản sắc của từng họa sĩ, từng dân tộc.

“Thường nhật, Lưu Công Nhân sống điều độ và nghiêm túc. Ông làm việc cần mẫn và có chương trình sáng tác cụ thể từng ngày. Trong quan hệ bạn bè cũng như nhu cầu ẩm thực, Nhân chọn lọc rất kỹ. Ông không thích uống rượu, cà phê hoặc hút thuốc lá. Thỉnh thoảng ông dùng một chai bia lạnh. Ông ham uống trà, lúc nào cũng có sẵn sàng một hộp chè móc câu Thái Nguyên và một bình nước sôi bên mình. Khi mời khách ông cẩn thận chuyên trà trong những bộ ấm cổ rất quý. Nào Mạnh Thần, nào Thế Đức gan gà hoặc men lam hay bạch định… Lưu Công Nhân cũng là người sưu tập đồ cổ kiểu tài tử”, họa sĩ Bùi Quang Ngọc kể.

So với thế hệ mình, Lưu Công Nhân thuộc số ít họa sĩ có tinh thần làm việc xuyên suốt, vẽ được khá nhiều tác phẩm. Những năm cuối đời, khi bị bệnh Parkinson, rồi bệnh phổi, tay chân rất yếu, phải ngồi xe lăn, nhưng ông vẫn vẽ. Với tinh thần tối giản, chỉ vài nét, vài “loang màu” là xong, nhưng những bức tranh ấy, đặc biệt các tĩnh vật, vẫn rất tĩnh tại, đủ văn cảnh. Dường như thời gian và bệnh tật, thậm chí cả cái chết, không suy suyển đến ông. Cũng giống như tay chơi Hy Lạp trong Alaxis Zorba của Nikos Kazantzakis, trước khi nhắm mắt vẫn nhìn thấy cô gái tươi ngon đi qua cửa, bức tranh cuối đời Lưu Công Nhân vẽ khỏa thân.
.
 

“Lưu Công Nhân trên con đường sáng tạo nghệ thuật là người gặp nhiều may mắn và thuận lợi. Trời ban cho ông một người vợ tuyệt vời. Bà suốt đời tận tụy với chồng con và luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để Lưu Công Nhân làm việc, chính bà cung cấp nguyên liệu vẽ và tạo nơi làm việc cho Nhân dù trong hoàn cảnh nào. Ông là họa sĩ trẻ đầu tiên ở Việt Nam được hưởng trở cấp sáng tác dài hạn, lại đươc nhà nước cho nhà riêng để vẽ ở Thác Bà. Lưu Công Nhân hiểu biết rộng. Ông có một tủ sách về nghệ thuật tạo hình khá đầy đủ và quý hiếm. Lưu Công Nhân sống mạnh mẽ, hơi ngang nhưng rất hài hước và chân tình. Có lần nghe tin cô ngồi mẫu cũ ở Sài Gòn gặp khó khăn, Nhân đã nhờ tôi chuyển ít tiền vào giúp cô”, Bùi Quang Ngọc kể.

Cuối cùng và có lẽ cũng quan trọng bậc nhất, đó là chất thơ xuyên suốt trong tranh Lưu Công Nhân. Sinh thời, ông ít khi nào chịu bán tranh, mà đã bán thì giá phải cao, phải tương xứng với sáng tạo bỏ ra. Thế nhưng, khi ông đã thích ai, đặc biệt các nữ nhà thơ, ông có thể tặng họ hàng chục bức theo năm tháng và cảm xúc. Sự tĩnh tại, tối giản, tươi nguyên và chất thơ là bốn trụ cột luôn hiện diện trong những tác phẩm thành công của Lưu Công Nhân.

Nhà thơ Ngô Kim Đỉnh kể rằng Lưu Công Nhân có tặng bản thảo bài thơ, do chính tay ông chép, nhưng chỉ nói “xem hộ cho người bạn tớ”. Dù bài thơ này của Lưu Công Nhân, hay của người bạn nào đó, thì cũng cho thấy một điều quan trọng: Nó diễn tả khá trọn vẹn cõi lòng và sự trân quý thơ của Lưu Công Nhân.
.


Tình yêu không thời gian

Gối cái lạnh gió mùa xứ Bắc
Càng vắng em anh càng nhớ thêm nhiều
Chúng ta như mái nghiêng những căn nhà trở gió
Dù thế nào anh vẫn yêu em
Chiều cuối năm
Lòng bơ vơ Tết
     ước một lần đi không cảnh tiễn đưa
     ước một lần bước ra từ vòm trời tranh vẽ
Vầng ngực em trần ngả thơm trên gối mẹ
Dành cho anh ấm áp những mái nhà
Sương rơi nhiều
Nhớ như Đà Lạt ngủ
Như hai mái nhà chấp cánh
     tình yêu không thời gian.

Lưu Công Nhân yên nghỉ trên triền đồi cây lá xinh tươi và tĩnh tại của Đà Lạt, đúng như lòng ông đã chọn lựa. Trên mộ chí có khắc lời của nhà văn Tô Hoài: “Lưu Công Nhân, người của kháng chiến và bình yên”. Qua độ lùi năm tháng và qua tác phẩm để lại cho đời, có lẽ “kháng chiến mà bình yên, tĩnh tại” thì gần gũi với ông hơn.

Những tác phẩm của Lưu Công Nhân

1. Chiến tranh và bình yên.

















































































Bình dân học vụ, sơn dầu, 1955
















































-----------






























-----------