Ảnh Don Hong Oai |
NGÔ THƯ QUYỂN 11- CHU TRỊ CHU NHIÊN LÃ PHẠM CHU
HOÀN TRUYỆN
Chu Trị, Chu Nhiên, Lã Phạm, Chu Hoàn.
CHU TRỊ TRUYỆN
Chu Trị tự Quân Lý, người quận Đan Dương huyện Cố Chướng. Ban đầu làm Huyện lại, sau trúng cử Hiếu liêm, quan châu vời đến làm Tòng sự, theo Tôn Kiên chinh phạt. Năm Trung Bình thứ năm, được bái làm Tư mã, theo đi đánh dẹp giặc ở ba quận Trường Sa, Linh, Quế là bọn Chu Triều, Tô Mã, có công, Kiên dâng biểu xin cho Trị làm Hành đô úy(1). Trị theo đi phá Đổng Trác ở Dương Nhân, vào Lạc Dương. Kiên lại dâng biểu xin cho Trị làm Hành đốc quân hiệu úy(2), riêng nắm quân bộ kỵ, rồi sang đông giúp Từ châu mục Đào Khiêm đánh dẹp Hoàng Cân.
Lúc Kiên chết, Trị
giúp đỡ Sách, tới nương nhờ Viên Thuật. Sau đó Trị biết Thuật chẳng lập nổi đức
chính, bèn khuyên Sách quay về bình định Giang Đông. Thời Thái phó Mã Nhật Đê ở
Thọ Xuân, cho vời Trị đến làm Huyện lại, rồi thăng làm Đô uý Ngô Quận. Bấy giờ
Ngô Cảnh đang ở Đan Dương, còn Sách vì Thuật mà tấn công Lư Giang, vì thế Lưu
Do sợ Viên, Tôn hợp sức với nhau, nên mới sinh ra hiềm khích. Nhưng gia đình
Sách đều ở trong châu ấy, Trị liền sai người đến Khúc A nghênh đón Thái phi và
anh em Quyền, từ đó cung phụng, giúp đỡ che chở cho họ, rất chu đáo lễ phép. Trị
từ Tiền Đường định đi đến huyện Ngô, Thái thú Ngô Quận là Hứa Cống dàn quân giữ
ở Do Quyền, Trị cùng giao chiến, đại phá Cống. Cống xuôi nam tới chỗ sơn tặc là
Nghiêm Bạch Hổ, Trị liền vào trong quận, tự giữ công việc của Thái thú. Sách đã
Lưu Do bỏ chạy, rồi sang Đông bình định Cối Kê.
Năm Quyền mười lăm tuổi,
Trị đề cử làm Hiếu liêm. Sau khi Sách mất, Trị và bọn Trương Chiêu cùng tôn phù
phò tá Quyền. Năm Kiến An thứ bảy, Quyền dâng biểu xin cho Trị làm Thái thú Cửu
Chân (Ngô Quận), giữ chức Hành phụ nghĩa tướng quân(3), lấy Cát Lâu, Do Quyền,
Vô Tích, Bì Lăng làm phụng ấp, đặt ra chức Trưởng lại. Trị đi đánh dẹp các tộc
Di Việt, giúp cho vùng Đông Nam yên định, bắt hết dư đảng của Hoàng Cân là bọn
Trần Bại, Vạn Bỉnh. Năm Hoàng Vũ nguyên niên, Trị được phong tước Bì Lăng hầu,
cai quản quận như cũ. Năm thứ hai, được bái làm An Quốc tướng quân, có kim ấn
và dây thao tía, dời đất phong về Cố Chướng(4).
Quyền từ lúc ở ngôi vị
Thượng tướng, cho đến lúc làm Ngô Vương, Trị mỗi khi vào yết kiến, Quyền thường
thân ra đón tiếp, tay cầm hốt giao bái, thết yến tặng đồ, ân sủng kính trọng đặc
biệt, đến cả những quan lại đi theo Trị, đều được tặng lễ vật riêng, Trị được
trọng vọng khác thường như thế.
