Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2023

TÂM BÌNH YÊN TRONG TRANH HỒ HỮU THỦ

 

TÂM BÌNH YÊN TRONG TRANH HỒ HỮU THỦ

Nổi tiếng với hoạt động cách tân sơn mài từ sau năm 1975, đến nay, họa sỹ Hồ Hữu Thủ đã là một trong những cây đại thụ trong giới hội họa Việt Nam


Chân dung họa sỹ Hồ Hữu Thủ

Khi đi tìm cảm hứng và chủ đề để vẽ tranh, có nhiều họa sỹ ưa chuộng cách lấy hiện thực để nuôi dưỡng sự sáng tạo cho tâm hồn. Có người lại để cho mộng ảo tuôn trào để tạo nên những kiệt tác đậm tính mỹ cảm. Họa sỹ Hồ Hữu Thủ rơi vào trường hợp thứ hai.

Tranh của ông thể hiện sâu sắc nhiều loại cung bậc cảm xúc phức tạp. Có lúc, tranh phản ánh sự khắc khoải của một tâm hồn chới với, những nỗi thất vọng, buồn đau. Lại có khi, những tác phẩm mang đầy chất thơ, cho thấy sự an nhiên, tĩnh lặng của tâm hồn người họa sỹ.

Thời niên thiếu gắn liền với sơn ta



Charming Girl, tranh sơn dầu, 100x100cm.
Tranh trong bộ sưu tập của Green Palm Gallery.

Năm 1960, họa sỹ Hồ Hữu Thủ theo học khoa sơn dầu của trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia Sài Gòn sau vài năm học về trang trí nội thất, mỹ thuật ứng dụng trước đó. Từ khi tốt nghiệp năm 1964 đến nay, ông luôn trung thành với sơn ta.

Sơn ta là một chất nhựa được lấy từ cây sơn của Việt Nam. Sơn xuất hiện chủ yếu ở vùng Phú Thọ. Từ chất liệu ban đầu, họa sỹ sẽ pha với các bột màu tự nhiên để tạo thành màu vẽ. Cái độc đáo của sơn ta là pha với nước hay dầu đều được. Đặc biệt, sơn dùng càng lâu thì càng lên “màu thời gian” rất đẹp. Bên cạnh đó, sơn ta cũng là chất liệu được dùng phổ biến trong các sản phẩm thủ công mỹ nghệ nói chung tại Việt Nam.

Theo đó, các tác phẩm của họa sỹ Hồ Hữu Thủ ghi dấu bởi nét tự nhiên, ý nhị, đậm màu thời gian qua cách sử dụng nhuần nhuyễn chất liệu sơn ta. Sinh ra và lớn lên ở Bình Dương – cái nôi của sơn mài mỹ nghệ truyền thống của miền Nam, không có gì lạ khi Hồ Hữu Thủ đam mê và theo đuổi chất liệu độc đáo này.

Thậm chí, Hồ Hữu Thủ còn từng nêu ý kiến muốn đổi tên sơn mài thành “sơn ta tổng hợp”. Bởi theo ông, “sơn mài” không nên bị trói buộc vào định kiến là phải luôn bóng và láng.


Whisper, tranh sơn mài, 61x61cm.
Tranh trong bộ sưu tập của Green Palm Gallery

Giải tỏa cho tâm hồn bằng hội họa

Đối với họa sỹ Hồ Hữu Thủ, vẽ tranh là một sự giải tỏa cảm xúc cho tâm hồn. Thế giới nghệ thuật mà ông xây đắp nên mang đậm tính thăng hoa, giàu tính mỹ cảm.

Trước đây, các tác phẩm đa phần được vẽ theo phong cách siêu thực và lãng mạn. Sau đó, ông chuyển sang vẽ tranh trừu tượng. Tranh ít xuất hiện chi tiết, đường nét. Mà ngược lại, họa sỹ tạo nên cái hồn của cảnh vật bằng cách vẽ rất ít chủ thể. Sự cô đọng trong bố cục đã tạo nên đặc trưng riêng trong các tác phẩm của ông.

Chủ đề trong tranh của Hồ Hữu Thủ thường là người phụ nữ, hoa sen, mảnh trăng. Có lúc, các chủ thể này xuất hiện đơn lẻ. Đôi khi, chúng đi thành từng cặp hoặc thậm chí là bộ ba. Các cô gái khi thì quấn quít, lả lơi cùng nhau. Khi lại ngồi một mình ngắm trăng, toát lên vẻ đẹp cô đơn, bí ẩn, lạ kỳ và đầy sức hút.

