Thứ Năm, 4 tháng 10, 2018

Chuyện ăn mặc của phụ nữ Hồi giáo

Chuyện ăn mặc của phụ nữ Hồi giáo: 
Đừng căn cứ vào trùm khăn và che mặt…
Sáng Ánh


Mua bán thảm. Tranh không rõ tác giả

Hồi giáo có mặt từ 15 thế kỷ, với 1,6 tỉ tín đồ trải trên khắp trái đất thuộc cả trăm dân tộc, cả ngàn sắc tộc chứ không phải riêng gì khu vực Trung Đông. Năm quốc gia hiện nhiều tín đồ Hồi nhất là Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangla Desh và Nigeria. Các quốc gia, các dân tộc này, từ Đông Âu đến Phi Châu, từ rừng già, hải đảo nhiệt đới đến núi tuyết hay sa mạc, hẳn đã có sẵn trước sự xuất hiện của Hồi giáo, với tập quán, khí hậu riêng biệt vùng miền trước khi nhập một đức tin chung. Cái nôi của tôn giáo này là bán đảo Ả Rạp thì cũng thế: sa mạc đã có trước Hồi giáo, và người Ả Rạp đã có trước Hồi giáo.


Tôn giáo này được phân chia thành 2 nhánh, Shia và Sunni, ngay sau khi thiên sứ qua đời. Ngành Sunni chí ít là có 4 giòng giáo luật, ngành Shia thì một tá phiên bản. Khác với Ki tô La Mã chẳng hạn, Hồi giáo không có một giáo hội thống nhất với 1 giáo hoàng, cho nên mỗi chùa đền đều có thể độc lập. Người Hồi chia sẻ với nhau 5 điều căn bản: Đức tin, Bổn phận cầu nguyện, Bổn phận từ thiện, Bổn phận tháng kiêng và Bổn phận hành hương.

“Cầu nguyện trong đền”, 1884, tranh của Bartolini Filipo (hoặc Frederico)

Kinh Thánh Qran thì được coi là tuyệt tác của ngôn ngữ Ả Rạp, và như mọi tuyệt tác, nó có rất nhiều diễn nghĩa, ngay cả trong tiếng gốc. Chẳng hạn, cho đến giờ, vẫn không rõ từ Jihad, y nghĩa là “thánh chiến” (với người ngoài đạo) hay là “tự thắng” (và tự thánh thiện bản thân). Giáo chủ Mohammad thì truyền thống cho là có để lại 60 điều cấm và răn dạy, một số là tuyệt đối và một số phải được hiểu là trong bối cảnh của thời điểm và khu vực.

Về trang phục Hồi, các điều răn cho nam cũng như nữ là là sự khiêm tốn và không phô trương, thứ nhất là nam không được dùng tơ lụa, trang sức vàng và nước hoa chẳng hạn. Đạo Hồi là một tôn giáo bình đẳng và điều này được ít nhiều tuân thủ, các vương tại các quốc gia Hồi giáo ngày nay trong trang phục truyền thống thì xem cũng nhang nhác như mọi người, chẳng lẫm liệt gì như các vương Tây phương. Riêng phần nước hoa thì hơi lạ, chuyện đùa là (ngày nay) đến đâu nghe nồng nặc mùi hương là biết có đàn ông Ả Rạp và có lẽ tại vậy mới phải khuyên răn. Nhưng họ nhiều râu, nếu cạo cho sạch thì 1 ngày cũng cần 3 lần, phải dùng nhiều after shave, cái gì cũng có lý do cả.


“Cầu nguyện ở Cairo”, 1865, tranh của Jean-Leon Gerome.

Sự “khiêm tốn”, tức là không phơi bày da thịt, phần nữ là ngực và bộ phận sinh dục, phần nam là từ rốn xuống đầu gối. Trong Qran không có đâu là cấm phụ nữ hở mặt hay phải đội khăn cả. Từ Hijab (che đậy), ta có thể hiểu là sự ngăn chia giữa riêng tư và xã hội bên ngoài hay là khăn che tóc (nhưng không che mặt) trong truyền thống. Nhưng nếu thế thì tại sao hiện nay một số lớn phụ nữ Hồi che tóc, một số khác che tóc và mặt, một số trùm áo ngoài? Đó là vấn đề văn hóa, cũng như nếu một số phụ nữ Việt mặc áo dài thì không hẳn đó là bởi vì họ theo đạo thờ cúng tổ tiên. Nói cách khác, nếu nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp mà là thiên sứ đạo, thì nữ tín đồ khắp nơi “tay em cầm cái nón quai thao, chân đi đôi guốc cao cao”.


Khi đạo Hồi đến khu vực Cận Đông, thì đã có phục trang như thế. Tại sao như thế, thì là nhu cầu của thời tiết, nam cũng như nữ đều kín mít phòng gió nắng như ta đi xe máy, chỉ chừa đôi mắt vì thời đó chưa phát minh ra kính mát mô đen. Ở đây nói thêm, có bạn hỏi là sao trời nóng mà phải trùm kín người, đó là bởi vì các bạn chưa trải nghiệm cái nóng 45oC hay 50oC, tức là cái nóng bên ngoài cao hơn nhiệt độ của thân thể. Trong trường hợp đó, áo quần như một cái lều và giữ bạn ở nhiệt độ 37oC.



Hồi giáo là phiên bản thứ ba của giòng tôn giáo độc thần Abraham, tức là hậu duệ của Do Thái giáo và Ki Tô giáo, và theo tín đồ Hồi thì Mohammad là thiên sứ cuối cùng của cùng một thượng đế. Cả ba đều xuất phát từ cùng một khu vực và giờ nếu ta nhìn trang phục của thày tu Ki tô hay nữ tu Ki tô, của tín đồ Do giáo truyền thống thì ắt sẽ thấy tương đồng với trang phục của người Hồi. Họ cũng đều áo trùm và che tóc, Do Thái giáo truyền thống đàn ông để râu và phụ nữ che mặt, đến nỗi để phục vụ cộng đồng đang lớn mạnh này tại Israel, cửa hàng Ikea mới ra một sách quảng cáo đồ dùng nội thất không có một bóng dáng phụ nữ.


Tín đồ Ki tô (giáo phái Copt) người Eritrea.


Tín đồ Ki tô chính thống Nga, ở đây là 3 vận động viên thế vận Ksenia Afanyseva, Victoria Komova, Aliya Mustafina đang cầu được huy chương trước London 2012. 



Tín đồ Do Thái giáo truyền thống tại Israel.

Khăn che tóc của phụ nữ Ki tô, vẫn còn phổ biến tại Đông Âu hay Nam Âu (Italy, Spain, Portugal, Greece…) vài mươi năm về trước, và ngày nay vẫn phổ biến khi đi lễ nhà thờ. Phu nhân Obama, khi sang thăm Saudi, không dùng khăn che tóc, nhưng đến viếng Giáo hoàng tại Vatican thì trang phục đen tuyền và đội khăn voan.


Nửa thế kỉ trước, số phụ nữ Hồi giáo tại quốc gia của họ hay tại các nước ngoài, trang phục cổ truyền ít hơn hiện nay. Nói bên lề, tại Israel, phụ nữ Do giáo trang phục cổ truyền vào lúc đó cũng thế hầu như không thấy. Sau Thế chiến thứ nhất và sự sụp đổ của đế quốc Ottoman (tiền thân của Turkey) là đế quốc Hồi giáo cuối cùng, người Hồi đã đi vào con đường cải cách và canh tân, quốc gia chủ nghĩa như ở Turkey hay ngay cả chế độ quân chủ chuyên chế tại Iran cũng vậy. Trong thập niên 30, vua Shah tại Iran cấm phụ nữ ra đường đội khăn, công an tịch thu và giật khỏi đầu họ. Phong trào này tương tự như Trung Quốc đàn ông xuống tóc cắt đuôi sam vào đầu thế kỉ 20.


Sinh viên nữ Iran những năm 1970s, trước thời cách mạng 1979 ở Iran.

Đến thập niên 50-60, khu vực hướng về quốc gia và xã hội chủ nghĩa để “thoát Tây”, tức là ảnh hưởng hậu thuộc địa và đế quốc của Tây phương. Đây là giai đoạn còn có cả hoàng thân Saudi chống lại quân chủ, vương quyền, và phụ nữ ở Kabul, ở Tehran ra đường mặc váy ngắn. Sự thất bại của phong trào này trong khu vực khiến từ thập niên 80 trở đi tư tưởng truyền thống, tức là truyền thống Hồi giáo, trở lại, thứ nhất là tại Iran. Cách mạng chống đế quốc và chống quân chủ chuyên chế thành công là ở các thày chứ không phải ở nhóm “Mác xít-Hồi giáo” nào. Tại các nơi khác, phong trào về nguồn cũng phát triển, dâng cao và biểu hiện của nó là trang phục truyền thống.


Sinh viên đại học Kabul, Afghanistan 1972.

Tại sao chống Tây phương và ảnh hưởng của đế quốc lại phải về nguồn? Văn minh và đế quốc Hồi giáo, trong quá khứ, đã từng là siêu cường số 1 của thế giới trong khi Âu châu còn man rợ và u mê tín điều. Nói đơn giản, thủa thế kỉ thứ 10, ta vấn khăn thì làm phụ mẫu của chúng nó, thế kỉ 20 ta mặc váy ngắn chẳng nên cơm cháo gì, chúng vẫn đè đầu, thế kỉ 21 ta vấn khăn trở lại thì biết đâu, nhìn thử Iran xem, ai làm gì nhau.


Phụ nữ Iran vào năm 2014.


Phụ nữ Ethiopia.

Tại các nước Âu châu, người Hồi định cư từ thập niên 60 sang đó lao động vào giai đoạn phát triển kinh tế và ở lại. Thế hệ này chỉ mong hội nhập nhưng vào cuối thế kỉ trước, trì trệ kinh tế nói chung tại Tây Âu đã gạt con em của họ, là thế hệ thứ nhì, sinh trưởng ra tại Pháp, Anh hay Đức… ra bên lề. Thế hệ này biểu hiện ý thức lý lịch và căn cước của họ qua trang phục truyền thống gọi là Hồi giáo. Ngày nay, trên phố các nước này, ta thấy khăn che tóc nhiều hơn là 30 hay 40 năm về trước là vì thế.

Một số khác, sinh sống tại các nước Hồi giáo, muốn thể hiện căn cước Hồi giáo của họ một cách thời trang, vẫn giữ khăn che nhưng quấn thành đủ kiểu thời trang, mặc áo kín đáo nhưng hàng hiệu cẩn thận!


Mẫu Hồi giáo của nhà thiết kế Dolce & Gabbana.

Tóm lại, không có cái gì là trang phục Hồi giáo, hay Do Thái giáo, Ki tô giáo mà chỉ có trang phục truyền thống. Nếu đảo ngược lại tình thế, nếu Trung Đông vẫn ảnh hưởng châu Âu và cai trị họ trực tiếp, gián tiếp, ta có thể tưởng tượng người Âu bất bình và ở từng lớp dưới ra đường ăn mặc kiểu… La Mã vậy. Hay có lẽ dễ tưởng tượng hơn, nếu Trung Quốc (hay Ấn Độ đi) trở thành siêu cường tuyệt đối về mặt chính trị, văn hóa, quân sự. Họ cắt nước Pháp ra làm ba, dính nước Tiệp vào với Đông nước Đức, và trang phục của mọi người là võ phục Thiếu Lâm chẳng hạn thì tại Âu ắt sẽ có thiếu nữ ra đường mặc quần áo “Ki tô truyền thống”, tức là trang phục của các bà sơ.


Phụ nữ lớn tuổi, tại Ragusa, Sicily, Italy ngày nay (2013), đất nước của… Berlusconi.


Phụ nữ trẻ tuổi, tại Beirut, Lebanon ngày nay (2010), đất nước của Hezbollah. 

Lộ Lộ Thanh Liên

Phù điêu ở hành lang chùa Bút Tháp
Theo tiến sĩ  Nguyễn Xuân Diện:
Bức chạm hình hai con cò (chữ Hán là Lộ 鷺) và hoa sen (liên hoa 蓮花). Hình ảnh này ẩn dụ bốn chữ: “Lộ lộ liên hoa” 鷺鷺蓮花- Con cò, con cò và hoa sen. Lộ là cò, đồng âm với lộ 路 là con đường; “liên hoa” 蓮花 là hoa sen, đồng âm với chữ “Liên khoa” 連科 (liền khoa thi này đến khoa thi khác, không bị rớt khoa). Lộ lộ liên hoa 鷺鷺蓮花 đồng âm với Lộ lộ liên khoa 路路連科.
Bức chạm là ẩn dụ lời chúc: Đường khoa cử chặng nào cũng thuận, tiếp liền thi và đỗ. Đây là lời cầu mong Tước Lộc Phong Hầu ở bức chạm bên cạnh.

Tước Lộc Phong Hầu 
Tuy nhiên những giấc mơ trần thế, những ẩn dụ về mong cầu của nhân gian chỉ được khắc chạm ở lan can mà thôi. Trong nội tự những biểu tượng mang tính ẩn dụ ảnh hưởng của Nho giáo và đời sống trần tục không còn. Chùa hoàng gia Bút Tháp tuy vẫn nhắc đến biểu tượng và mong cầu đời thường, hoặc vẫn ca ngợi tước lộc, phong hầu, đăng khoa… nhưng dứt khoát chỉ coi đó là ngoại cảnh, ngoại vật trong chốn Thiền môn. Đó là điều ý nhị và triết lý nhân sinh của những người của hoàng gia tu tập và hưng công chùa Bút Tháp, Xứ Kinh Bắc. A di đà Phật!
Lời bình của Lê Vĩnh Huy:
“Liên hoa” đúng là chơi chữ đồng âm với “liên khoa”, tức đậu liên tiếp mấy khoa thi. Nguyên khoa cử thời xưa tổ chức làm tam khoa: Hương thí, Hội thí và Đình thí. Đó là ba chặng của con đường tiến thân. Trước hết phải dự kỳ thi Hương tổ chức ở địa phương, nếu đậu mới đủ tư cách dự thi Hội tổ chức ở kinh đô; thi Hội mà trúng mới được gọi vào trước điện vua để thi Đình, lần này may phước ông bà ông vải mà đậu nữa mới gọi là có chút danh vọng ông nghè ông cử với trong làng ngoài xóm.
Nhất lộ liên hoa
Còn “lộ” 鷺 (con cò) đồng âm với lộ 路 (con đường).
Nhưng: Lộ lộ liên hoa 鷺鷺蓮花 thành… “Con cò, con cò và hoa sen” thì bắt đầu xảy ra trục trặc.
Thành ngữ xưa chỉ có Nhất lộ liên khoa 一路連科 tức thẳng đường một mạch mà tiến tới đỗ đạt. Để diễn ý câu này, người ta vẽ con cò nghênh mỏ bên cạnh đóa hoa sen, và chỉ một con mà thôi.
Khi có hai con cò thì sẽ là thành ngữ khác. Lúc này hoa sen trong đó không đọc Liên hoa nữa, mà đọc Thanh liên. Cả câu sẽ là Lộ lộ thanh liên 鹭鹭青蓮, ý này gợi từ đồng âm được hiểu là Lộ lộ thanh liêm 路路清廉, tức lời nhắc đức thanh liêm của người làm quan.
* * *

Lộ Lộ Thanh Liên

Môn đăng hộ đối

Môn đương hộ đối

levinhhuy

Phần đông cho rằng chữ “đăng” trong thành ngữ này là đèn, và “đối” có nghĩa là… câu đối; nên nghĩa đen của môn đăng hộ đối được giải thích là… trước cửa có treo lồng đèn và trong nhà có bày câu đối.

Mà môn đăng hộ đối là gì?

Thật ra, nguyên văn nó là “môn đương hộ đối” 門當戶對, do chữ “đương” còn được đọc là “đang” nên lâu ngày trại ra thành “đăng”, dẫn đến sự xuất hiện vô duyên của cái đèn lồng.

Trong Từ điển từ và ngữ Hán-Việt (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2002) cũng như Từ điển từ và ngữ Việt Nam (Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 2000),  ghi chính xác thành ngữ này là “môn đương hộ đối”. Miền Nam: từ 1961, trong Việt ngữ chính tả tự vị (Nxb Khai Trí, Sài Gòn), Lê Ngọc Trụ đã ghi rằng thành ngữ “môn đăng hộ đối” là do đọc sai trại chữ “đang” (đương) mà ra.


Chữ “Hộ” cổ.

Tìm hiểu thành ngữ chữ Hán tất phải tham cứu từ điển Tàu, trong Thuyết văn giải tự, bộ từ điển quan trọng do Hứa Thận biên soạn hồi đầu thế kỷ II ghi: “môn” là cửa có hai cánh, “hộ” là cửa một cánh. Môn hộ do đó là nói cái chỗ từ đó người trong nhà chui ra chui vào, không phải nói nguyên cái nhà. Hãy xem tự dạng cổ của hai chữ này (trong ảnh): Môn 門 có hai cánh hai bên, và Hộchỉ có 1 cánh bên trái (chữ hộ này nay đã không còn dùng, và được thay bằng chữ 戶).

Môn đương và Hộ đối còn là hai chữ đi liền nhau của cùng một từ. Khi xưa, trước nhà quan thường có những chi tiết điêu khắc đặt ngay lối ra vào, dùng trấn gia trạch theo phong thủy, trong đó có “môn đương” và “hộ đối”.

Vào đời Hán, nhà quan thường đặt đôi trống bằng đá trước cửa (do tiếng trống vang dội uy nghiêm nên được cho là tượng trưng của sấm sét, có hiệu dụng xua đuổi tà ma xui rủi), đôi trống đá này gọi là “môn đương”.

Không phải nhà ai cũng được phép dùng môn đương, mà phải quan lớn từ tam phẩm trở lên mới được dựng cửa hai cánh và bày nó. Quan văn thì môn đương có hình tròn, quan võ thì môn đương có dạng vuông. Quan tòng tam phẩm thì có hai môn đương, chánh tam phẩm được bốn, nhị phẩm được sáu, nhất phẩm được tám; và duy chỉ cung vua mới được bày chín môn đương. Do đó, cứ đếm môn đương là biết nhà của đại quan cỡ nào, và căn cứ vào hình dạng của nó mà suy ra là quan văn hay võ.

Quan từ tòng tam phẩm trở xuống chỉ được làm cửa một cánh, ở thanh đà phía trên khung cửa được đặt đôi trụ hình tròn nhô ra khoảng một tấc, gọi là “hộ đối”. Hộ đối tượng trưng cho nam đinh, đặt trên cửa là ngụ ý gia tộc hưng vượng. Tùy phẩm hàm mà có hộ đối nhiều ít khác nhau.

Môn đương hộ đối do đó có nghĩa đen là sự phân biệt quan chức cao thấp, và nguyên nghĩa không phải nói nhà có “môn đương” phải kết thân với nhà có “hộ đối”, mà là con nhà trọng thần có môn đương thì chỉ nên phối ngẫu với nhà có môn đương; và tương tự, con em nhà quan nhỏ chỉ có hộ đối thì chỉ nên gả cho nhà có hộ đối; chứ môn đương không thể cùng hộ đối cưới gả lộn xộn. Tức là thành ngữ này có hai vế, lâu nay nhiều người vẫn tưởng là hai vế này sẽ “cưới” nhau, nhưng thật ra lại là tách biệt, mỗi vế tự tìm đối tượng bằng vai phải lứa với nó.

“Môn đương, Hộ đối” và hôn nhân hòa hợp

Bởi theo nhận định của người xưa, vợ chồng về căn bản phải có cùng hệ quy chiếu mới có thể hòa hợp lâu bền. Người không cùng đẳng cấp sẽ có quan điểm bất đồng, dễ tạo nên xung đột khiến đời sống hôn nhân trở nên trục trặc, thành gánh nặng trong đời.

Tất nhiên, người ta có thể dẫn ra trăm nghìn trường hợp riêng biệt để bác bỏ quan niệm này, nhưng đừng quên: trong tình yêu-hôn nhân, chết vì nhau vẫn dễ hơn là phải sống trọn đời bên nhau. Bối cảnh văn hóa, giáo dục khác nhau của hai gia đình sẽ dẫn đến hành xử khác nhau của mỗi người trong đôi lứa, những tập quán-sinh hoạt khác nhau hình thành tính cách khác biệt đến nỗi nhiều khi trở thành xa lạ khó hiểu với nhau, điều này gây những cú sốc nghiêm trọng trong cuộc hôn nhân. Trong tiểu thuyết Trống Mái của Khái Hưng, cô Hiền tiểu thư đã không thể đến với anh Vọi chính vì lẽ đó.

“Môn đương” có hình dạng cái trống.

 “Văn” môn đương.

 “Võ” môn đương.

Có 4 “hộ đối”: đây là nhà của quan lục phẩm.

Kê cân

Kê cân

Theo FBlevinhhuy

Ở ta, từ “kê cân” được dùng để chỉ cái sự không giá trị gì, ráng gặm cũng chả béo bổ mà bỏ đi lại thấy tiếc. Từ này trở nên thông dụng ở Việt Nam là do Phan Kế Bính đã dùng nó khi dịch Tam quốc chí diễn nghĩa. Ở hồi thứ 72, Tào A Man đánh Hán Trung lâu ngày không được, định rút quân, nên trước đó đã buột miệng ra khẩu lệnh tuần đêm là “kê cân”.
Tất nhiên, bản dịch Tam quốc chí diễn nghĩa của Phan Kế Bính và Nguyễn Văn Vĩnh hồi đầu thế kỷ XX đến nay vẫn là đỉnh cao dịch thuật, chưa có bản nào khác thay thế nổi. Thớt này chỉ là bàn chuyện chữ nghĩa vặt vãnh, gói trong hai chữ “kê cân” mà thôi.
Hai dịch giả trên Hán học tinh thâm, nhưng dù sao cũng không phải người bản ngữ nên đã nhầm lẫn khi cho rằng “kê cân” là gân gà. Chữ Cân 筋 đúng là chỉ sợi gân, như ngưu đề cân 牛蹄筋 chính là gân bò, phụ liệu đặc biệt thêm vị ngon cho tô phở. Nhưng “cân” khi đi liền với chữ “kê” thành kê cân 雞筋 lại không phải gân/chân nữa, mà là cái… đùi gà. Sở dĩ có sự quay ngoắt lộn ngược này là bởi danh từ “cân” 筋 trong Hán ngữ có đến hai nghĩa:
1/- Sợi gân. Ví dụ: cân cốt 筋骨 là gân và xương, nghĩa bóng dùng để chỉ chỗ quan trọng, cốt yếu của sự vật.
2/- Bắp thịt. Ví dụ: cân nhục 筋肉, dùng để chỉ bắp thịt.
Từ “kê cân” chính là ở nghĩa thứ hai (bắp thịt) này, chứ không phải ở nghĩa thứ nhất như Phan Kế Bính tưởng. Khi nói gân/chân của loài cầm, Hán ngữ thường dùng từ trảo 爪 (móng vuốt), vì chân loài cầm thường có móng vuốt. Ví dụ: kê trảo 雞爪 (chân gà), áp trảo 鴨爪 (chân vịt), ưng trảo 鷹爪 (vuốt chim cắt).
Nguyên văn từ này trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung là “kê lặc” 雞肋, tức xương sườn gà: chỗ sườn gà đó chỉ có chút téo thịt dính với xương, nên ăn chả có vị gì mà bỏ đi cũng thấy tiếc.
Tóm lại, khi dịch từ Hán Việt “kê lặc”, Phan Kế Bính và Nguyễn Văn Vĩnh đã dùng một từ Hán Việt khác là “kê cân” để thay thế, điều này dẫn đến chỗ hiểu lầm rằng người Tàu xưa cũng gặm chân gà, trong khi họ thường để dành chân gà lại, đặng… coi bói.

PS.
Giai thoại (cùng với chuyện Kê cân)

Những chuyện Dương Tu làm Tào Tháo bực tức trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, tất cả đều xuất phát từ sự nhanh trí và giỏi luận chữ Hán của Dương Tu. Không rõ là vì cái tôi của mình hay vì không ưa Tào Tháo mà Dương Tu thường hay tạo ác cảm với Tào Tháo bằng những việc nhỏ như vậy (như kiểu Trạng Quỳnh lỡm Chúa Trịnh).
Tào Tháo sau khi đi thăm vườn cảnh của phủ mới được xây, lấy bút viết lên cổng chữ "hoạt" , Dương Tu trông thấy bèn sai thợ phá cái cổng để làm nhỏ hơn. Có người hỏi thì Dương Tu mới nói là làm theo lệnh Tháo, rồi chỉ ra chữ "hoạt" mà Tào Tháo viết nằm trong chữ "môn" thì thành ra chữ "khoát" , có thể hiểu ra là "rộng quá", nên cho phá đi làm lại. Tào Tháo ngoài mặt hài lòng nhưng lại rất không vui vì bị Dương Tu đọc được suy nghĩ của mình.
Tương tự, có lần Tào Tháo được tặng một hộp bánh, trên hộp bánh có đề "nhất hộp tô  一合酥” (một hộp bánh). Dương Tu nhìn thấy liền đem đi chia hết, khi Tào Tháo về hỏi thì giải thích theo lối chiết tự chữ Hán rằng chính chữ "nhất hộp tô" đó có thể hiểu là "nhất nhân nhất khẩu tô"  一人一口酥 (mỗi người một bánh).


Dương Tu
Cái chết
Lần đó, Tào Tháo đem binh ra chặn Lưu Bị nhưng đánh thua mấy trận đành phải cắm trại cố thủ. Thời gian trôi qua, không thay đổi được tình hình chiến trường đâm ra chán chường, có ý muốn rút nhưng lại ngại xấu hổ trước ba quân, quần thần. Buổi tối, tướng Hạ Hầu Đôn vào trướng xin khẩu lệnh ban đêm cho doanh trại, Tào Tháo ngần ngừ một lúc rồi nói: "Kê lặc" (Sườn gà). Hạ Hầu Đôn thấy khẩu lệnh này lạ lùng quá bèn thắc mắc đem hỏi Dương Tu.
Dương Tu cười lớn rồi bảo Hạ Hầu Đôn chuẩn bị gói ghém đồ đạc, kẻo nội trong 3 ngày nữa Tào Tháo sẽ hạ lệnh rút quân. Dương Tu giải thích rằng khẩu lệnh "Sườn gà" nói lên tâm trạng của Tào Tháo, vừa muốn rút quân, vừa không muốn bỏ như sườn gà, ăn thì không có thịt, bỏ đi thì thấy tiếc. Quả nhiên, Tào Tháo ra lệnh hồi kinh. Việc Dương Tu đoán được ý đến tai Tào Tháo, khiến Tào Tháo rất tức giận và muốn tìm cơ hội giết Dương Tu.
Năm Kiến An thứ 24 (219), mùa thu, Dương Tu cùng Tào Thực say rượu đi qua Tư Mã môn (马门), do say sưa mà hạ nhục bộ hạ của Tào Chương. Việc trình lên, Tào Tháo mượn cớ Dương Tu tự cao tự đại, để lộ quân cơ, ra lệnh xử tử Dương Tu.

Trong Tam quốc diễn nghĩa, cái chết của Dương Tu lại nhanh hơn một chút. Sau khi Dương Tu giải được ý tứ "Kê lặc" của Tào Tháo, việc truyền đến tai Tào Tháo khiến Tào Tháo tức giận nên lấy cớ là Dương Tu phao tin làm loạn lòng quân, đem ra chém đầu.

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2018

Hà Tiên và sự hình thành nước Việt Nam hiện đại

Núi Pháo Đài, Hà Tiên.

Hà Tiên và sự hình thành nước Việt Nam hiện đại

Hà Tiên ngày nay là thị xã vùng biên nhỏ nhắn, bình yên, thơ mộng nép mình bên bờ vịnh Thailand. Hà Tiên của hai trăm năm trước là một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất ở Đông Nam Á, nơi diễn ra các tranh chấp chính trị và quân sự không ngừng giữa người Việt, người Thái, người Khmer và các cộng đồng người Hoa. Lịch sử của vùng đất này là minh chứng sống động cho sự đa dạng trong thống nhất của quá trình hình thành nên lãnh thổ và dân tộc Việt Nam.
Một phần biển Mũi Nai, Hà Tiên, Kiên Giang ngày nay. 
Vùng đất này nằm giữa các diễn ngôn lịch sử rất khác biệt, nhiều khi bị trùm phủ dưới các huyền thoại tạo ra bởi chủ nghĩa dân tộc. Bài viết này chỉ ra những nhân tố cốt lõi làm nên sự thịnh vượng của Hà Tiên và tìm kiếm sự gắn kết của nó đối với lịch sử Việt Nam, như một phần của công cuộc định hình nên không gian của nước Việt Nam hiện đại.

Tại sao việc khôi phục quá khứ huy hoàng của vùng đất này là vấn đề quan trọng? Vì nó góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề nhận thức về quá trình hình thành lãnh thổ, biên giới và các đơn vị hành chính của Việt Nam. Đặc biệt đây là khu vực có vị trí chiến lược về an ninh-quốc phòng và tiềm năng kinh tế trong tương lai, gắn liền với Phú Quốc và hành lang phát triển kinh tế dọc theo bờ vịnh Thailand. Lịch sử truyền thống Việt Nam ít chú ý đến tính đa dạng địa phương và quá trình sáp nhập lãnh thổ. Điều này không những không giúp độc giả hiểu được công lao khai phá, quá trình khai thác lãnh thổ, mở rộng đất đai, sáp nhập đất đai của thế hệ đi trước, mà còn gây trở ngại cho sự mở rộng tri thức về quá trình phát triển lãnh thổ Việt Nam và những cách thức đa dạng để trở thành Việt Nam. Đó là cách chúng ta tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng, và trân trọng công lao của tiền nhân, dù là họ Mạc Hà Tiên, các di dân Hoa kiều, cộng đồng người Khmer trên lãnh thổ Việt Nam hay chúa Nguyễn, và vương triều Nguyễn. Nhận thức lịch sử đa chiều cũng là cách củng cố lập luận về quá trình xác lập chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam đối với vùng đất này. Những diễn biến phức tạp và sự năng động của Hà Tiên cho thấy lịch sử không đơn thuần như mô tả của người Campuchia rằng khu vực này vốn là “lãnh thổ”của họ.

Cốt lõi của vấn đề ở chỗ Hà Tiên là vùng đất có lịch sử đa dạng, nằm giữa các dự án chính trị, tranh chấp quyền lực và lãnh thổ ở Đông Nam Á lục địa thời sơ kỳ hiện đại, gắn kết nhiều nhóm cư dân khác nhau. Liên hệ chính trị, lãnh thổ của nó với người Việt-Khmer-Thái là phức tạp. Điều quan trọng là Hà Tiên không chỉ hành động với tư cách là một chư hầu lệ thuộc mà tính năng động và tự chủ của nó giúp định hình khuynh hướng chính trị-lãnh thổ mà nó gia nhập. Sự sáp nhập của Hà Tiên vào lãnh thổ Việt Nam vì thế không chỉ đơn thuần là sự mở rộng không gian của người Việt mà còn là sự chủ động gia nhập của Hà Tiên vào không gian chính trị này. Sự lựa chọn này giúp định hình một con đường để trở thành Việt Nam hiện đại: con đường của Hà Tiên.

Hà Tiên ở thế kỷ XVIII. Nguồn: Nicholas Sellers, The Princes of Hà Tiên, 1682-1867. Brussels: Thanhlong, 1983. 

Các huyền thoại về vùng đất Hà Tiên
Trong khi các sách lịch sử của Việt Nam thường bắt đầu bằng sự kiện năm 1708 khi Mạc Cửu phái người đến Phú Xuân (Huế) xin được bổ nhiệm cai quản Hà Tiên, và sau đó được chúa Nguyễn phong chức Tổng binh (theo Đại Nam Thực Lục). Sự kiện được cho là đánh dấu vùng đất này trở thành một phần của lãnh thổ Đàng Trong. Lịch sử Campuchia mô tả một diễn trình hoàn toàn khác. Một thương nhân người Quảng Đông rời Trung Hoa năm 1671 đi qua Phillipines và Java. Cuối cùng ông ta đến triều đình Chân Lạp ở Udong và giành được sự tin tưởng của nhà vua Chey Chettha IV (Ang Sor). Sự ghen tị của các quan chức cấp cao người Khmer cuối cùng buộc ông phải xin nhà vua cho ra cai quản vùng đất Banday Mas. Nhà vua Khmer sau đó chấp thuận và ban cho ông danh hiệu Okya (Trần 1979:1537).

Một phần phiên bản của câu chuyện này được kể lại bởi Vũ Thế Dinh, một gia thần của dòng họ Mạc viết năm 1818 trong Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả (Gia phả dòng họ Mạc của quan Hiệp trấn Hà Tiên). Tuy nhiên nó cũng cung cấp thêm nhiều góc nhìn thú vị về cách thức dòng họ này xây dựng một chính thể tự trị đứng giữa các nhà nước của người Việt, người Khmer và người Thái. Diễn ngôn lịch sử này chú ý nhiều hơn đến tính năng động của họ Mạc và sự chủ động lựa chọn của họ trong mối liên minh/ phiên thuộc với người Việt. Dù được phong Okya, danh hiệu dành cho quan chức cao cấp Khmer (David Chandler 2000: 108-111), Mạc Cửu thấy rõ địa vị bấp bênh của mình trong một vương triều xa lạ. Khi dừng chân ở vùng đất Banday Mas, ông nhận thấy nơi đây là một cảng thị tấp nập với thương nhân người Hoa, Việt, Khmer, Malay tụ hội, nên tìm cách để được sự cho phép của vua Chân Lạp mở các sòng bạc nhằm thu thuế. Như nhận định của sử gia Li Tana, đây chính là các sòng bạc đầu tiên ở Đông Nam Á được mở bởi thương nhân Hoa kiều. Chính sự thịnh vượng này cho phép họ Mạc dần kiểm soát khu vực duyên hải và cảng biển Hà Tiên để xây dựng một trung tâm kinh tế-chính trị riêng (Li Tana 2004:806). Cũng vì nhận thấy sự đe dọa của Chân Lạp ở phía Bắc và Siam ở phía Tây mà Mạc Cửu lại tìm cách tìm đến Phú Xuân.

Những người phương Tây cũng có một phiên bản cho riêng mình về câu chuyện Hà Tiên, vương quốc có tên gọi Ponthaimas. Alexander Hamilton đến vùng đất này năm 1718, gọi đây là cảng thứ hai của Campuchia. Thương nhân người Pháp Pierre Poirve mô tả đó là vương quốc được tạo ra bởi một thương nhân người Hoa, nhưng nằm dưới sự ảnh hưởng của Siam. Trong tham luận năm 1768 trình bày trước Viện Hàn Lâm Lyon, ông mô tả họ Mạc như những thương nhân khôn khéo, chăm chỉ, biết cách khai phá vùng đất trù phú để trở nên thịnh vượng, lại biết sử dụng chính sách ngoại giao khéo léo để được các nước láng giềng hùng mạnh che chở. Hà Tiên vì thế không chỉ là một cảng thị thương mại sầm uất mà còn là “kho lúa dồi dào nhất của phần đất miền Đông châu Á”, nơi người Malay, Nam Hà (Đàng Trong), Siam đều trông vào để bảo đảm cho những nạn đói.

Hà Tiên cũng xuất hiện trong mô tả của người Trung Quốc. Một quan chức nhà Thanh đã ghé qua đây những năm 1740, và ghi chép về vương quốc có tên Cảng Khẩu/ Cảng Khẩu Quốc, nằm dưới sự ảnh hưởng của An Nam (Đàng Trong) và Siam. Tuy vùng đất được xây dựng bởi những cư dân rời bỏ Trung Hoa vào cuối Minh-đầu Thanh, quan chức nhà Thanh ngạc nhiên về sự thịnh vượng, thấm nhuần văn hóa Hán của họ, những người thậm chí còn xây cả Văn Miếu (Hoàng triều Văn hiến thông khảo, 1747). Chính vì điều này mà Hà Tiên cũng được biết đến ở Đàng Ngoài của chính quyền Lê-Trịnh. Lê Quý Đôn dành mối quan tâm đặc biệt đối với những thành tựu văn hóa của vùng đất này, đặc biệt là ngợi ca “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”.
Lời tựa của văn bản Hà Tiên Thập Vịnh. Nguồn: EFEO Microfilm, A.441.

Bản thân Hà Tiên cũng tạo ra các huyền thoại cho riêng mình. Các huyền thoại sẽ giúp vùng đất này trở nên hấp dẫn, có khả năng thu hút di dân, thương nhân, tìm kiếm tính chính thống cho sự cai trị của dòng họ, và tìm kiếm các mối quan hệ quốc tế. Từ chuyện các nàng tiên xuất hiện trên sông Giang Thành, đào được hũ bạc, đến bức tượng Phật và ánh sáng huyền bí ở Lũng Kỳ báo hiệu sự ra đời của Mạc Thiên Tứ. Tất cả tạo nên diễn ngôn chính trị, tôn giáo, và dung hợp xã hội mà họ Mạc muốn gửi bức thông điệp đến các nhóm cư dân ven vùng vịnh. Trong một bức thư năm 1742 viết bằng chữ Khmer gửi đến chính quyền Mạc Phủ Tokugawa, Mạc Thiên Tứ tự xưng mình là Neak Somdec Preah Sotoat và tự phong danh hiệu “vua của Campuchia”.

Trong lúc các huyền thoại này có cốt lõi của các diễn ngôn lịch sử gắn Hà Tiên với dòng di cư của người Hoa vào cuối thời Minh đầu thời Thanh xuống Đông Nam Á. Họ can dự vào một loạt các sự kiện kinh tế, chính trị, và quân sự khắp khu vực, từ chiến tranh ở Thailand, xung đột ở đảo Java, Manila, cho đến việc điều hành các khu khai mỏ thiếc dọc theo bán đảo Malay và quần đảo Indonesia làm xáo trộn bức tranh chính trị Đông Nam Á, và khỏa lấp những khoảng trống vắng nhà nước tập quyền ở khu vực. Để rồi sau đó, đến lượt các vùng đất này trở thành nơi tranh chấp của những vương quốc tập quyền khu vực.

Khung cảnh cho sự thịnh vượng của Hà Tiên
Sự thịnh vượng của Hà Tiên đến từ nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm vị trí địa lý, khung cảnh thương mại khu vực và toàn cầu, và sự gia tăng tương tác quân sự dọc theo hạ lưu Mekong. Vùng đất này nằm giữa tuyến giao lưu của các luồng thương mại, các nguồn hàng, các dự án chính trị, di dân, và các nền văn hóa từ các vùng núi của Lào và Campuchia xuống, người Malay từ bán đảo Malay-quần đảo Indonesia, người Thái từ phía Tây, và các nhóm người Hoa xung quanh vùng vịnh, và nam tiến của người Việt. Hà Tiên nằm ngay trên đầu mối của một trong những tuyến thương mại cổ xưa nhất ở Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương với biển Đông qua eo Kra từ các thế kỷ gần CN. Óc Eo, cảng thị quan trọng nhất của vương quốc cổ Phù Nam cũng năm trên trục giao thương này.

Sự phát triển của Hà Tiên diễn ra trong một khung cảnh quan trọng của lịch sử hạ lưu sông Mekong vào thời sơ kỳ hiện đại. Sự mở rộng của các dự án nhà nước tập quyền của người Việt, Khmer, và Thái đến vùng đông nam của bán đảo Đông Dương. Các sử gia về Đông Nam Á gọi đây là những vùng đất tự trị cuối cùng ở châu Á trước khi chúng bị sáp nhập thành lãnh thổ của các nhà nước tập quyền (“the Last Stand of Asian Autonomies”: Anthony Reid 1997). Các học giả khác thì gọi vùng đất này là “đường biên nước” (water frontier), nơi chứng kiến khoảng trống quyền lực nhà nước cuối cùng ở Đông Nam Á với sự dịch chuyển tự do của dòng di cư, thương mại, và xung đột chính trị (Li Tana-Nola Cooke 2004).

Khung cảnh thương mại khu vực trở thành môi trường nuôi dưỡng cho sự thịnh vượng của Hà Tiên, trong một thế kỷ huy hoàng và cực kỳ sôi động trên vùng vịnh Thailand. Trước hết là sự mở rộng của người Thái xuống phía nam, tiến ra biển và bắt đầu nhòm ngó vùng duyên hải từ Chanthaburi, Trat đến Hà Tiên, nơi tập trung các trung tâm sản xuất gỗ, lúa gạo, hải sản, đóng thuyền, lâm sản như đậu khấu, da hươu, gỗ đàn hương, ngà voi… Khi Ayutthaya bị người Miến đốt cháy vào năm 1767, người Thái đã từ bỏ kinh đô phía Bắc và bắt đầu chuyển xuống Thonburi-Bangkok, chỉ cách vùng vịnh Thailand chưa đầy 20 km. Cùng lúc đó, người Malay bắt đầu gia tăng các hoạt động thương mại lên phía Bắc của vùng vịnh, dùng thiếc và vũ khí phương Tây đổi lấy gạo.

Trung Quốc là một trong các thị trường quan trọng của Hà Tiên. Thế kỷ XVIII được coi là thời kỳ “thịnh trị” Khang Hy-Ung Chính-Càn Long, đánh dấu với sự gia tăng dân số gấp đôi từ 150 triệu lên hơn 300 triệu (từ năm 1700 đến năm 1800), dẫn đến nhu cầu lương thực gia tăng mạnh dọc theo duyên hải từ Quảng Đông lên Phúc Kiến. Các cuộc di cư xuống phía Nam buôn bán và nhập khẩu gạo đều hướng đến hai đồng bằng là Mekong và Chao Phraya, trong thời kỳ được gọi là “thế kỷ người Hoa” ở Đông Nam Á (1740-1840) (Anthony Reid 2004). Hà Tiên nằm ở trung tâm của hai vùng cung cấp lúa gạo chủ đạo ở Đông Nam Á. Với vị trí đó, Hà Tiên đóng vai trò là một trong những hải cảng quan trọng nhất ở Đông Nam Á thế kỷ XVIII, theo đề xuất của Li Tana và Paul A. Van Dyke trong khảo cứu của họ về hệ thống trao đổi giữa Quảng Châu và biển Đông (2007). Bảng dưới đây cung cấp số liệu về lượng thiếc nhập khẩu của Quảng Châu từ Đông Nam Á. Hà Tiên ở đây xuất hiện với tên gọi “Cancao” (Bảng 1).
Bảng 1. Nhập khẩu thiếc của Quảng Châu từ Đông Nam Á, 1758-1774. Đơn vị: piculs: 60.479 kg. Nguồn: Li Tana và Paul A. Van Dyke 2007.

 Phần mô tả về Hà Tiên trong bản đồ Châu Á của Pierre M. Lapie. Nguồn: Atlas Universel De Geographie Ancienne Et Moderne, Paris : Eymery Fruger et Cie, [1833].

Nguồn thiếc này, theo gợi ý của sử gia Barbara W. Andaya (ĐH Hawaii) trong công trình nghiên cứu về lịch sử đảo Sumatra thế kỷ XVIII, là đến từ Palembang và Bangka – các trung tâm sản xuất thiếc lớn nhất ở Đông Nam Á sơ kỳ hiện đại (Andaya 1993, Reid 2004). Không chỉ là điểm trung chuyển như ghi chép của các thuyền Hà Lan thường xuyên ghé qua Hà Tiên, lấy hạt tiêu đổi muối và gạo, Hà Tiên còn là đầu mối thông thương của hạ lưu Mekong ở thế kỷ XVIII. Không chỉ kết nối với vùng núi Đậu Khấu, cao nguyên ở Lào và Cambodia, mà còn hệ thống thương mại dọc theo các kênh rạch và vùng ngập nước bờ Tây sông Hậu. Giáo sĩ người Pháp Levavasseur đã đi qua các vùng ngập lụt này và thông báo rằng ông ta đã thấy hơn 50 thuyền mành đang trao đổi hàng hóa.

Sức mạnh của một trung tâm giao thương không chỉ cho phép vùng đất này có khả năng đúc tiền riêng, mà còn được biết đến như một huyền thoại về sự thịnh vượng xung quanh biển Đông và vịnh Thailand. Một chỉ dấu chính là việc vùng đất này được biết đến bởi nhiều nhóm người với nhiều tên gọi. Đại Nam Nhất Thống chí gọi vùng đất này là Mang Khảm, Trúc Phiên Thành, Đồng trụ trấn. Người Hoa gọi vùng này là Phương Thành, Cảng Khẩu, Cảng Khẩu Quốc. Tên này có lẽ được phiên lại trong các ghi chép Phương Tây là Cancao, trong khi tên gọi khác là Ponthaimas có lẽ đến từ tiếng Khmer và Thái. Người Khmer gọi vùng đất này là Peam hay Bantay Mas  (Bức tường vàng), người Malay gọi là Pantai Mas (Bờ biển Vàng) hay Kuala (Cửa sông), người Thái gọi là Ponthaimas, Phutthaimas hay Ban-Thaay-Mas (Cánh cổng vàng).

Giai đoạn phát triển đỉnh cao của Hà Tiên là giữa những năm 1740 và 1760 sau cuộc đàn áp người Hoa ở Java và tàn phá Ayutthaya của người Miến. Trong các thập kỷ này, Hà Tiên trở thành cảng quan trọng nhất trong vùng vịnh Thailand giao thương với Trung Quốc. Hàng hóa như thiếc, đồng, gạo, hạt tiêu, muối, và sản phẩm rừng là nguồn cung cấp quan trọng cho Quảng Châu.

Sự gắn kết của Hà Tiên vào Việt Nam
Có sự liên hệ tự nhiên đặc biệt giữa Hà Tiên với chính quyền Đàng Trong của các chúa Nguyễn. Cam kết chính trị và quân sự mạnh mẽ của vùng đất này với Phú Xuân không chỉ trong cuộc chiến tranh với Chân Lạp và Siam, mà còn là công cuộc phục hưng và cuộc chiến tranh 30 năm của Nguyễn Ánh ở vùng hạ lưu Mekong, cũng như đối với việc hoạch định biên cương nhà Nguyễn sau này (xem thêm Tạp chí Tia Sáng số 17 ngày 5/9/2017).

Hà Tiên sớm can dự, thậm chí là trở thành tâm điểm của các cuộc chiến tranh này và gia nhập vào không gian “Việt Nam”. Không chỉ chấp nhận danh hiệu Tổng Binh năm 1708 và Tổng Binh năm 1735, họ Mạc đã trở thành một đồng minh/ chư hầu quan trọng của Đàng Trong trong cuộc tranh chấp quyền lực khu vực. Thực tế là họ Mạc cần chúa Nguyễn để chống lại các cuộc xâm lược thường xuyên của người Thái và Khmer bởi vị thế cực kỳ dễ bị tập kích của Hà Tiên. Người Việt cũng cần kiểm soát vùng đất này như cửa ngõ bảo vệ cho dự án lãnh thổ ở hạ lưu Mekong của mình. Sự gia nhập của Hà Tiên vào Việt Nam vì thế là một quá trình tự nhiên.

Họ Mạc đã tìm cách gắn kết với người Việt bằng nhiều cách thức khác nhau. Mạc Cửu kết hôn với người vợ Việt ở Biên Hòa là Bùi Thị Lẫm, trong khi em gái ông kết hôn với Trần Đại Định (con trai của Trần Thượng Xuyên ở Đồng Nai). Hà Tiên còn tìm kiếm sự kết nối với không gian Việt Nam thông qua góc độ văn hóa, tôn giáo. Sử gia người Singapore, Claudine Ang trong luận án về các dự án văn minh và nhà nước ở vùng biên của Việt Nam (Cornell University 2012) đã làm nổi  bật vai trò của những nhân vật như Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tứ trong việc định hình nên cấu trúc mở rộng của lịch sử Đàng Trong. Đó cũng chính là đóng góp của họ đối với lịch sử hình thành nên hình thể Việt Nam hiện đại. Cũng chính từ những vùng đất trù phú như Hà Tiên, Phú Quốc, Gia Định… mà vương triều Nguyễn được thiết lập năm 1802, triều đại đầu tiên thống nhất lãnh thổ Việt Nam như chúng ta được thừa hưởng ngày nay.

Vai trò của vùng đất này trong việc định hình nên cấu trúc lịch sử Việt Nam sẽ còn tiếp tục ở thế kỷ XIX. Thời kỳ Minh Mệnh, cùng với dự án chính trị thống nhất lãnh thổ là việc xóa bỏ chế độ thế tập cai trị tại các vùng biên và vùng núi sẽ lần đầu tiên biến vùng đất này thành đơn vị hành chính trực thuộc Huế. Trong khi các thủ lĩnh miền núi được thay thế bằng các quan lại miền xuôi do Huế cắt cử thì ở Hà Tiên, xóa bỏ chế độ thế tập của dòng họ Mạc. Từ đây tỉnh Hà Tiên ra đời, nơi ghi dấu ấn các chiến dịch quân sự trên kênh Vĩnh Tế ngăn chặn cuộc xâm lược của Bangkok, và là trung tâm của hệ thống phòng thủ quân sự vùng biên của Việt Nam cả trên bộ lẫn trong vùng Vịnh.

Bản đồ tỉnh Hà Tiên thời Nguyễn. Các yếu tố thể hiện trên bản đồ bao gồm: trụ sở hành chính trong ô vuông: Tỉnh Hà Tiên và Phủ An Biên. Phía bắc tỉnh Hà Tiên giáp gianh địa giới tỉnh An Giang, phía tây giáp Cao Miên và phía nam là đảo Phú Quốc. Nguồn: Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ, EFEO Microfilm, A.1600.
Cuối cùng, Hà Tiên là mảnh ghép sống động và không thể tách rời trong bức tranh toàn cảnh về sự ra đời của lãnh thổ hình chữ S của nước Việt Nam hiện đại. Lịch sử vốn phức tạp với nhiều tầng bậc và các mối quan hệ đan xen. Hà Tiên là ví dụ đặc sắc cho một thực thể lịch sử như thế. Nổi lên giữa các luồng văn hóa, dòng di cư, thương mại, và xung đột khu vực; để tìm kiếm một phương thức tồn tại, Hà Tiên đã tìm kiếm sự gắn kết vào không gian lịch sử Việt Nam một cách chủ động. Sự tham gia của vùng đất này rõ ràng đã làm gia tăng sự đa dạng của cấu trúc không gian và các diễn trình lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Cuối cùng thì chúng ta tự hào rằng có nhiều cách thức khác nhau để trở thành Việt Nam hiện đại, và trong sự thống nhất, đa dạng đó, Hà Tiên góp phần tạo dựng nên diện mạo của lãnh thổ Việt Nam. Hà Tiên không chỉ là chặng cuối của quá trình Nam tiến, mà còn là cửa ngõ của Việt Nam mở ra vùng vịnh Thailand và phía Tây.
--------