Khi trước, em của Quyền
là Dực, bản tính rất nóng nảy, mừng giận mặc ý, Trị mấy lần trách mắng, lấy đại
nghĩa khuyên giải. Anh họ của Quyền là Thái thú Dự Chương Tôn Bôn, có con gái
là vợ của Tào công tử, lúc Tào công phá Kinh Châu, uy chấn nam thổ, Bôn sợ hãi,
muốn phái con đến làm con tin(5). Trị nghe tin ấy, xin tới gặp Bôn, bầy tỏ việc
an nguy, Bôn vì thế mới cho dừng chuyện ấy lại.
Giang Biểu truyện
chép lại lời Trị thuyết Bôn rằng: “Phá lỗ tướng quân trước kia thống suất nghĩa
binh vào đánh dẹp Đổng Trác, tiếng tăm vang dội Quan Trung, nghĩa sĩ ngợi khen.
Thảo Nghịch kế tiếp, mở mang yên định sáu quân, riêng có quân hầu là cốt nhục
chí thân, tài năng sinh đúng thời, nên đã dâng biểu lên Hán triều, cho làm
phiên trấn ở Đại Quận, kiêm quản việc gây dựng tướng giáo, luôn giữ quan hệ mật
thiết với lưỡng phủ, vinh dự đứng đầu tông thất, hết thảy xa gần ngưỡng vọng. Lại
thêm Thảo Lỗ là bậc thông minh thần vũ, kế thừa hồng nghiệp, thu dụng giao kết
với các bậc anh hào, chăm lo giúp đời, binh chúng ngày một thịnh, sự nghiệp
ngày càng hưng vượng, dù là Tiêu vương trước kia ở Hà Bắc, không hơn được vậy(6),
thế tất sẽ gây dựng được vương nghiệp, ứng thời vận ở phía Đông Nam. Việc Lưu
Huyền Đức ở xa bầy tỏ tấm lòng, cầu kiến xin cứu giúp, đó là thiên hạ cùng biết
vậy. Hôm trước tôi ở phía Đông nghe được lời người qua đường, nói rằng tướng
quân có ý lạ, thật khiến cho người ta phải bùi ngùi. Nay Tào công cậy binh lực,
làm ngiêng ngửa nhà Hán, ấu chúa phải lưu ly, bách tính trăm họ chưa biết quay
đầu về đâu. Còn Trung Quốc thì tiêu điều, ngờ là bách tính không yên, thành ấp
rỗng không, người chết đói ở trên đường ngóng trông nhau, kẻ sĩ than thở bên
ngoài, phụ nữ trong nhà ai oán, lại thêm việc binh lữ, dẫn đến cảnh mất mùa đói
kém, lấy đó mà suy tính, há họ có thể vượt Trường Giang cùng với ta tranh mối lợi
chăng? Tướng quân đang lúc như thế này, nên bỏ tình thân cốt nhục, là cái kế vạn
an, còn dứt bỏ cái tình đồng khí da thịt, theo lời dụ dỗ của hổ lang, vì một
người con gái, mà đổi mối ưu tư bằng toan tính, lỡ cơ một hào một ly, sai lầm vạn
dặm, há chẳng tiếc ru? “
Quyền thường khen Trị
chuyên cần lo lắng cho vương sự. Bản tính cần kiệm giản dị, dẫu ở chỗ phú quý,
xe cộ y phục chỉ dùng cho công việc. Quyền cho Trị là người rất đặc biệt, bởi
thế cho Trị đảm nhiệm chức vụ Đốc quân ngự sử chuyên ghi chép văn thư ở kinh
thành, Trị chỉ tiếp nhận tô thuế ở bốn huyện mà thôi. Những con em trong công tộc
và bốn họ lớn ở đất Ngô đa phần ra làm quan ở quận, quan lại ở quận thường có mấy
nghìn người, Trị thống quản công việc mấy năm, tất cả bọn họ đều phái người đến
vương phủ, mỗi nơi mấy trăm người, hàng năm đúng mùa dâng cống vật, Quyền báo
đáp lại còn hậu hĩnh hơn. Thời ấy Đan Dương là vùng đất ở xa, luôn có phản loạn,
Trị cũng vì tuổi sắp lên lão, lưu luyến đất phong, tự dâng biểu lên xin
về đóng quân ở Cố Chướng,
trấn thủ vỗ về người ở Sơn Việt(7). Các vị phụ lão là người quen cũ, chẳng ai
không đến nhà Trị, Trị đều cho dẫn vào, cùng yến tiệc, làng xóm cho thế là vinh
dự. Trị ở Cố Chướng hơn một năm, lại quay về Ngô Quận. Năm Hoàng Vũ thứ ba thì
chết, Trị ở quận ba mươi mốt năm, thọ sáu mươi chín tuổi.
Con của Trị là Tài,
vì phẩm hạnh cao khiết được làm Hiệu uý cai quản binh lính, rồi nối tước của
cha, được thăng làm Thiên tướng quân.
Ngô thư chép: Tài tự
Quân Nghiệp, là người tinh nhanh, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, Quyền yêu mến khác
thường, thường cho đùa bỡn với kẻ hầu. Lúc trẻ vì cha được nhậm chức Vũ vệ hiệu
uý, lĩnh binh làm tuỳ tùng đi theo chinh phạt, luôn thắng trận lập công. Người ở
bản quận chê là Tài còn trẻ được ở chỗ vinh hiển phú quý, không lưu ý đến xóm
làng, Tài bèn than rằng: “Ta mới làm tướng, nói về việc cưỡi ngựa giầy xéo địch,
đem thân dẫm vào chốn gươm đao, là đủ để dương danh, chẳng biết sao người trong
thôn xóm lại truy xét cử chỉ đó của ta là thất thố ư?” Vì thế mới thay đổi chuyển
sang nhún mình cung kính, lưu ý đến tân khách, khinh tài trượng nghĩa, giúp người
khác chẳng mong báo đáp, lại học binh pháp, thanh danh vang dậy xa gần. Được ít
lâu thì ốm chết.
Em của Tài là Kỷ, Quyền
đem con gái của Sách gả cho, cũng cho làm Hiệu uý cai quản binh lính. Em Kỷ là
Vĩ, Vạn tuổi nhỏ, đều chết yểu. Con của Tài là Tuyển, được tập tước làm tướng,
làm quan đến chức Trấn Tây tướng quân.
CHÚ THÍCH
(1) Tạm coi việc của Đô uý.
(2) Coi việc Đốc quân hiệu uý.
(3) Tạm giữ chức Phụ nghĩa tướng quân.
(4) Cho đất phong ở quê quán.
(5) Con gái Tôn Bôn là vợ của con trai Tào Tháo, Tháo đánh Kinh Châu, phương nam chấn động, Dực sợ, muốn gửi con làm tin.
(6) Không rõ nhân vật này lai lịch thế nào, sống ở đời nào, sự tích ra sao.
(7) Đan Dương là quận trị, có huyện Cổ Chướng là đất phong của Chu Trị, Trị xin về đất phong, vỗ về dân Sơn Việt ở đó, nhất cử lưỡng tiện.
CHU NHIÊN TRUYỆN
Chu Nhiên tự Nghĩa
Phong, là con trai người chị gái của Trị, vốn gốc họ Thi. Khi trước Trị chưa có
con trai, năm Nhiên được mười ba tuổi, Trị bèn bẩm với Tôn Sách xin lấy Nhiên
làm con nối dõi. Sách lệnh cho Quận thú quận Đan Dương đem dương tửu tới triệu
Nhiên, Nhiên đến Ngô quận, Sách đưa hậu lễ chúc mừng.
Nhiên từng cùng với
Quyền học chung sách, kết tình thân ái. Đến lúc Quyền thống quản công việc, lấy
Nhiên làm Trưởng huyện Dư Diêu, bấy giờ Nhiên mười chín tuổi. Sau lại đổi Nhiên
làm Sơn Âm lệnh, gia thêm chức Chiết xung Hiệu úy, thống đốc năm huyện. Quyền lấy
làm lạ về tài năng của Nhiên, bèn tách quận Đan Dương lập quận Lâm Xuyên, lấy
Nhiên làm Thái thú, trao cho giữ hai nghìn binh.