Lotus Season, tranh sơn mài, 100x100cm.
Tranh trong bộ sưu tập của Green Palm Gallery.






Echoes of Happiness, tranh sơn dầu, kích thước 100x200cm.
Tranh trong bộ sưu tập của Green Palm Gallery.

Sáng tạo từ tâm thức

Họa sỹ Hồ Hữu Thủ quan niệm sáng tác tốt phải là sáng tác bằng tâm thức. “Tâm thức là nguồn sáng tạo cho mọi người”, ông nói. Họa sỹ Hồ Hữu Thủ thường sáng tạo trong “tâm thức thiền”. Đây là cách nói của kiểu vẽ không lấy cảm hứng hay ý niệm. Hay nói cách khác là vẽ với một tâm hồn như đang “thiền”.

Cái đẹp trong tranh của ông luôn ôn hòa và sâu lắng. Có ý kiến cho rằng, điều này cũng gần như sự an nhiên mà người Việt Nam có được khi nghe nhạc Trịnh Công Sơn. Đây cũng là người nhạc sỹ mà họa sỹ Hồ Hữu Thủ rất thân thiết.

Red Dream II, tranh sơn mài, 50x42cm.
Tranh trong bộ sưu tập của Green Palm Gallery.

Hồ Hữu Thủ cắt nghĩa: “Để đi vào trạng thái vẽ vô niệm (không cảm hứng, không cảm xúc, không ý niệm…) thì người nghệ sĩ phải trải qua quá trình ý niệm nhiều lần rồi, đến khi làm chủ kỹ thuật và nguồn sáng tạo sẵn có thì mới vẽ sang vô niệm được. Khi sang vô niệm rồi thì giống như chỉ mở cánh cửa ra, lấy “tranh” ra bày lên mặt toan (mặt phẳng) một cách vô thức, không rào cản”.

Cùng với đó, trong nghệ thuật, họa sỹ Hồ Hữu Thủ vẫn luôn cố gắng bước ra khỏi những khuôn khổ, quy tắc thông thường để sáng tạo. “Tôi nói không dùng ý tưởng nữa, sáng tạo phải là cái mới hoàn toàn. Cái mới không được nằm trong đầu, chứ nằm trong đầu rồi thì là cũ. Sáng tạo là phải làm ra một chủ thể chưa từng có trong đời”, ông kết luận.



Under the moonlight, tranh sơn mài, 61x50cm.
Tranh trong bộ sưu tập của Green Palm Gallery.




Young Girl with Long Dress, tranh sơn dầu, kích thước 100×80 cm.
Tranh trong bộ sưu tập của Green Palm Gallery.





Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2023

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ

CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ

Người trong ảnh được cho là "em Pleiku má đỏ môi hồng" - nàng thơ trong bài Còn Một Chút Gì Để Nhớ của Thi sĩ Vũ Hữu Định.

Người yêu thơ và yêu nhạc có thể đã không biết tác phẩm này rộng rãi đến vậy nếu nhạc sĩ Phạm Duy không phổ nhạc nó vào năm 1970.

Vũ Hữu Định tên thật Lê Quang Trung, sinh năm 1942 (tuổi Nhâm Ngọ) tại Thừa Thiên - Huế trong một gia đình nghèo. Anh từng sống tại Tây Nguyên và Sài Gòn trước khi lập gia đình rồi định cư ở Đà Nẵng. Anh làm thơ đăng báo từ khoảng những năm 1960 với bút danh Hàn Phong Lệ hay Hàn Giang Tử, về sau đổi thành Vũ Hữu Định.

Nhà thơ vào đời sớm, lập gia đình cũng sớm và sống nghèo trong suốt quãng đời ngắn ngủi của mình. Anh là người mê rượu, nghèo khó nhưng thích phiêu bạt giang hồ, tính tình phóng khoáng và chơi rất hòa hợp với bạn bè.



Bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ đi kèm với tên tuổi Vũ Hữu Định. Tác phẩm gồm 4 khổ, mỗi khổ 4 câu, mỗi câu từ 7-8 chữ mang theo những hình ảnh nhẹ nhàng, mê đắm của phố núi Pleiku:

Phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương.

Phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng.

Em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa Đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong.

Xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.

Bài này được viết năm 1970 khi nhà thơ sang thăm một người bạn gái ở Pleiku. Cùng năm ấy, nó được đăng báo Khởi Hành của thi sĩ Viên Linh và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc rồi trở nên phổ biến với giọng hát Thái Thanh. Ca khúc được phổ theo nhịp 3/4, điệu Boston, lời thơ vẫn giữ nguyên với khổ thơ cuối được nâng thành cao trào.

