Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

2. Thú nhân tình

 

Thú nhân tình

Tôi nhớ khi còn thơ ấu, có thể mở mắt trông thẳng mặt trời, tinh tới mức nhìn từng chân tơ kẽ tóc. Thấy những vật nhỏ bé tinh vi, tất xem xét kĩ từng đường nét, cho nên thường Có những điều thú vị vượt ra ngoài sự vật.

Mùa hè, muỗi vo vo như sấm, tôi lại tự nghĩ ra đó là một đàn chim hạc đang múa lượn giữa từng không. Lòng đã nghĩ vậy, thì lập tức cả trăm, hay cả ngàn con muỗi, quả nhiên hóa thành chim hạc. Tôi vươn đầu nhìn chăm chú, đến nỗi cổ cứng cả ra. Rồi tôi lại nhốt lũ muỗi trong màn, từ từ thổi khói vào, khiến cho lũ muỗi bay lượn vo ve trong làn khói, để làm cảnh bạch hạc thanh cân, quả nhiên thấy đúng như đàn hạc kêu trong mây, khiến tôi vô cùng thích thú.

Ở những hốc lồi lõm trên bờ tường đất, hay nơi có những bụi cỏ rậm rạp trên bệ chậu hoa, tôi thường ngồi xổm, để tầm mắt cao ngang bệ, rồi định thần nhìn kĩ, coi bụi cỏ là một khu rừng, những con sâu, kiến là thú rừng, coi những khối đất nhô cao là núi đồi, những chỗ lõm sâu là khe suối, để mặc thần trí ngao du trong ấy, vô cùng khoái hoạt tự đắc.

Một hôm, tôi thấy có hai con bọ chọi nhau trong bụi cỏ, đang say sưa quan sát, thì bỗng thấy một con vật lớn khổng lồ, đổ cây bạt núi xông tới. Hóa ra đó là một con cóc. Nó vừa phóng nhanh lưỡi ra, thì cả hai con bọ đã đều bị nuốt gọn. Khi ấy tôi còn nhỏ, đang khi chăm chú nhìn xem, bỗng dưng bị nó làm cho bất ngờ kinh hoảng. Đến lúc định thần lại rồi, tôi bèn bắt con cóc, đánh cho mấy chục roi, rồi đuổi đi nơi khác. Sau lớn, nghĩ lại, hai con bọ chọi nhau ấy, chính là chúng đang tơ tít gian tình với nhau vậy. Cổ ngữ nói: “Gian cận sát” (Chuyện gian tà thì cận kề cái chết), hai con bọ ấy chẳng phải đúng thế hay sao? Tôi hay lê la đất cát như vậy, nên “trứng” (tục đất Ngô gọi dương vật là “trứng”) bị giun đốt, sưng to, không đi tiểu được. Người nhà bắt con vịt, vành miệng nó để lấy dãi bôi cho tôi giải độc, mấy vú già người ở ngẫu nhiên tuột tay, con vịt liền vươn cổ đớp như chực mổ nuốt, khiến tôi sợ quá khóc rống lên. Việc ấy sau thành một câu chuyện cười để mọi người kể với nhau. Đó đều là những chuyện nhàn tình của tôi thuở bé vậy.

Kịp đến khi lớn, tôi yêu hoa đến thành nghiện, thích cắt tỉa chậu cảnh. Sau khi quen biết với Trương Lan Pha, tôi mới tinh thông phép cắt cành dưỡng đốt, tiếp đó lại hiểu cách ken hoa xếp đá. Hoa lấy lan làm bậc nhất, vì ở chỗ có u hương nhã vận, thế nhưng những giống lan hơi được xếp hạng, liệt vào hoa phổ cũng chẳng thể dễ mà có được. Lúc Lan Pha lâm chung, có tặng cho tôi một chậu lan xuân Tố Tâm cánh sen. Loại lan này cánh đều, nhị lớn, cuống nhỏ mà bông tinh khiết, đáng được xếp vào hoa phổ, tôi trân trọng như được viên ngọc quý. Khi tôi làm mạc liêu ở ngoài, Vân lại đích thân tưới tắm chăm sóc, nên chậu lan vẫn hoa lá tốt tươi. Chưa đầy hai năm, một buổi bỗng chúng chết khô hết cả. Tôi nhổ lên xem, thấy rễ lan đều trắng như ngọc lại có những mầm mới đang mọc rất nhiều. Mới đầu, tôi không thể hiểu nổi, cho là mình không có phúc được thưởng thức thứ hoa này, chỉ biết than thở mà thôi. Về sau mới hay, có kẻ muốn xin một nhánh mà không được, cho nên đã đem nước sôi dội chết chậu hoa. Từ đó, tôi thì không trồng hoa lan nữa.

Thứ đến là đỗ quyên, tuy đỗ quyên không có hương thơm, nhưng sắc hoa bền có thể chơi được lâu, vả cây cũng dễ cắt tỉa. Song, vì Vân hay tiếc cành thương lá, không nhẫn tâm cắt xén, cho nên khó thành dáng. Những thứ cây bồn cảnh khác cũng đều như thế.

Riêng hàng năm, mỗi khi dậu đồng hoa cúc nở vàng, tôi đều yêu đến thành nghiện. Nhưng tôi thường thích hái về cắm bình, chứ không thích trồng chậu. Chẳng phải vì cúc trồng chậu không đẹp, mà là vì nhà tôi không có vườn tược, không thể tự trồng được. Còn mua ở chợ, thì họ đều trồng thành bụi tạp không đủ tinh tế vận vị, cho nên tôi không chọn các chậu. Hoa cắm bình, số bông nên lẻ, không nên chắn. Mỗi bình cắm một loại hoa, chứ không cắm hai thứ. Miệng bình chọn loại to rộng, không dùng loại bình hẹp miệng. Miệng bình lớn thì mới có thể khiến hoa vươn ra thoải mái không bị gò bó. Từ năm, bảy bông, cho tới ba, bốn chục bông, tất phải thành khóm trên miệng bình mà cùng nở rộ. Làm sao cho hoa không được tản mát, cũng không được chen chúc rối loạn, không được dựa vào miệng bình là đẹp, thế gọi là “Cắm giữ phải chặt” vậy. Có bông vươn cao đứng thẳng, có bống bay múa xiên nghiêng, hoa phải cái cao cái thấp, bông nhụy đan xen, để tránh mắc lỗi để chồng chất đống như bát đĩa. Lá thì không được rối loạn, cành không được cứng nhắc. Nếu dùng kim để ghim, thì phải che giấu, kim dài thà là bẻ ngắn, chứ không được để lộ từng mũi, từng mũi kim ra ngoài cành hoa, thế gọi là “Miệng bình phải thanh” vậy. Lại xem, bàn lớn hay nhỏ, mà một bàn để từ ba cho tới bảy bình thì thôi, nếu nhiều quá thì rối mắt không phân biệt được, chẳng khác gì hàng hoa cúc ở ngoài chợ cả. Kỷ để bình hoa, cao thấp từ ba, bốn tấc, cho tới hai thước năm, sáu tấc thì thôi, tất phải dài ngắn cao thấp khác biệt, mà chiếu ứng với nhau, sao cho khí thế liền nối là hơn nhất. Nếu ở giữa cao, mà hai bên thấp, hay sau cao mà trước thấp, thành hàng đối xứng, thì lại phạm vào lỗi mà tục vẫn gọi là “Cầm hối đôi” (Đống tro gấm)(Cầm hối đôi: tương truyền Tiền Tuyển - họa gia đời Nguyên - trong một lần say rượu đã nổi hứng đem những tàn vật ngổn ngang trên bàn ăn sau bữa tiệc như: chân cua, vỏ sò, xương cá... tùy ý về thành một cuốn tranh trường quyển, và đề danh là Cẩm hôi đôi - Đống tro gấm. Về sau người ta dùng chữ “Cẩm hôi đôi” để chỉ những tác phẩm viết, vẽ chơi bằng những bút tàn, mực dư sau khi viết, vẽ của họa sĩ. Ở đây, chữ “Cầm hối đôi” ý nói hoa cúc để chất đống không được để tâm sắp đặt) vậy. Hoặc dày hoặc thưa, hoặc ra hoặc vào, tất cả đều ở để tâm tinh tế, sao cho đạt họa ý là hay.

Nếu dùng chậu, bát, đĩa, ang để cắm hoa, thì dùng phiếu thanh, tùng hương, vỏ cây du, bột mì, trộn với dầu, trước tiên đun bằng trấu, sẽ thu được một thứ keo. Lấy miếng đồng đóng đinh hướng mũi nhọn lên trên, rồi lấy keo đốt cho chảy ra để gắn miếng đồng xuống đáy chậu, bát, hay đĩa, ang. Đợi keo đã khô, thì dùng dây thép nhỏ buộc hoa thành bó, cắm lên trên định. Nên cắm hoa dịch sang một bên, mà nghiêng xiên để tạo thế, chứ không được để chính giữa, lại càng nên chú ý cành thưa, lá thanh, không được chen chúc chật chội. Sau đó cho nước, lại dùng một ít cát để che lấp miếng đồng đi, để người ngắm ngỡ như khóm hoa được trồng trong bát mới là đẹp.