Thần Tùng Chi xét: Đấy
là quận Tầm Bãi, không phải là quận Lâm Xuyên hiện nay(8).
Gặp lúc sơn tặc đồng
loạt nổi dậy, Nhiên bình định đánh dẹp, trong
khoảng tuần trăng thì
yên định được cả. Tào công tiến ra Nhu Tu, Nhiên đóng trại ở Đại Ổ và Tam Quan
phòng bị, được bái làm Thiên tướng quân.
Năm Kiến An thứ hai
mươi bốn, theo đi đánh Quan Vũ, được biệt phái cùng với Phan Chương đến Lâm Tự
bắt sống Vũ, Nhiên được thăng làm Chiêu Vũ tướng quân, phong tước Tây An hương
hầu.
Hổ uy tướng quân Lã
Mông bị bệnh nặng, Quyền hỏi rằng: “Khanh nếu như chẳng đứng dậy nổi, ai có thể
thay được?” Mông thưa rằng: “Chu Nhiên cam đảm tiết nghĩa có thừa, ngu ý cho rằng
có thể đảm nhiệm được.” Mông chết, Quyền cho Nhiên tạm được cầm phù tiết, trấn
thủ Giang Lăng. Năm Hoàng Long nguyên niên, Lưu Bị cất binh tấn công Nghi Đô,
Nhiên đốc suất năm nghìn quân cùng Lục Tốn hợp sức chống cự Bị. Nhiên được biệt
phái đánh phá quân tiên phong của Bị, cắt đứt đường lui của Bị, Bị sau bị đánh
tan bỏ chạy. Nhiên được bái làm Chinh bắc tướng quân, phong tước Vĩnh An hầu.
Nước Ngụy phái bọn
Tào Chân, Hạ Hầu Thượng, Trương Cáp tấn công Giang Lăng, Ngụy Văn đế tự đóng giữ
Uyển thành, làm hình thế viện trợ, đóng trại liền nhau vây thành. Quyền phái Tướng
quân Tôn Thịnh đốc suất một vạn người phòng bị ở Châu Thượng, xây dựng Vi Ổ,
làm thế cứu viện ở vòng ngoài cho Nhiên. Trương Cáp đưa binh qua sông tấn công
Thịnh, Thịnh không thể kháng cự, tức thì lui binh về, Cáp chiếm cứ Châu Thượng
bao vây quân phòng bị, Nhiên trong ngoài bị cắt đứt. Quyền phái bọn Phan Chương,
Dương Sán tới giải vây nhưng không được. Bấy giờ binh sĩ của Nhiên ở trong
thành đa phần bị bệnh phù thũng, quân có khả năng chiến đấu chỉ chừng năm nghìn
người. Bọn Chân đắp núi đất, đào địa đạo, lập lầu gỗ, ở trên cao bắn tên như
rót vào thành, tướng sĩ đều thất sắc, Nhiên lặng yên không có ý sợ hãi, khích lệ
sĩ tốt, dò xét lúc chúng sơ hở tấn công phá hai trại địch. Ngụy quân vây đánh
Nhiên cả thảy là sáu tháng ròng, không lui. Giang Lăng lệnh là Diêu Thái lĩnh
binh phòng thủ ở cửa bắc thành, thấy bên ngoài binh đông, trong thành thì ít
người, lương thực sắp hết, nhân đó cùng với địch thông đồng, toan mưu làm nội ứng.
Lúc sắp phát động, việc bị phát giác, Nhiên trừng trị phanh thây Thái. Bọn Thượng
không đánh được, bèn triệt quân tấn công lui về. Bởi thế Nhiên danh chấn địch
quốc, được đổi phong làm Đương Dương hầu.
Năm thứ sáu, Quyền tự
mình thống suất binh sĩ tấn công Thạch Dương, đến lúc binh sư quay về, Phan
Chương đi đoạn hậu. Ban đêm quân sinh thác loạn, địch đuổi theo đánh Chương,
Chương không thể ngăn cản. Nhiên lập tức quay lại cự địch, lệnh cho thuyền quân
ở phía trước lui về thật xa, rồi Nhiên thong thả tiến phát sau. Năm Hoàng
Long(9) nguyên niên, Nhiên được bái làm Xa kỵ tướng quân, Hữu hộ quân, lĩnh chức
Duyện châu mục. Ít lâu sau, vì Duyện châu là địa phận của nước Thục, nên bãi chức
Mục ấy.
Năm Gia Hòa thứ ba,
Quyền giúp Thục hẹn cùng cất đại quân đánh Nguỵ, Quyền tự sang hướng Tân Thành,
Nhiên cùng Toàn Tông đều được nhận Phủ việt(10), làm tả hữu đốc. Gặp lúc quân
sĩ bị bệnh tật, cho nên chưa đánh mà lui về.
Năm Xích Ô thứ năm,
Nhiên đi đánh Tô Trung, tướng nước Ngụy là Bồ Trung, Hồ Chất, mỗi tướng có mấy
nghìn người, Trung chặn giữ chỗ hiểm yếu, toan cắt đứt đường phía sau của
Nhiên, Chất đi sau làm cứu viện cho Trung.
Tương Dương ký chép:
Chữ Tô này phát âm như chữ Tô trong từ ‘tô thuế’. Tô Trung nằm ở địa giới Thượng
Hoàng, cách thành Tương Dương một trăm năm mươi dặm. Thời Ngụy Di Vương là Mai
Phu có ba người anh em, bộ khúc tụ tập ở chỗ ấy có hơn vạn nhà, phân bố tại
Trung Lư ở phía tây Nghi Thành vùng Sơn Yên và trong hai thung lũng ven sông Miện,
đất đai bằng phẳng rộng rãi, có nhiều cây tang ma(11), giao thông thủy bộ dễ
dàng, phía nam sông Miện đất đai mầu mỡ, mơi ấy gọi là Tô Trung.
Bấy giờ Nhiên đốc suất
binh tướng tiến ra bốn phía, nghe được tin địch chưa kịp tập hợp, Nhiên liền dẫn
tám trăm thủ hạ dưới trướng ngầm đón đánh. Trung giao chiến bất lợi, bọn Chất đều
lui về.
Dị đồng bình của Tôn
Thịnh chép: Ngụy chí (Ngụy thư) cùng Giang Biểu truyện nói rằng Nhiên vào năm Cảnh
Sơ nguyên niên, năm Chính Thủy nhị niên mấy lần tiến ra cửa khẩu, phá Hồ Chất,
Bồ Trung vào năm Cảnh Sơ nguyên niên. Ngụy chí nối theo Ngụy thư, không đưa lời
khẳng định là bọn Chất bị Nhiên đánh tan ở đó, mà nói thẳng là Nhiên lui quân về
vậy. Ngô chí nói là năm Xích Ô thứ năm, ở nước Ngụy là năm Chính Thuỷ thứ ba,
tướng nước Ngụy là Bồ Trung cùng với Chu Nhiên giao chiến, Trung gặp bất lợi, bọn
Chất đều lui. Xét Ngụy Thiếu Đế kỷ cùng Tôn Quyền truyện(12), thì năm ấy là vô
sự, đích thị là Trần Thọ nhầm lẫn năm Gia Hòa thứ sáu nhà Ngô là năm Xích Ô thứ
năm vậy.
Năm thứ chín, lại đi
đánh Tô Trung, tướng nước Ngụy là bọn Lý Hưng nghe tin Nhiên xâm nhập, đốc suất
sáu nghìn quân bộ kỵ cắt đứt đường phía sau của Nhiên, Nhiên trong đêm xuất
binh đón đánh Hưng, sau khi thắng trận liền kéo về. Trước đấy, Mã Mậu ở Quy
Nghĩa mang lòng gian, việc phát giác bị giết, Quyền rất căm phẫn Mậu. Nhiên lúc
sắp hành quân dâng sớ rằng: “Tên tiểu tử Mã Mậu, dám phụ cái ơn dưỡng dục. Thần
nay phụng thiên uy, hi vọng có thể đưa tin thắng trận, bắt sông được giặc, uy
danh vang dội soi sáng xa gần, thuyền bè đã xếp hàng ngay ngắn phủ kín Trường
Giang, đáng để ngắm xem, làm tiêu tan nỗi căm phẫn với kẻ dưới của hoàng thượng.
Hi vọng Bệ hạ nhớ lời nói trước của thần, trách mắng thần để sau này thần nỗ lực
đến cùng.” Quyền bấy giờ cất tờ biểu đi không đưa ra. Nhiên thắng trận trở về,
quần thần dâng biểu chúc mừng, Quyền bèn nâng chén rượu cho tấu nhạc, rồi đưa tờ
biểu của Nhiên ra nói: “Nhiên trước khi đi sớm dâng biểu, Cô cho là việc khó mà
xong, nay quả như lời của Nhiên, có thể nói là sáng suốt ở chỗ biết việc vậy.”
Rồi phái sứ giả bái Nhiên làm Tả tư mã, Hữu quân sư.
Nhiên mình cao chẳng
đầy bảy thước, nóng lạnh phân minh rõ ràng, bên trong sửa mình trong sạch, những
thứ tốt đẹp của mình, chỉ dùng vào việc trang bị trong quân, bản thân dùng toàn
đồ mộc mạc. Suốt ngày kính cẩn chăm chỉ, thường ở chiến trường, nguy cấp ở gần
kề thì bình tĩnh xếp đặt, kỳ tuyệt hơn đứt người thường, dẫu việc đời vô sự,
thường sớm tối đánh trống nghiêm cẩn, binh lính ở doanh trại, đều xếp hành
trang gọn gàng, vì thế có thể đùa bỡn với địch, khiến chúng không biết đâu mà
phòng bị, cho nên xuất binh luôn lập được công lao. Con của Gia Cát Cẩn là
Dung, con của Bộ Chất là Hiệp, dù đều nối việc của cha, Quyền đặc biệt cho
Nhiên cầm đầu làm Đại đốc. Lại nữa là sau khi Lục Tốn chết, công thần danh tướng
còn lại duy có Nhiên, sự đãi ngộ tuyệt chẳng ai so sánh được. Nhiên nằm bệnh
hai năm, sau càng nặng dần, Quyền ban ngày giảm bớt cỗ bàn, ban đêm ngủ không
say giấc, đích thân phái người đưa thuốc men và đồ ăn cho Nhiên, và đứng trông
theo ở trên đường. Nhiên mỗi lần phái sứ giả dâng biểu rằng bệnh tật đã tiêu
tan, Quyền lập tức cho triệu kiến, miệng hỏi han bệnh tật, khi đến thì ban cho
đồ ăn thức uống, lúc ra về thì đưa tặng vải lụa. Từ khi các công thần sáng nghiệp
ốm bệnh, tất cả như ý Quyền, thì Lã Mông, Lăng Thống là rất nặng, thứ nữa là đến
Nhiên. Nhiên được sáu mươi tám tuổi, là năm Xích Ô thứ mười thì chết, Quyền mặc
áo trắng cử ai, rất bi thống. Con của Nhiên là Tích nối tự.
Tích tự Công Tự, nhờ
cha được đảm nhiệm chức Lang, sau được bái làm Kiến Trung đô uý. Người chú là
Tài chết, Tích được lĩnh binh của Tài, theo Thái thường Phan Tuấn đi đánh dẹp ở
Ngũ Khê, vì can đảm và có sức khoẻ được khen ngợi. Rồi thăng làm Thiên tướng
quân Doanh hạ đốc, coi việc đánh đạo tặc, giữ phép tắc không hề nghiêng ngả. Lỗ
Vương Bá để ý và giao du với Tích, từng đến dinh sở của Tích, khi đến nơi ngồi
chơi, muốn cùng giao kết, Tích ngồi xuống đất không dậy, khước từ không nhận.
Nhiên chết, Tích nối nghiệp, được bái làm Bình Nguỵ tướng quân, Lạc Hương đốc.
Năm sau, Chinh nam tướng quân nước Nguỵ là Vương Sưởng đốc xuất quân lính tấn
công thành Giang Lăng, không thắng phải lui về. Tích gửi thư cho Phấn uy tướng
quân Gia Cát Dung nói: “Sưởng từ xa đến đây mỏi mệt khốn khó, ngựa không có
lương ăn, lực khuất phải bỏ chạy, đó trời giúp ta vậy. Nay ta đuổi theo thì
binh lực ít, túc hạ nên dẫn binh theo giúp ta, ta sẽ phá chúng ở phía trước,
túc hạ ngồi xe ở phía sau, há đâu là cái công của một người, chúng ta nên cùng
vì nghĩa chặt vàng.” Dung đáp thư hứa theo Tích. Tích liền dẫn binh đuổi kịp Sưởng
ở Kỷ Nam, Kỷ Nam ở cách thành trì ba mươi dặm, Tích ban đầu chiến thắng, nhưng
Dung không tiến binh, Tích về sau mất lợi thế. Quyền rất khen ngợi Tích, nổi giận
trách Dung, anh của Dung là Đại tướng quân Gia Cát Khác được quý trọng, cho nên
Dung không bị phế truất. Khi trước Tích cùng với Dung và Khác đã bất bình, lúc
xảy ra việc này, nên hiềm khích càng nặng.
Năm Kiến Hưng nguyên
niên, Tích được thăng làm Trấn đông tướng quân. Năm thứ hai mùa xuân, Khác ra
hướng Tân Thành, yêu cầu Tích hợp sức, nhưng lưu lại ở Bán Châu, sai Dung kiêm
quản việc ấy. Mùa đông, Khác và Dung bị hại, Tích lại quay về Lạc Hương, được
ban Giả tiết.
Năm Thái Bình thứ
hai, Tích được bái làm Phiêu kỵ tướng quân. Tôn Lâm nắm quyền chính, đại thần
nghi ngờ, Tích sợ rằng nước Ngô tất nhiễu loạn, rồi Trung Quốc thừa cơ gây hấn,
bèn bí mật gửi thư giao kết với nước Thục, để cả hai bên cùng lo toan. Thục
phái Hữu tướng quân Diêm Vũ đưa năm nghìn quân, tăng cường giữ thành Bạch Đế, để
đợi hiệu lệnh của Tích. Năm Vĩnh An sơ, Tích được thăng làm Thượng đại tướng
quân, Đô hộ đốc, từ Ba Khâu lên đến Tây Lăng. Năm Nguyên Hưng nguyên niên, triều
đình cho người tới bái làm Tả đại tư mã.
Khi trước, Nhiên vì
chịu tang Trị xong, xin khôi phục lại họ gốc, Quyền không đồng ý, Tích đem năm
con chim phượng về dâng biểu và xin trả lại họ Thi, năm Kiến Hành thứ hai thì
chết.
CHÚ THÍCH
(8) Hai chữ ‘hiện nay’ ở đây tức là thời điểm mà Bùi Tùng Chi bổ chú cuốn Tam Quốc chí của Trần Thọ.
(9) Chỗ này hẳn sách
chép lầm hoặc Trần Thọ ghi lầm, chiếu theo đúng sự kiện thì phải là năm Hoàng
Vũ thứ nhất, chứ không phải Hoàng Long.
(10) Cái búa lớn tượng
trưng cho uy quyền của vua.
(11) Là một loại cây
giống cây dâu nhưng có gai.
(12) Nguyên ủy tên
ban đầu của quyển 47, Ngô chủ truyện là Tôn Quyền truyện, người sau chép sách mới
đổi tên đi vậy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét