Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

Sài Sơn

...
Mình đã đi chùa Thầy mấy lần và đã có entry về chùa này trên blog cũ. Nhưng mới chỉ đi vào chùa Thiên Phúc Tự là chùa lớn ở chân núi chứ chưa lên đỉnh Sài Sơn cũng như các chùa trên núi. Rồi cuối cùng cũng thực hiện được công quả.

Sau khi leo núi Câu Lậu thăm chùa Tây Phương xong, qua đình Hữu Bằng và một vài nơi thì trên đường về qua Sài Sơn. Đinh ninh là mình sẽ vào được lối cũ, không ngờ con đường rẽ quanh co ra đằng sau núi.


Thấy một cái ao trong veo, trẻ con bơi oàm oạp, phụ nữ giặt chiếu bên bậc đá, bên kia là mấy cái nhà sàn rõ kiểu dân nhà giàu mua về dựng lại làm nhà nghỉ đồng quê. Thật đáng giá làm sao, nhà ở vào cái thế như đất công viên. Đi một đoạn thì thấy rẽ vào chùa Một Mái.


Chùa Một Mái có tên là Bối Am. Mặc dù cũng trong quần thể chùa Thầy nhưng nó nằm đằng sau núi Sài Sơn và đường đi qua núi rất khó đi. Mình không tưởng tượng là khó đến mức nào, phải chốc nữa mới thấm thía. Cổng chùa bé, có con đường gạch giữa hàng duối xén thẳng tắp, hàng cau thật phong lưu, cứ như là "dắt em vào cõi Bác xưa".


Gọi là Một Mái vì gian thờ chính áp vào hang núi, chỉ có một mái dốc phía trước. Trên hình thì chỗ đó là đằng trong cùng. Chùa có vẻ mới được trùng tu lại nên vuông thành sắc cạnh, đến cả sư trụ trì cũng chắc chỉ đầu ba.


Nhà tăng hệt như một ngôi nhà trung nông, có hàng phên nứa trông ra mảnh sân gạch, có mấy cây ăn quả. Trừ việc có mấy cái tháp mộ thì hơi ghê rợn. Dưới chân núi cạnh đường lên chùa có hang Bò, thử mò vào mà phải ra ngay vì tăm tối và lạnh toát, lại trống trơn, thật là đáng sợ.


Tam bảo chùa Một Mái dựng trên các bậc hang đá. Nhũ đá vẫn còn nước rỏ xuống sàn.


Chắc người ta cũng đã nắn chỉnh nhiều để thành ra bố cục khá đăng đối. Những tấm bia đá làm cho không gian có vẻ đáng tin là nơi đây không quá mới.

Qua chùa Một Mái là đến Khe Gió, hoặc Hang Gió. Nghĩ đến lại một cái hang lạnh như địa ngục thì mình chối nhưng bà bán hàng cạnh đấy bảo sáng mà.


À, thì ra Khe Gió là khe hút gió thật. Đơn giản là một cái hẻm núi bé xíu nhưng cũng thành địa điểm.


Cũng như hang chùa Một Mái, những tấm bia đục vào vách đá là thứ cũng làm cho chỗ này có vẻ đã được chinh phục hẳn hoi.

Lẽ ra lộ trình ngược hướng này như hôm mình đi là lên hang Cắc Cớ, nhưng vì thường bà con sẽ đi xuôi từ chùa dưới lên chùa Cao. Mình sẽ tả theo hướng đó cho thuận. Cái phần hồi hộp thì dành sau chót. :-)


Chùa Cao tên là Đỉnh Sơn Tự, nằm quây quần thành một cụm ở lưng chừng núi. Cây cối um tùm xung quanh làm cho không khí rất liêu trai chí dị. Nhưng chỉ toàn người bán hàng mời mua vòng, khánh với quạt, những thứ đầy chợ Đồng Xuân. Chùa cũng đẹp, lẽ ra có view nhìn xuống toàn cảnh hồ và chùa dưới nhưng cây rậm rạp quá. Hỏi một chị thợ ảnh nếu em muốn chụp cảnh dưới thì làm sao? Chị bảo mấy lần thợ chụp ảnh nghệ thuật dự thi ấy, toàn chui ra cái mỏm kia. Chị chỉ vào cái bụi toàn thân cây hoa giấy. Mình le lưỡi, bảo toàn gai mà xa tít kia, bò bao giờ mới hết tán cây vướng. Thôi, không liều lĩnh. Sao người ta đã làm cả những cái đài chứa tượng Quan Âm to đùng cách mạng ngay trong sân mà không xây một cái lầu gì cho khách ngắm toàn cảnh và chụp ảnh lưu niệm nhỉ. Lúc đó thiếu gì cách kiếm tiền.


Cái chậu hoa kể cũng đặt khéo. Nhưng chùa Cao cũng không có gì đặc biệt, ngoài hang Thánh Hóa, tức nơi Từ Đạo Hạnh hóa thân. Cái đầu hồi này là cạnh ngõ vào hang.


Cổng vào hang Thánh Hóa. Nước chảy từ trên các nhũ đá đọng cả lối đi.


Trước cửa hang có một cây si rủ rễ xuống rất đẹp nhưng làm cho khung cảnh hơi ma quái. Nhất là khi đi vào mùa ít người tới, trong nắng chiều làm cho cảm giác cứ rờn rợn.




Bên vách đá có một hàng bia đá khắc chạm công phu, hoa văn tỉ mỉ, cũng như tạc hình con rùa đội bia nữa. Chỗ này quay phim cổ trang hơi bị hay.


Nhưng hanh Thánh Hóa thì dở vì sự hổ lốn của các tượng. Từ kiểu tượng hậu (người công đức được thờ ở đây), tượng tổ bằng đá đến tượng gỗ kiểu rối nước gắn la liệt trên vách đá, sau lại có 3 cái tượng Quan Âm và A Di Đà bằng sứ kiểu Trung Quốc bán ở chợ Hàng Khoai.

Từ hang Thánh Hóa và chùa Cao quay ra thì lên hang Cắc Cớ. Từ đây đường rất khó đi vì không có bậc rõ ràng. Hoặc là do mình đi ngược nên cảm nhận là vất vả như kiểu leo núi Yên Tử ngày trước.


Trời, leo lên hang Cắc Cớ thì phì phò tưởng hết hơi. Đang nắng chang chang, đi vào cửa hang thấy lạnh toát. Kinh dị thật. Mà đường xuống cứ sâu hun hút thế kia, những luồng hơi nước lạnh bốc lên ngun ngút. Đoàn người chủ yếu là thanh niên dò dẫm nối đuôi nhau bước xuống những bậc đá trơn nhãy. Mùa này ẩm ướt nên ít người đi. Thế mà cũng thấy có ít đâu. Chắc mùa lễ hội hay mùa khô thì chen nhau chăng?

Thuê cái đèn pin 5000 đồng, bước dò dẫm xuống. Ối chao ơi, cái tay vin bằng sắt đã gỉ, lại còn có đoạn mất cọc cứ rung rinh. Căng mắt ra nhìn hang trong hơi nước lạnh mù mịt. Cứ như chui vào địa ngục. Đúng là "con đường vô ngạn tối om om" (Hồ Xuân Hương). Thế mà cũng có đụn gạo, đụn thóc rồi nhũ đá hình tượng Phật Bà với đủ bát hương và nhang khói. Một chị nào như dân hướng dẫn địa phương thao thao nói. Nhưng nhìn vào sâu chỉ thấy lờ mờ những vách đá phía cửa đằng kia có ánh sáng dội lại giữa mù mịt sương khói. Thôi, quay ra cho khỏe. Lên đến cửa hang thấy vừa sợ vừa buồn cười. Ai nấy đều được cảnh báo là chẳng có gì nhưng ai cũng muốn vào cho biết.


Đường lên đỉnh núi tuy đẹp nhưng leo lúc 3-4 giờ thì nắng quái chiều rát cổ, đá lởm chởm đến phát sợ.


Và đây là đỉnh Sài Sơn nhìn xuống toàn cảnh chùa Thầy. Bên trên có một cái phiến bê tông đề "Nơi đây ngày ...năm 1941, cờ đỏ búa liềm đã được cắm". Đằng khu làng xóm giờ toàn là nhà bê tông mái bằng úp mái tôn lên. Phía xa là nhà máy xi măng đang mù mịt khói bốc về phía này.


Thủy đình bé nhỏ xinh xinh. Tiếc là hai cây gạo tạo dáng cho hàng bao nhiêu bức ảnh du lịch đã không còn. Ở VN mình chắc có Hồ Gươm có được nhiều ảnh chụp từ trên cao ngang thế này.

Chùa Bối Khê

(Bài viết của tác giả Trương Quý)
Chùa Bối Khê thờ đức thánh Bối Nguyễn Bình An, là quê của ông này, vốn tu ở chùa Trăm Gian (huyện Chương Mỹ). Bối Khê thuộc xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, chỉ cách Ba La Bông Đỏ chừng 10km, đi qua Bình Đà là rẽ vào đường 72, trên đường đi Thường Tín. Nếu đi từ đường QL1 rẽ vào có khi còn nhanh hơn.
Các chùa ở Hà Tây cũ thường to đẹp, nhưng vì xung quanh công nghiệp hóa thần tốc nên bụi tứ tung. Bối Khê có tên là Đại Bi Tự, dựng từ đời Trần, đến nay vẫn còn giữ được một số kết cấu gỗ, đá và gạch của thế kỷ XIV-XV, vốn hiếm hoi ở VN.

Hiện giờ thì người ta đã trùng tu gần như toàn bộ, tuy vậy đường nét chung cũng vẫn gợi lên vẻ cổ kính. Chùa có ngũ môn thật đồ sộ, cây đa cũng tham gia vào tạo phông cảnh cho hoàn thiện.




Sau ngũ môn đến một con lạch có cầu bắc qua. Thì ra cái ngũ môn chỉ là phân chia không gian ước lệ tựa như một cái cổng làng. Nhà dân ở quây quần quanh chùa phía trong. Gác chuông và hai cổng ngách mới thực sự là tam quan ra vào chùa, gác chuông đã trùng tu lại có vẻ cứng quá. Mùa hè thì đây có sen với súng nở, được nhiều tay máy chụp khá diễm huyền.

Ngũ môn và cầu gạch nhìn từ gác chuông ra.




Những cây dừa ở đây gợi một cảm giác exotic, có lẽ vì dấu ấn miền Trung của chúng. Người ta cho rằng dừa vốn được mang ra Đại Việt cùng với các tù binh Chàm từ thế kỷ XII-XIII. Vùng phía Tây Thăng Long chạy từ Cầu Giấy qua Kẻ Sở, Đăm, lên đến Sơn Tây (tức vùng Hà Tây) vốn là đất lưu trú của tù binh Chàm. Đại khái có các câu như Lỗ mỗ như quan viên Kẻ Sở (ý chê người Chàm thấp kém, da đen, chân tay thô, tục lệ khó coi), rồi người Chàm lại giữ những tục thờ cúng Bà la môn tích hợp vào đạo Phật như kiểu linga-yoni ở chùa Bà Đanh (Vắng như chùa Bà Đanh)... khiến dân Việt thấy cần phải giáo hóa đám công dân hạng 2 này. Kết quả là kiến trúc và điêu khắc người Việt thừa hưởng được rất nhiều thành tựu rực rỡ, mang lại một đặc điểm khác biệt với ảnh hưởng Trung Hoa. Nhưng về sau khi đã chinh phục toàn bộ vương quốc Chàm thì ảnh hưởng Trung Hoa càng ngày càng thắng thế và dấu ấn Chàm mờ hẳn. Người ta vẫn nói, mỹ thuật đời Lý là mỹ thuật khởi nguyên thời tự chủ nhưng đã đạt được ngay phẩm chất cổ điển. Mỹ thuật đời Trần là bước tiếp nối. Chắc chẳn khẳng định được một điều là nhờ mỹ thuật Chàm mà nghệ thuật hai đời Lý-Trần có được kết quả đó.

 Sập đá thời Mạc

Trên là cái sập đá thời Mạc, theo ông Hùng trông coi chùa cho biết đã từng được đưa lên tem bưu chính năm 1958.





Qủa chuông đúc năm 1844 đời Thiệu Trị.




Bức cốn cũ hình chữ Thọ

Khi trùng tu, họ giữ lại bức cốn cũ hình chữ Thọ, mang đặc trưng kiến trúc thời Nguyễn.




Cây hoàng lan trên sân chùa.

Sân chùa có một cây hoàng lan rất to. Khung cảnh thật đẹp và thanh bình. Một trong những cái sân chùa đẹp nhất nước mình cũng nên.




Hình rồng trên sập đá đời Mạc 

Có thể thấy hình rồng đời Mạc có những nét đặc trưng: uốn khúc ít, thân mảnh, nhịp điệu dứt khoát. Đời Lê Trung Hưng sau đó và Nguyễn thì con rồng cuộn khúc nhiều hơn, nhiều râu ria và mây hơn.




Hình rồng đời Nguyễn trên bức cốn

Có thể thấy ngay hình rồng đời Nguyễn trên bức cốn trên: tua tủa những râu và vân mây, chứ không thấy dáng vẻ chuyển động của con rồng. Hình thức cột và kẻ chuyền cũng là của thời Nguyễn, cầu kỳ hơn thời trước ở chỗ pha chế nhiều hình thức kết cấu: kẻ chuyền ko thẳng mà võng xuống làm dáng, cột sinh ra hình chum đá chân quỳ ở dưới. Các hoa văn dập lại các công thức tứ quý hóa long chứ không làm những diềm hoa cúc hay hoa sen như thời trước.









Cái hiên này cao ráo và sáng sủa chứ không tối và thấp, đó là nhờ xây trên một nền cao.




Gạch nung trang trí đời Trấn

Đây là cái nền cấp xây từ đời Trần. Bằng chứng là còn vài đoạn có gạch nung trang trí từ thời đó. Những họa tiết đặc trưng như hình rồng, sóng nước...


Hình con ít gặp như hươu
Ở đây có những hình con ít gặp như hươu. Còn con gì mình như có đốm, đuôi thì như thỏ mà đầu thì rồng? Hàng gạch đỏ sẫm ở dưới là gạch mới trùng tu đặt bên Bát Tràng làm. Nhưng lại không sắc nét bằng. Ở Mỹ Sơn có vấn đề: gạch phục chế lại nhanh bị rêu và phong hóa hơn gạch cổ. Không hiểu gạch ngày xưa cho gì vào mà nghìn năm vẫn tươi?




Những bức cốn hiên ở tiền đường
Những bức cốn hiên ở tiền đường cũng có những tích đặc sắc như Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh. Ở bức trên, có Tôn Ngộ Không cân đẩu vân trên cùng, nhưng không hiểu Trư Bát Giới là tay nào, người gánh đồ ắt là Sa Tăng. Mấy kẻ còn lại như là yêu quái, đang rình rập. Nét chạm khắc ở đây thực ra không tốt bằng các đình làng, hơi có vẻ mỹ nghệ thành thị.


Hai con trâu húc nhau
Hai con trâu húc nhau, có quả lấm lưng trắng bụng. Mấy cái cây mọc trên đá chạm hình đặc sệt phong cách tranh Hàng Trống.

Tòa tam bảo
Tòa tam bảo nối với tiền đường, đều trên một nền cao hơn so với dãy hành lang bao quanh.


Cốn ở bờ thoải tam bảo
Cốn ở bờ thoải tam bảo, có thể thấy các đời gỗ trùng tu khác nhau.


Bệ tượng và đèn đá từ thời Trần Phế Đế (1382)
Trong tam bảo có hệ thống bệ tượng và đèn đá từ thời Trần Phế Đế (1382) rất đẹp. Bệ này giống với bệ ở chùa Thầy.


Bốn góc là bốn con chim thần Garuda

Chuyển sang flash cho rõ hơn. Bốn góc là bốn con chim thần Garuda, bên trên là những cánh sen chạm rất sắc nét.

 Hình rồng đặc trưng thời Trần
Một viên đá chạm hình rồng đặc trưng thời Trần, có nét kế thừa hình thời Lý - kiểu rồng giun, không có vẩy. Nhịp điệu cuồn cuộn, các hoa văn bố trí thoáng, không dày đặc như thời sau. Liên hệ với thức cột cổ điển Hy Lạp, ban đầu thì duyên dáng với Ionic hay Doric, cầu kỳ hơn có Corinth, về sau La Mã phát triển thành Composite siêu cầu kỳ, mà đến thời Baroque thì quá tả.



Hệ thống tượng này thấy có cả tu sĩ, võ sĩ lẫn quan. Hình thức thô mộc mang đậm nét bình dân.




Trong khi đó pho tương này (Ngọc Hoàng hay Đức Ông?) là một hình thức cao cấp và tinh vi hơn hẳn.


Tượng Quan Âm cứu khổ cứu nạn
Trên cao nhất của bệ đá là tượng Quan Âm cứu khổ cứu nạn, có 12 tay, tạc thời Mạc. Ông Hùng chắc cũng linh động lắm mới cho vào chụp. Bằng chứng là ông thúc ra rất nhanh, vì ngay sau đó có một bà già vào mắng mỏ.




Bức tượng có vẻ đẹp vừa cao sang vừa giản dị, trong một cái vỏ kiến trúc đẹp. Có thể thấy phía trước có cây hương đá có những chạm khắc tinh xảo. Tiếc là lúc đó dùng máy ảnh cũ nên không chụp được rộng.




Cây hương án này cũng được cho là tạc thời Trần cùng với cái bệ, nhưng cảm giác là nó mang nhiều nét phong cách thời sau này hơn. Phía trên nóc là bộ vì thời Trần, có ván hình lá đề kẹp giữa hai cái bụng lợn (tức là hai cái xà ngắn có hình như cái bụng lợn). Hai xà này chồng lên nhau bằng các con kê và cột ngắn, như ở chùa Thái Lạc (Văn Lâm, Hưng Yên), cũng thời Trần.


 Tượng Quan Âm Thị Kính
Bức tượng Quan Âm Thị Kính này thì xấu. Cái núi đất ở dưới lại được sơn màu xanh đỏ nguệch ngoạc. Những cái tượng điểm vào cũng lôm côm.


Dãy tượng Tổ
Dãy tượng Tổ đặt rải ra mỗi vị một gian, trông hơi hiu quạnh.




Vị này trông thật trẻ, dáng ngồi rất nho nhã.


 Tòa thượng điện
Cuối cùng là tòa thượng điện, có kết cấu chồng rường giống gác chuông chùa Keo Thái Bình. Ở bên cạnh là cây sen đất, vốn được tuyên truyền mạnh dạo mấy năm gần đây như là bằng chứng duy lý của câu ca dao "Hôm qua tát nước đầu đình. Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen". Hoa sen nở vào tháng 4-6 âm lịch, nghĩa là đang nở đây! Nhưng khi mình đến thì đang vẫn mùa rét nên không có. Hoa này xem ảnh thì giống hoa trà hoặc hải đường.




Ông Hùng chỉ cho cái đầu bảy góc mái đao có hình con phượng (hay chim thần) từ thời Trần, đã bị hư hỏng. Có điều cái khối gỗ ghép trùng tu ở dưới sao không chịu khó tạc hẳn hoi cho nó sướng, mà để thù lù một cục vậy?




Hình dáng, đường nét là đẹp nhưng sao người ta sơn lắm màu lổn nhổn như bôi thuốc đỏ thuốc tím loạn xạ thế chứ?



Lan can gạch đắp trang trí cũng đẹp, nhưng nếu đừng quét vôi nhem nhuốc thế thì có phải ngon không?




Bên hông có một lối xuống địa đạo có từ thời chống Pháp. Nhưng tối om om, nên không xuống làm gì. Cạnh đó là cổng ngách rêu móc đầy.


...





Quay về Hà Nội thì qua làng Bình Đà. Lúc này trời đã tối, nên chỉ ngó nghiêng tí rồi về. Làng này lắm tiền nên đình làng cũng đang dỡ tung ra sửa chữa, những cây gỗ to đùng khuân về chật sân. Một chiều xuân trong veo ở đây, nhưng đằng kia là đường 21B bụi mù mịt. Ngày xưa trẻ con Hà Nội cứ giáp Tết là bỏ học kéo nhau đạp xe hàng đàn xuống đây, chả làm được việc gì ngoài chung tiền mua mấy bánh pháo tép và chen nhau xem đốt pháo bông. Xác pháo hồng ngập đường từ Bình Đà về đến Hà Đông. Năm nào cũng râm ran chuyện có đứa chết vì pháo ở trường này trường nọ. Mình thì chưa thấy ai làm sao. Thế mà cũng đã 15 năm không pháo rồi.


Được biết làng Cự Đà giáp làng này nhiều nhà cổ nhưng đã muộn quá, nhưng từ đó đến giờ cũng chưa đi được, mặc dù chỉ cách Hà Nội có 15km. Mà nghĩ cũng khó rủ rê phết. Mãi khi về nhà cả tháng, cái đứa đi cùng mới nói là thực ra hôm đi chùa Bối Khê là nó nể mình mới đi, chứ lúc đầu nó chả muốn, đến nơi thì thấy hóa ra cũng có cái hay...