Nếu là cắm những cành hoa quả thân gỗ vào bình, thì phép cắt tỉa (nếu chẳng thể từng cành từng cành tự mình tìm kiếm, mà nhờ người bẻ hộ thì thường chẳng được hợp ý) tất trước tiên cầm cành trên tay, nhìn ngang, nhìn nghiêng để xem thế, trông sau trông trước để xem dáng. Sau khi đã tạm có chủ định rồi, mới cắt bỏ những nhánh tạp, sao cho có vẻ thưa gầy, cổ quái là đẹp. Rồi lại suy nghĩ xem cắm cành vào bình như thế nào, mà uốn hay bẻ, thì khi cắm vào bình rồi, mới tránh không mắc phải lỗi lật lá, nghiêng hoa. Nếu có trong tay một cành hoa, nếu cứ theo thẳng như cành vốn có mà cắm luôn vào bình, thì thế tất sẽ là cánh cứng nhánh rối, lá lật hoa nghiêng, đã không ra dáng thế gì, mà càng chẳng nên vận vị vậy.

Cách bẻ cành uốn cong, thì cưa một nửa cành, rồi lấy mảnh gạch đá chen vào chỗ cưa cắt ấy, thì thẳng sẽ thành cong vậy. Nếu như lo cành bị đổ, thì đóng một, hai cái định để giữ. Như vậy thì dù là cảnh phong, cành trúc, CỎ rối, táo gai cũng có thể cắm bình được. Có khi chỉ cần một cành trúc biếc, kết hợp cùng mấy trái cẩu kỷ, hay vài cây cỏ nhỏ bạn cùng đôi nhánh táo gai, nhưng nếu được để vào vị trí thích đáng, cũng có cái thú vị khác biệt vậy. Nếu là hoa, cây mới trồng, thì chớ ngại cho chúng có cây nghiêng cây tà để lấy thế, dù có lá bị nghiêng lật cũng được, một năm sau thì cành lá sẽ tự có thể hướng lên trên. Chứ nếu cây nào cây nấy đều trồng thẳng cả, thì sẽ khó mà tạo thế.

Đến như việc cắt tỉa cây trồng trong chậu, trước hết nên chọn những cây có rễ lộ như móng gà, hai bên trái phải cắt đi ba đốt, sau đó mới để nhánh. Mỗi nhánh một đốt, bảy nhánh thì tới ngọn, hoặc chín nhánh thì tới ngọn cây. Nhánh thì tối kỵ để đối xứng như hai tay người, đốt thì tối kỵ để nổi u cục như gối hạc. Nên để các nhánh phân tán tròn bốn xung quanh, không được để hai phía nào đó trụi không, để tránh mắc lỗi hở lưng lộ ngực, lại cũng không thể để nhánh phía trước và sau đâm thẳng ra được. Cái gọi là Song khởi, Tam khởi, tức là từ một gốc rễ mà mọc lên hai hay ba cây vậy. Nếu như rễ cây không nổi vồng lên như hình móng, thì sẽ thành cắm cành, cho nên không dùng được. Nhưng cắt tỉa được một cây, chí ít cũng phải mất ba, bốn mươi năm. Bình sinh, tôi đã thấy ở quê mình có ông họ Vạn, tên gọi Thái Chương, một đời chỉ cắt tỉa được vài cây. Lại ở nhà một người buôn bán ở Dương Châu thấy có vị khách du từ Ngu Sơn mang đến tặng hai chậu cây, một chậu hoàng dương một chậu thúy bách, chỉ tiếc là ngọc sáng ném vào nơi không ai thấy, tôi chưa cho là xứng đáng. Còn nữa, nếu để cành xoay tròn xung quanh thân cây như ngọn tháp, hay nắn cành uốn éo như giun bò, thì sẽ lộ rõ dấu vết nhân tạo vậy.

Điểm xuyết hoa, đá trong bồn, cảnh nhỏ có thể vẽ tranh, cảnh lớn có thể nhập thần. Pha một ấm trà thơm, tinh thần có thể đắm chìm vào đó được, thì bồn cảnh ấy mới đáng để thưởng ngoạn ở chốn u trai vậy.

Trồng thủy tiên, không có đá Linh Bích, tôi từng lấy những viên than có vẻ giống đá mà thay vào. Lôi cải thảo có sắc trắng như ngọc, lấy năm, bảy cái lớn nhỏ, thêm cát đổ vào bồn hình chữ nhật mà trồng, rồi lấy than thay đá xếp dưới gốc, màu đen trắng phân minh, cũng rất có ý vị. Cứ đó mà suy, có thể nói là nhã thú vô cùng, khó có thể nêu ra hết được. Ví như lấy hạt thạch xương bồ, nhai cùng với nước cháo hồ để nguội, ngậm phun lên than cục, rồi để vào nơi mát ẩm, chúng có thể nảy lên những cây xương bồ con, mang ra tùy ý đặt dưỡng trong bồn, trong bát, sẽ được những đám xương bồ xanh mướt đáng yêu. Lấy hạt sen già mài mỏng hai đầu, bỏ vào vỏ trứng gà đem cho gà ấp, đợi khi ổ gà nở con, thì lấy ra. Dùng đất tổ yến lâu năm, gia thêm vị thiên môn đông độ hai phần mười, giã nát trộn đều, rồi đem trồng hạt sen trong ang nhỏ, cho nước sông vào, để dưới nơi có ánh nắng, sen mọc lên sẽ nở hoa nhỏ như chén uống rượu, lá cũng co lại bằng miệng bát, rất xinh xắn khả ái.

Phàm viên đình lầu gác, phòng ốc hành lang, xếp đá làm núi, trồng hoa tạo dáng, lại phải trong lớn thấy nhỏ, trong nhỏ thấy lớn, trong hư có thực, trong thực có hư, hoặc ẩn hoặc lộ, hoặc nông hoặc sâu. Chẳng phải chỉ ở bốn chữ “chu - hồi - khúc - chiết” (Tức vòng quanh, uốn khúc), lại chẳng phải ở đất rộng đá nhiều, tốn công lao của. Có khi chỉ cần đào đất đắp lên thành núi, thỉnh thoảng điểm vài khối đá, trồng cỏ hoa xen kẽ vào, dậu trồng cây mai mà ken, tường kéo dây leo mà phủ, thì dẫu không có núi cũng thành núi. Trong lớn thấy nhỏ là ở nơi tản mạn thoáng rộng thì trồng thứ trúc lớn nhanh, ken giống mai mau rậm, để làm bình phong ngăn ra. Trong nhỏ thấy lớn là tường ở trong sân nhỏ thì nên tạo hình lồi lõm, lấy màu lục mà trang trí, bắt dây leo bò vào, xếp đá tảng, khắc chữ làm bia đề cảnh, mở cửa sổ ra như trông vách núi, ắt có cảm giác cao vội vô cùng. Trong hư có thực là ví như hoặc nơi hết non dứt suối, lại ngoặt ra một chỗ sáng sủa rộng rãi, hoặc nơi đặt tủ trong biên gác, mở ra lại thông sang biệt viện. Trong thực có hư là: ví như làm cửa ở chỗ sân không thông đi đâu được, rồi lấy trúc thạch mà ẩn che đi, tưởng như có (cửa) mà thật là không có. Hay, đặt lan can thấp trên đầu tường, tựa như trên đó có đài trông trăng, mà thực thì không có vậy.

Nhà nghèo, buồng chật người đông, nên phỏng theo như cách bài trí chỗ khoang sau trong thuyền Thái Bình ở quê tôi, dời đổi thêm một chút trong đó. Lấy bệ bậc làm giường, trước sau kê gá với nhau, có thể làm được ba phản, dùng ván dán giấy ngăn cách, thì trước sau trên dưới đều cách tuyệt, tỉ như đi chỗ đường dài, thì sẽ không cảm thấy chật hẹp nữa vậy.

Khi vợ chồng tôi ngụ cư ở Dương Châu, từng học theo cách ấy. Nhà chỉ có hai buồng, nhưng trên dưới, buồng ngủ, nhà bếp, phòng khách đều cách tuyệt, mà vẫn thừa rộng rãi. Vẫn từng cười bảo: “Bài trí tuy tinh tường, nhưng rốt chẳng phải là khí tượng của nhà phú quý vậy.” Thực là như thế ư?

Tôi đi tảo mộ trên núi, nhặt lấy những viên đá có hoa văn đẹp về, bàn với Vân rằng: “Dùng hồ vôi gắn đá Tuyên Châu trong bồn đá trắng, là cốt màu sắc hòa đều nhau. Đá vàng ở núi này tuy cổ phác, nhưng nếu cũng dùng hồ vôi thì màu vàng trắng gián cách, vết ngấn tất lộ ra, làm sao bây giờ?” Vân nói: “Mình chọn lấy những viên không dùng được, đập nhỏ mà rắc vào chỗ ngấn vôi ngay khi còn ướt, bột đá vụn sẽ bám vào đấy, đến khi khô, màu sắc tất đồng đều.”

Tôi bèn theo lời mà làm, lấy cái bồn sành Nghi Hưng hình chữ nhật, xếp đá thành một ngọn núi, lệch sang bên trái mà nhô sang bên phải, lưng núi làm thành vằn gập ngang như phép vẽ đá của Vân Lâm (Vân Lâm: tức Nghệ Toản - họa gia đời Nguyên, người Vô Tích, Giang Tô, giỏi về sơn thủy, vẽ đá núi thường dùng nét phết (thuân) gập vuông.), chon von lồi lõm, tựa như hình trạng mỏm đá nhô ra bên sông. Phía chậu để không thì lấy bùn sông trồng cỏ bạch tần hoa kép. Trên đá trồng dây tóc tiên, tục gọi là vận tùng. Vất vả mấy hôm thì xong. Đến cuối thu, dây tóc tiên đã bò lan khắp núi, tựa như dây đằng la treo trên vách đá, hoa nở đỏ tươi, bạch tần cũng nở trắng dưới đáy nước, màu đỏ trắng xen nhau. Thả hồn vào đó, chẳng khác chi lên chơi Bồng Lai đảo. Tôi để bồn non bộ dưới mái hiên, cùng vẫn phẩm đề: Chỗ này nên dựng gác thủy tạ, chỗ này nên dựng đình cỏ, chỗ này nên mài đá khắc sáu chữ rằng: “Lạc hoa lưu thủy chi gian”, (Nghĩa là: Ở giữa khoảng hoa rơi nước cháy) chỗ này có thể ở, chỗ này có thể ngồi câu, lại chỗ này có thể trông xa nhìn ngắm. Cảnh non nước trong lòng, mà tựa sắp di cư thực vậy. Một tối, hai con mèo tranh ăn với nhau, từ trên mái hiên rơi xuống, khiến cả bồn cùng núi, khoảnh khắc vỡ tan mất. Tôi than bảo: “Để chút mưu toan cỏn con này mà cũng bị con tạo đố kỵ thế ru!” Cả hai cùng không ngăn được mà rơi lệ.

Phòng vắng đốt hương, cũng là nhã thú trong khi nhàn rỗi. Vân từng lấy các thứ trầm hương, tốc hương, (Tốc hương: tức hoàng thực hương - một loại hương mộc. Lý Thời Trân trong Bản thảo cương mục có viết: “Phàm hương có ba bậc, là trầm, sạn, hoàng thực vậy... Trong đó, hoàng thục hương, tức là loại hương thoảng nhẹ, chính là loại mà tục vẫn ngoa gọi là tốc hương”) xông trong cái chõ đồ xôi, trên lò đặt một cái giá bằng sợi đồng, cách mặt than độ một tấc, để hương cháy từ từ, thì hương thơm u nhã mà không khói. Trái phật thủ kị mũi người say rượu ngửi vào, nếu ngửi thì dễ bị thối. Mộc qua (Mộc qua ở đây tức quá mộc qua Trung Quốc, còn gọi mộc qua hải đường, là loài cây thân gỗ, lá rụng sớm, quả tựa trái lệ lớn, chín có mùi hương thơm) thì kị đổ mồ hôi, nếu bị đổ mồ hôi thì phải lấy nước rửa đi. Duy có hương viên (Hương viên: loại quả thuộc họ cam chanh, có hương thơm, nhưng không có ngón như quả phật thủ) thì không kị gì cả. Phật thủ, mộc qua cũng có phép đem làm đồ dâng cúng, không thể ghi hết cả được. Thường có người đem đồ cúng cầm ngửi, tùy ý đặt để, ấy tức là kẻ không biết phép dâng cúng vậy.

Tôi nhàn cư luôn, nên trên đầu bàn chẳng khi nào không có bình hoa. Vân bảo: “Mình cắm hoa, có thể thấy đủ cả cảnh nắng gió mưa sương, có thể nói là tinh diệu nhập thần. Nhưng trong hội họa có cách vẽ côn trùng điểm xuyết vào, chàng thử bắt chước phỏng theo như thế xem.” Tôi nói: “Côn trùng nhảy nhót không yên, nào để mình điều khiển, sao có thể bắt chước được?” Vân nói: “Có một cách này, chỉ e là đầu têu ra lại phải tội vậy.” Tôi bảo: “Nàng thử nói xem.”

Vân đáp: “Côn trùng chết đi màu sắc vẫn không đổi, mình tìm lấy mấy con bọ ngựa, ve sầu, bươm bướm, lấy kim đâm chết, rồi dùng dây tơ mảnh buộc chúng vào giữa khóm hoa cỏ, chỉnh cho chân chúng hoặc ôm lấy cành, hoặc đậu trên lá, hệt như lúc sống, chẳng cũng hay lắm ư?” Tôi thích quá, theo đúng cách ấy mà làm, ai trông thấy cũng phải tấm tắc khen ngợi. Tìm khắp trong đám phòng khuê, đến nay e là cũng chưa chắc có kẻ nào thấu hiểu lòng nhau như thế vậy.

Tôi và Vân ở nhờ nhà họ Hoa ở Tích Sơn, khi ấy Hoa phu nhân cho hai con gái theo Văn học chữ. Nhà ở thôn quê sân rộng, nắng hạ hun người, Vân bày cho gia đình cách làm những bình phong che nắng bằng hoa tươi rất tuyệt diệu. Mỗi bình phong là một phên rào, dùng hai cành cây ước dài độ bốn năm tấc, làm giống một cái ghế dài thấp, để rỗng giữa, rồi đặt bốn thanh ngang, dài độ một thước, bốn góc đục lỗ tròn, cắm que tre đan thành dậu mắt vuông. Bình phong cao chừng sáu, bảy thước, lấy những chậu sành trồng đậu ván đặt vào trong bình phong, cho dây dâu leo lên bình phong, hai người là có thể di chuyển được. Đan lấy mấy bức bình phong như thế, tùy ý đem che chắn, chả khác gì bóng cây xanh râm mát che cửa sổ, che nắng thoáng gió, quanh co gấp khúc, tùy lúc đổi thay, vì thế mà gọi là bình phong hoa tươi. Có được cách ấy, thì tất cả các giống dây leo, hương thảo, đều có thể tùy chỗ mà dùng. Đó thực là cách hay khi sống ở thôn quê vậy.

Người bạn tôi là Lỗ Bán Phảng, tên Chương, tự Xuân Sơn, giỏi vẽ tùng bách cúc mai, tinh thông lối chữ lệ, kiêm nghề triển khắc. Tôi ở nhờ trong lầu Tiêu Sảng nhà Bán Phảng đến một năm rưỡi. Lầu có nắm gian, hướng đông, tôi ba gian, dù tối sáng gió mưa, có thể nhìn được rất xa. Trong sân có một gốc hoa mộc, hương thoang thoảng trêu người. Có tường bao, có nhà chái, quang cảnh vô cùng u tĩnh.

Lúc tôi chuyển nhà, có đưa theo một người ở, một chị vú, dắt theo cả con gái nhỏ đến cùng. Người ở biết may áo, chị vú biết khâu vá. Vì thế, Vân thì thêu thùa, chị vú thì khâu vá, người ở thì cắt may, để lấy tiền chi dụng củi gạo. Tôi vốn mến khách, phàm uống rượu tất có tửu lệnh. Vân rất giỏi nấu nướng làm thức nhắm, rau dưa tôm cá, qua tay Vân làm, đều thành món ngon lạ bất ngờ. Bạn bè biết tôi nghèo, thường lần nào cũng bỏ tiền rượu, để trọn ngày khề khà với nhau. Tôi lại thích sạch sẽ, trong nhà không có tí bụi nào, cũng không bị câu thúc gì, nên mọi người có thể thoải mái chẳng nề hà.

Khi ấy, có Dương Bổ Phàm, tên Xương Tự, giỏi vẽ truyền thần nhân vật, Viên Thiếu Vu, tên Bái, giỏi vẽ sơn thủy; Vương Tinh Lan, tên Nham, giỏi vẽ chim thú hoa cỏ, mến vẻ u nhã của lầu Tiêu Sáng, đều đem đồ vẽ đến. Tôi bèn theo mấy người ấy học vẽ, viết chữ thảo, chữ triện, điều khắc ấn chương, để kiếm thêm chút tiền nhuận bút, đưa cho Vân sắm trà rượu mời khách, trọn ngày chỉ phẩm thi luận họa mà thôi.

Lại có hai anh em Hạ Đạm An, Hạ Ấp Sơn, cùng hai anh em Mâu Sơn Âm, Mâu Tri Bạch, và mấy người Tưởng Vận Hương, Lục Quất Hương, Châu Khiếu Hà, Quách Tiểu Ngu, Hoa Hạnh Phàm, Trương Nhàn Hàm, đều như én trên nhà, tùy ý tự đến tự đi. Vân dẫu gỡ thoa cài đầu đem bán lấy tiền mua rượu, cũng không hề tỏ vẻ oán trách gì. Cảnh đẹp ngày vui, chẳng bao giờ để phí hoài trôi qua được. Đến bây giờ thì mỗi người một phương, như nước chảy mây trôi, lại thêm ngọc nát hương vùi, chẳng bao giờ có thể quay đầu trở lại được nữa.

Lầu Tiêu Sáng có bốn điều cấm kị là: Bàn chuyện thăng quan tiến chức, thời sự công đường văn chương bát cổ; đánh bài chơi bạc, ai vi phạm tất bị phạt năm cân rượu (Một cân rượu ước độ 0,6 lít). Lại có bốn điều cho phép là: Khảng khái hào sảng, phong lưu hàm xúc; phóng túng không nệc thanh tĩnh yên lặng. Tiết giữa hè rảnh rỗi, lại tụ hội thi đối. Mỗi lần tụ hội tám người, mỗi người đem theo hai trăm tiền. Trước tiên bắt thăm, ai được số một thì làm chủ khảo, ngồi sang một chỗ riêng. Người được số hai thì làm thư ký, cũng ngồi một chỗ riêng. Còn lại tất cả đều là cử tử dự thi, ai nấy đến chỗ thư ký lấy một mảnh giấy, đã được đóng dấu ở trên. Chủ khảo ra câu đối năm chữ, bảy chữ, mỗi loại một câu, đốt hương để hạn định thời gian, cho đi đứng cấu tứ, nhưng không được bàn bạc riêng với nhau. Sau khi đối xong đem bỏ vào một cái hộp, thì mới được phép về chỗ ngồi. Sau khi mọi người đã nộp quyển xong xuôi cả, thư ký mới mở hộp, cùng chép lại ra một quyển, chuyển trình lên chủ khảo, để không được có ý riêng tư với ai. Trong mười sáu câu đối, lấy ra ba câu năm chữ, ba câu bảy chữ. Trong sáu câu đối, lấy câu đứng đầu của ai thì lần sau người ấy được làm chủ khảo, câu đứng thứ hai của ai thì lần sau người ấy làm thư ký. Người nào cả hai câu đều không được chọn thì bị phạt hai mươi đồng, người nào được chọn một câu thì phạt mười đồng, ai nộp muộn quá hạn thì lại bị phạt nhiều hơn nữa. Một vòng thi, chủ khảo được tiền hương một trăm đồng. Một ngày có thể thi tới mười vòng, gom được cả ngàn tiền, tha hồ mà mua rượu vậy. Duy có Vân được tính là “Quan quyền”,(Chế độ khoa cử đời Thanh quy định, con em các quan chức cao cấp tham gia kỳ hương thí thì gọi là quan sinh, quyển thi gọi là Quan quyển. Đây ý nói, nàng Vân thuộc diện đặc cách) cho ngồi mà nghĩ câu.

Dương Bổ Phàm vẽ cho vợ chồng tôi bức tranh đang cùng trồng hoa, trông thần tình tựa hệt. Tối hôm ấy, ánh trăng thật đẹp, bóng hoa lan in trên vách phấn, có một vẻ u nhã khác thường, Tinh Lan rượu say nổi hứng bảo: “Bổ Phàm vẽ ảnh cho ông rồi, thì tôi về bóng cho hoa vậy.” Tôi cười bảo: “Bóng của hoa dễ có thể sánh được ảnh của người ư?” Tinh Lan bèn lấy một tờ giấy trắng căng lên vách, rồi theo bóng hoa lan in trên đó lấy mực đậm nhạt mà đồ theo. Sáng hôm sau, lấy bức vẽ ra xem, tuy chưa thành tranh, nhưng hoa lá tiêu sơ, tự có cái thú vị dưới trăng vậy. Vân rất lấy làm quý báu, chúng tôi ai nấy cũng đề vịnh.

Thành Tô Châu có hai nơi là Nam viên và Bắc viên, mỗi mùa hoa cải vàng đều rất đẹp, chỉ khổ nỗi ở đó không có quán rượu nào mà uống. Cho thức nhắm vào tráp mang đến, ngắm hoa ăn đồ lạnh, thì lại chẳng còn ý vị gì nữa. Có người bàn, đến chỗ nào gần đó tìm quán rượu, có người bàn khi về thì uống. Song rốt chẳng thể nào khoái ý bằng được ngắm hoa mà nhắm đồ nóng. Mọi người còn bàn bạc chưa định thế nào, thì vẫn cười nói: “Ngày mai, chỉ cần các ngài mỗi người bỏ một ít tiền hầu bao ra đây, tôi sẽ gánh hỏa lò đến tận nơi cho.” Mọi người cùng cười mà bằng lòng.

Tất cả tan về rồi, tôi hỏi Vân: “Mình tự gánh bếp đến thật ư?” Vân nói: "Không đâu. Thiếp thấy những người bán vằn thắn trong chợ, gánh hàng có đủ nồi bếp, sao không thuế họ mang đến cho? Thiếp sẽ sắp sẵn các món đồ nhắm trước, sau khi đến đó lại cho đảo nóng lại, trà rượu cũng đều tiện cả.” Tôi bảo: “Rượu nhắm thì rõ là tiện rồi, nhưng trà thì thiếu đồ pha.” Vân nói: “Mang theo một cái ấm đất, lấy chĩa sắt xỏ vào quai ấm, nhấc nồi ra, gác ấm lên bếp, bỏ thêm chi vào mà nấu trà, chẳng cũng tiện ư?” Tôi vỗ tay khen phải. Đầu phố có người họ Bão, bán vằn thắn gánh, bèn bỏ một trăm tiền thuê gánh bếp, hẹn đến sau buổi trưa ngày mai mang tới, họ Bão vui vẻ bằng lòng ngay.