Theo hồi ức của nhà văn, nhà báo Trương Điện Thắng đồng nghiệp với TAK tại Thanh Niên, anh quen biết Vũ Hữu Định đúng năm 1970 qua hai người bạn. Vũ Hữu Định lớn hơn 10 tuổi nhưng khi đã quen thân, các anh gọi nhau "mày, tao" hồi nào chẳng biết. Khi đó Thắng đang học Đệ nhị còn Định đã đi làm và ký tên Hàn Giang Tử khi làm thơ.

Rồi khi Thắng vào học ở Sài Gòn, một ngày Định về chỗ trọ, cầm theo tờ tuần báo Khởi Hành có đăng bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ. Lần khác anh về, lại khoe tiền của Phạm Duy trả tác quyền và anh đã nhờ Phạm Chu Sa cũng vừa là bạn vừa là đồng nghiệp của TAK làm cho giấy hoãn dịch vì lý do gia cảnh. Có giấy tờ, anh xin được việc ở nhật báo Quật Cường, viết tin cho trang văn nghệ.

Một thời gian ngắn chỉ trước hôm ký Hiệp định Paris (27.1.1973) mấy ngày, Vũ Hữu Định và Phạm Chu Sa phải bỏ trốn vì bị an ninh phát hiện dùng giấy giả. Tết năm 1973, do bị lùng bắt, anh trốn về Đà Nẵng bằng đường bộ và bị Quân giải phóng giữ lại mấy ngày tại khu vực đèo Bình Đê, thuộc huyện Tam Quan - Bình Định.

Nhìn lại, chính từ giai đoạn gần hai năm ở Sài Gòn, Vũ Hữu Định viết rất lên tay. Tuần nào anh cũng có bài, có khi là cả một chùm thơ, đăng trên các tạp chí Văn, Bách Khoa, Chính Văn, Thời Tập... Nhiều câu thơ hay của anh bây giờ nhiều người vẫn luôn nhớ. Anh rất vui tính và không bao giờ nói xấu hay nghĩ xấu về ai, kể cả trong bàn rượu.


Vũ Hữu Định đã sống một cuộc đời ngắn ngủi nhưng gian nan và đầy khao khát. Ở anh, dù có cuộc sống rất giang hồ nhưng lại một mực yêu thương vợ con. Những bữa cơm đạm bạc do tự tay anh sửa soạn cho các con anh, luôn ân cần và chu đáo cho dù trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề. Thường, sau những cuộc uống say nhừ tử, Định lại có thói quen phải về nhà với gia đình.

Lần cuối cùng, Định đã ra đi trong tâm thức trở về đó khi anh bước hẫng từ một sàn bê-tông không lan-can cao bốn mét và rơi xuống đất.

Tác giả Thu Tứ có viết một bài dài nhận xét về thơ Vũ Hữu Định, xin tóm ý:

“Thơ ông Vũ có những câu như ‘Mới hai tháng đã biết mùi bom đạn’, ‘… theo mẹ đêm đêm qua xóm, xách đèn rao khoai sắn cầm hơi’, ‘không nhớ hết nghề đã trải", "còn cả chục nghề thôi không kể’, v.v…

Thơ cho ta biết tác giả ‘đi như một anh hành khất’, nhọc nhằn đến nỗi ‘vừa vượt tuổi ba mươi’ đã thấy ‘đuối sức’, ‘đau lưng’. Thơ kể lể nông nỗi dọc đường, nhưng đến cuối đường thì thơ không cung cấp được chi tiết nào cả, vì Vũ Hữu Định bất đắc kỳ tử khi mới 39 tuổi.

Hoàn cảnh kém may mắn là thủ phạm chính, nhưng cứ theo lời bạn bè, chính Vũ Hữu Định cũng có góp phần làm khó đời mình. Ngay thơ ông cũng "mách": "... thả trôi cái sống cho đời dạt, mẹ buồn ta tóc trắng lưng cong".

“Mẹ buồn", mà tất nhiên chính "ta" cũng buồn.

Được cái Vũ Hữu Định nhiều bạn bè, nên lắm lúc khuây khỏa, nhưng hẳn mỗi khi bạn về rồi, rượu tỉnh thì "may mà có thơ (em) đời còn dễ thương".

Không biết thi sĩ sống ở quê đến năm mình bao nhiêu tuổi mà quê lại luôn to thế trong thơ. "Quê Vũ" đặc biệt ở chỗ chẳng những "thôn xóm quạnh", "nhà xưa điêu tàn", mà cả mồ mả "mẹ, chị, đàn em" cũng không có. Cho nên nhớ thôi là nhớ, chứ "thăm ai? thăm ai? ta về quê".


Các con cúa Nhà Thơ Vũ Hữu Định, bên mộ bố


Thơ Vũ Hữu Định buồn mà không chút hằn học, mỉa mai, không hề đụng chạm tới bất cứ ai, bất cứ cái gì. Nó trong sáng bất chấp thực tại. Về vật chất, Vũ Hữu Định suốt đời tay trắng. Nhưng về tinh thần, ông đâu phải người vô sản. Từ cái "không" của cuộc đời mình, ông đã nấu thành cái "có" là những bài thơ làm phong phú thêm cõi thơ vốn lắm những điêu linh từ thưở chiến tranh của dân tộc.

Để khép lại bài này, xin đọc một đoạn thơ khác của nhà thơ họ Vũ:

Con gái ngày Xuân như mới tắm
buổi mai sương ướt cỏ hoa ngời
lòng đá chợt mềm chao rất nhẹ
nhớ mình vừa vượt tuổi ba mươi.
Năm nay ăn Tết cùng ông quán
mồng Một đời cay miếng mứt gừng
chén rượu ngày Xuân sao đắng miệng
giang hồ nghe cũng đã đau lưng.
Vẫn đi như một anh hành khất
đuối sức nhưng quê đâu mà về
ta sống một đời mây nhuốm bệnh
bồng bềnh sầu đụn màu sơn khê.
Sáng nay nghe pháo ran ngoài phố
ngòi pháo đời ta cũng cháy ngầm
thấy gái Xuân tươi lòng cũng thẹn
chuồn chuồn xếp cánh đậu bâng khuâng.

Trịnh Anh Khôi
---
Ca khúc Còn Chút Gì Để Nhớ qua giọng ca Sĩ Phú:
https://youtu.be/Rv3D2sjdNC0.


Thứ Ba, 9 tháng 5, 2023

NGƯỜI PHỤ NỮ ĐỂ LẠI NHIỀU DẤU ẤN CHO NGHỆ THUẬT Ở HÀ NỘI


Alix Angèle Marguerite Aymé (Marseille 1894 - 1989)


NGƯỜI PHỤ NỮ
ĐỂ LẠI NHIỀU DẤU ẤN
CHO NGHỆ THUẬT Ở HÀ NỘI

(Nhưng không có tên phố ở Hà Nội.
Vì Thủ đô đã ních cứng hero và super man! - Sơn Hoàng Vũ
---
Người Hà Nội biết Bùi Xuân Phái, Lê Phổ, Tô Ngọc Vân hay Trần Bình Lộc. Điểm chung của các họa sĩ tài ba này là đã học trường Mỹ Thuật Đông Dương từ thập niên 1920 (Bùi Xuân Phái từ thập niên 40), và tất cả đều là học sinh của Alix Ayme.



Bà Alix Hava sinh năm 1894 tại Marseille (Pháp). Sau khi học nhạc, bà lại cảm thấy thích họa và dần dần chuyển sang học về các kỹ thuật đồ họa tại Toulouse. Thời đó bà đã tham gia trang trí mái của Champs Elysees - một trong số những nhà hát đẹp nhất ở Paris nằm ngay trên đại lộ nổi tiếng này.



Năm 1920, bà cưới chồng và cùng ông đến Hà Nội lần đầu năm 1925 (có tài liệu chép 1924). Trong vòng 2 năm, bà dạy vẽ ở các trường trung học (trong đó có Trường Bưởi).




Năm 1927, bà quay về Paris và sinh con trai. Tuy nhiên, ngay sau đó thì hai vợ chồng ly dị nhau và bà cùng với con trai quyết định quay về Hà Nội lần thứ hai.
Lần này chính phủ thuộc địa Pháp giao cho bà nhiệm vụ chuẩn bị Triển Lãm Đông Dương 1931. Và lần này bà để lại nhiều dấu ấn ở Hà Nội.




Năm 1931, sau triển lãm, bà kết hôn tại Hà Nội lần thứ hai với Đại tá Georges Ayme (anh ruột nhà văn nổi tiếng Marcel Ayme, tác giả của Người Đi Xuyên Tường).




Và kể từ đây giới nghệ thuật biết bà với cái tên Alix Ayme.




Bà bắt đầu cộng tác với Trường Mỹ Thuật Đông Dương từ 1931. Ban đầu dạy môn họa, bà bắt đầu tái tạo bộ môn sơn mài nghệ thuật cùng với Joseph Inguimberty (bộ môn đã bị lãng quên trong giới nghệ thuật lúc đó). Bộ môn sơn mài (Peinture sur Laque) là một thành công lớn của Alix Ayme. Các tranh sơn mài của Alix Ayme (hay của những học trò nổi tiếng của bà như Nguyễn Khang hay Nguyễn Sáng) là những tác phẩm nghệ thuật rất quý giá. Bà nghiên cứu các kỹ thuật sơn mài cũ của Pháp và truyền đạt lại cho các học sinh người Việt trong vòng gần 13 năm ở Hà Nội.




Sau Chiến tranh Thế giới Thứ 2, bà về hẳn Pháp và trở thành một trong những nghệ sĩ nổi tiếng ngành họa và sơn mài trang trí. Các tác phẩm của bà phần lớn là lấy cảm hứng từ Hà Nội và Đông Dương.





Ngày nay, giới nghệ thuật có thể coi bà Alix Ayme như là người tái tạo xu hướng hiện đại của ngành họa trên sơn mài ở Việt Nam.





*
Tham khảo :
Paliard Pierre, Un art vietnamien: penser d'autres modernités Le projet de Victor Tardieu pour l'École des Beaux-Arts de l'Indochine à Hanoï en 1924, Paris, L' Hamatta.

Phùng Ngọc Khoa





































































Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2023

CẢNH - SẮC HANAMI TRONG UKIYO-E




CẢNH - SẮC HANAMI TRONG UKIYO-E

Ukiyo-e, Phù Thế Hội, một trường phái hội họa phát triển mạnh mẽ trong thời Edo đã phản ánh tinh thần của thời đại này với các tác phẩm thể hiện sự thanh bình, những tranh tuyệt cảnh in mộc bản, tận hưởng cuộc sống, gợi dục và ăn chơi của giới nhà giàu. Đây được cho là thời đại ổn định chính trị, yên bình và phát triển kinh tế của Nhật Bản.

Hai bức tranh in cảnh-sắc mùa xuân, mùa hanami (xem hoa). Bên trái là cảnh cherry blossom của bậc thầy Hiroshige trong seri 36 cảnh đẹp Mount Fuji, bức còn lại của Torii Kiyonaga, vẽ một mỹ nhân (có thể là người đẹp của một khách làng chơi cao cấp) ăn mặc sang trọng với kiểu tóc cột obi phía trước và người hầu trẻ đang quỳ gối chống tay trên thảm đỏ nói chuyện với cô chủ bên gốc sakura.

Thuật ngữ #ukiyoe dịch ra có nghĩa là "những bức tranh của thế giới hư ảo".

Theo lịch dự báo sakura blossom toàn quốc năm nay, Kyoto và Osaka từ ngày 28/3 đến 11/4.


phong cảnh Koganei ở tỉnh Musashi - Utagawa Hiroshige (1959)
 

Cầu Kintaikyo


Tranh Hokusai 1831



Cây cầu gỗ đi bộ dài nhất thế giới

Kintaikyo được khởi công xây dựng vào ngày 10/8/1673, hoàn thành chỉ sau ba tháng và được khai trương vào ngày 11/11. Nửa năm sau cây cầu vòm này đã bị sập do bão cuốn phăng ba trụ vào ngày 1/7/1674. Chỉ sau ba ngày cây cầu mới được xây dựng lại với phần kết cấu móng đặc biệt chắc chắn và đưa vào sử dụng sau đúng bốn tháng tức ngày 3/11/1674.




Với kết cấu trụ cầu đặc biệt, cầu đã tồn tại được gần 300 năm trước khi bị bão lũ phá hủy năm 1950.

Kintaikyo, bắc qua sông Nishiki với năm nhịp mỗi nhịp dài 35 mét và tổng chiều dài là 175 mét, được xây dựng để nối thị trấn Iwakuni với lâu đài Iwakuni. Cho đến năm 1868, chỉ có lãnh chúa và thuộc hạ mới được phép sử dụng, nhưng bây giờ bất kỳ ai cũng được phép đi qua miễn là trả phí 300 yên.



Danh họa bậc thầy ukiyo-e là Hokusai đã vẽ cây cầu vào khoảng năm 1831, so với những hình ảnh hiện nay thì gần như có rất ít thay đổi trong thiết kế của nó này trong mấy trăm năm qua.




Kintaikyo được ghi vào sách kỷ lục Guiness là cây cầu gỗ đi bộ dài nhất thế giới.