Hôm sau, những người đi ngắm hoa đến, tôi nói lại chuyện cho nghe, ai cũng đều thán phục. Ăn cơm xong, mọi người cùng đi, mang theo cả chiếu và đệm ngồi. Đến Nam viên, chọn một bóng liễu rợp ngồi quây quần dưới gốc. Trước tiên pha trà, uống xong, thì hâm rượu đảo lại đồ nhắm. Khi ấy, gió êm nắng ấm, khắp mặt đất hoa như dát vàng, áo xanh tay đỏ, vượt luống băng bờ, bươm bướm bay rối, khiến người chẳng uống mà say. Rồi đó rượu cùng đồ nhắm đều đã nóng, cùng nhau ngồi dưới đất mà thưởng. Người gánh bếp cũng không phải tục nhân, mọi người cũng kéo lại cùng ngồi uống. Những khách du khác trông thấy thế, chẳng ai không hâm mộ cho là một ý tưởng khác lạ. Chén bát ngôn ngang, ai nấy đều đã say sưa, kẻ ngồi người nằm, hoặc ngâm hoặc hát. Mặt trời sắp ngả, tôi nghĩ thèm cháo, người gánh bếp lập tức mua gạo nấu cho, ăn no bụng rồi về. Vân nói: “Hôm nay đi chơi có vui không?” Mọi người cùng đáp: “Nếu không có phu nhân ra sức, thì sao được thế.” Rồi cùng cười lớn giải tán.

 

Nhà bần sĩ, cái ăn cái mặc cho tới đồ dùng buồng ở, đều nên tiết kiệm mà thanh sạch. Phép tiết kiệm là “tùy việc luận việc”. Tôi thích ăn uống đơn giản, không thích nhiều món. Vẫn bèn làm cho một cái tráp hoa mai: Dùng sau chiếc đĩa sứ trắng bề ngang hai tấc, ở giữa để một cái, xung quanh là năm cái, lấy vôi gắn lại, hình trạng trông tựa bông hoa mai, đế và nắp tráp đều theo hình lồi lõm cánh hoa, trên nắp lại có núm như đài hoa. Đặt ở trên đầu bàn chẳng khác gì một đóa hoa mai, mở nắp ra xem, tựa hồ món ăn được để trên những cánh hoa. Một tráp sáu món, cùng hai, ba tri kỷ, có thể tùy ý lấy ăn, ăn hết lại thêm. Lại làm một cái mâm tròn cạnh thấp, để tiện đặt chén đũa, bầu rượu, có thể bày ra ở bất kỳ đâu, mang đi cùng tiện. Ấy cũng là một cách để tiết kiệm đồ ăn vậy.

 

Những mũ đội, tất chân của tôi đều do Vân tự làm lấy, áo nào bị rách cũng cắt chỗ nọ và chỗ kia, tất đều chỉnh tề sạch sẽ. Màu sắc chọn thứ tối nhạt, để đỡ vết bẩn, vừa có thể mặc tiếp khách, lại có thể mặc thường ngày. Ấy lại là một cách để tiết kiệm đồ mặc vậy.

 

Lúc mới đến lầu Tiêu Sáng, hiềm rằng buồng tối, tôi bèn lấy giấy trắng dán tường, bèn thành sáng sủa. Mùa hè, dưới lầu, bỏ cánh cửa đi, không có chấn song, cảm giác chống chính không có gì che chắn. Vân nói: “Có cái mành tre cũ ở đây, sao không dùng rèm thay cho chấn song?” Tôi sào ngang, hỏi: “Như thế nào?” Vân nói: “Lấy mấy cái sào tre, màu đen, cây dựng dọc cây bắc ngang, cắt nửa cái mành buộc lên cây để chùng chạm đất, cao ngang cái bàn, ở giữa dựng bốn đoạn tre ngắn, dùng dây gai buộc chặt, sau đó ở chỗ rèm buộc vào cây sào ngang, tìm lấy mấy dải vải đen cũ khâu chặt rèm với cây sào ngang. Như vậy vừa có thể che chắn được, lại không tốn tiền.” Ấy là cách “tùy việc luận việc” vậy. Lấy đó mà suy, câu mà người xưa vẫn nói rằng: mẩu gỗ cành tre đều hữu dụng, thật có lý vậy.

Tháng hè, khi hoa sen mới nở, hoa sen tối cụp sáng xòe. Vân dùng một túi vải sa nhỏ, đựng một chút trà, bỏ vào giữa bông sen, sớm sau thì lấy ra, pha bằng nước suối trời (Tức nước mưa), hương vị vô cùng tuyệt diệu.

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét