Thứ Tư, 14 tháng 12, 2022

Sông ngòi Việt Nam

 


Hệ thống Sông ngòi Việt Nam


 

Ở Việt nam do điều kiện mưa nhiều đã tạo ra một số lượng sông suối rất lớn, tới khoảng 2.360 con sông và kênh lớn nhỏ. Dọc bờ biển, khoảng 23 km có một cửa sông và theo thống kê có 112 cửa sông ra biển. Các sông lớn ở việt nam thường bắt nguồn từ bên ngoài, phần trung du và hạ du chảy trên đất việt nam. Hầu hết các sông ở việt nam chảy theo hướng tây bắc-đông nam và đổ ra biển Đông. Ngoại lệ có sông Kỳ Cùng và Bằng Giang chảy theo hướng đông nam-tây bắc.

Do các sông bắt nguồn từ các núi cao nên sông ở thượng lưu rất dốc. Chính vì vậy vào mùa mưa sông chảy xiết, khi chảy về đồng bằng, sông uốn khúc quanh co.

 

 

A . CÁC HỆ THỐNG SÔNG LỚN: 


Việt Nam Có 9 hệ thống sông lớn trải từ Bắc vào Nam gồm:


I. HỆ THỐNG SÔNG BẰNG GIANG - KỲ CÙNG: Hệ thống sông Bằng Giang - Kỳ Cùng gồm 2 sông chảy ngược hướng nhau và gặp nhau ở Quảng Tây (Trung Quốc) tạo thành sông Tả Giang chảy vào sông Tây Giang đổ ra biển Quảng Châu.  


1. Sông Kỳ Cùng:


- Sông Kỳ Cùng là con sông chính ở tỉnh Lạng Sơn, chảy sang Trung Quốc và là một chi lưu của sông Tây Giang(Trung Quốc). Bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1.166 m thuộc huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn, sông chảy qua TP Lạng Sơn, thị trấn Văn Lãng, thị trấn Thất Khê rồi tới Bi Nhi, từ đây nó vượt biên giới sang Trung Quốc để hợp lưu với sông Bằng Giang tại thị trấn Long Châu, Quảng Tây, Trung Quốc, thành sông Tả Giang, chi lưu phía nam của sông Úc Giang trong hệ thống tạo thành sông Tây Giang. Đoạn chảy trên đất Việt Nam dài khoảng 243 km, diện tích lưu vực: 6.660 km². Từ biên giới Việt-Trung sông chảy trên đoạn dài khoảng 55 km tới Long Châu. Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng đông nam - tây bắc sang Trung Quốc.


- Sông Kỳ Cùng có 3 chi lưu chính là sông Bắc Giang và sông Bắc Khê, cả hai sông này đều hợp lưu gần Thất Khê, còn sông Ba Thín hợp lưu gần thị trấn Lộc Bình.


2. Sông Bắc Giang:


- Sông Bắc Giang là một chi lưu của sông Kỳ Cùng, bắt nguồn từ vùng núi Nguyên Bình, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, chảy sang huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và hợp lưu với sông Kỳ Cùng ở phía nam thị trấn Thất Khê (huyện Tràng Định). Chiều dài: 114 km. Diện tích lưu vực: 2.670 km².


- Đầu nguồn sông Bắc Giang có các chi lưu nhỏ như: sông Na Rì ở tỉnh Bắc Kạn, phía hữu ngạn có chi lưu sông Tà Lùng chảy qua Bản Tính-Huyện Na Rì; phía tả ngạn có sông Xe Cô phát nguyên từ dãy núi Cao Lan. Trong địa phận Bắc Kạn, sông Bắc Giang không thuận lợi cho việc giao thông bởi nước chảy xiết vào mùa lũ và lòng sông rất cạn vào mùa đông.


- Có một con sông tại Trung Quốc trùng tên Bắc Giang với sông này.


3. Sông Bắc Khê: Sông Bắc Khê là một chi lưu nhỏ của sông Kỳ Cùng có độ dài 54 km, diện tích lưu vực 801 km². bắt nguồn từ vùng giáp ranh hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và chảy qua Thất Khê, huyện lị huyện Tràng Định (Lạng Sơn) rồi đổ vào sông Kỳ Cùng.


4. Sông Ba Thín: Sông Ba Thín bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc Quảng Tây (Trung Quốc), đổ vào bờ phải sông Kỳ Cùng ở xã Khuất Xá huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Sông Ba Thín chỉ dài 52 km. Diện tích lưu vực 320 km².


5. Sông Bằng Giang:


- Sông Bằng Giang, hay còn gọi là sông Bằng chảy qua tỉnh Cao Bằng. Sông bắt nguồn từ tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam vào Cao Bằng tại cửa khẩu Sóc Giang, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng. Từ xã Sóc Giang, sông chảy qua các huyện Hà Quảng, Hòa An, Thị xã Cao Bằng, huyện Phục Hòa và kết thúc tại cửa khẩu Tà Lùng, xã Mỹ Hưng, huyện Phục Hoà (phía đông nam Cao Bằng) rồi đổ vào tỉnh Quảng Tây-Trung Quốc. Tại Trung Quốc, nó hợp lưu với sông Kỳ Cùng gần thị trấn Long Châu-Quảng Tây để tạo thành sông Tả Giang, chi lưu phía nam của Úc Giang. Sông Bằng có tổng chiều dài khoảng 108 km, trên đất Việt Nam sông Bằng có chiều dài khoảng 90km, diện tích lưu vực 4.000km2.


- Sông Bằng Giang có 24 chi lưu trong đó có 3 chi lưu lớn là sông Sê Bao, sông Hiếu, sông Bắc Vọng.


II. HỆ THỐNG SÔNG THÁI BÌNH: 

Hệ thống sông Thái Bình gồm sông Thái Bình cùng các phụ lưu và chi lưu của nó, các phụ lưu gồm sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam ở thượng nguồn. Tổng chiều dài của hệ thống  khoảng 1.650 km và diện tích lưu vực khoảng 10.000 km². Ngoài ra, hệ thống sông này còn nhận một phần dòng chảy của sông Hồng, để đổ ra biển Đông.


1. Sông Thái Bình: 

Dòng chính sông Thái Bình gồm hai đoạn:


- Đoạn một bắt đầu từ ngã ba Lác, phía dưới thị trấn Phả Lại thuộc tỉnh Hải Dương, chảy qua đất Hải Dương tới ngã ba Mía dài khoảng 64 km.


- Đoạn hai từ Quý Cao (xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ), nơi kết thúc sông Luộc, sang địa phận thành phố Hải Phòng, men theo ranh giới huyện Vĩnh Bảo với huyện Tiên Lãng và rồi chảy dọc theo ranh giới giữa huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) với tỉnh Thái Bình, đổ ra cửa Thái Bình ở vị trí giáp ranh hai tỉnh này với chiều dài đoạn này khoảng 36 km. Dòng mang tên Thái Bình này, chỉ chảy men theo tỉnh Thái Bình ở đoạn cuối, mà không chảy cắt qua địa phận tỉnh Thái Bình. Phần hệ thống sông Thái Bình liên quan tới tỉnh Thái Bình là sông Luộc và một con sông nhỏ là sông Hóa. Hai đoạn này của Sông Thái Bình thông với sông Văn Úc bằng ba sông nhỏ, dài khoảng 3 km mỗi sông là sông Cầu Xe, sông Mía và sông Kênh Khê.


- Do phần lớn lưu vực của hệ thống sông Thái Bình là các vùng đồi trọc, đất đai bị xói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm lượng phù sa cao. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy nông nên sông Thái Bình là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất.


2. Sông Cầu:


- Sông Cầu, còn gọi là sông Như Nguyệt, sông Thị Cầu, sông Nguyệt Đức, là con sông quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái Bình. Sông Cầu có diện tích lưu vực khoảng 6.030 km², là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, với chiều dài khoảng 290 km.

- Sông Cầu bắt nguồn từ phía Nam đỉnh Phia Bioóc (cao 1.578 m) của dãy Văn Ôn trong địa phận xã Phương Viên huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, chảy ngoằn ngoèo giữa hai dãy núi Ngân Sơn và dãy núi Sông Gâm qua thị xã Bắc Kạn. Tại xã Nông Hạ huyện Chợ Mới nó nhận một chi lưu phía hữu ngạn, tới địa phận thị trấn Chợ Mới, nó nhận một chi lưu nữa phía hữu ngạn. Tới địa phận xã Vân Lăng, xã Cao Ngạn (huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên), nhận một chi lưu phía tả ngạn rồi tới xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương nhận tiếp một chi lưu phía hữu ngạn là sông Đu rồi chảy qua phía đông thành phố Thái Nguyên. Chảy tới xã Thuận Thành, huyện Phổ Yên nhận tiếp một chi lưu là sông Công. Tới ranh giới xã Mai Đình huyện Hiệp Hòa và xã Việt Long huyện Sóc Sơn (Hà Nội) nó nhận một chi lưu nhỏ phía hữu ngạn là sông Cà Lồ rồi chảy tiếp về phía đông qua ranh giới của hai huyện Việt Yên-Bắc Giang và Yên Phong-Bắc Ninh rồi hợp lưu với sông Thương tại ngã ba Lác ở ranh giới của xã Đồng Phúc (huyện Yên Dũng) với thị trấn Phả Lại-Chí Linh, tỉnh Hải Dương để tạo thành sông Thái Bình.


3. Sông Đu: 

Sông Đu là phụ lưu của Sông Cầu bắt nguồn từ vùng Lương Can, ở độ cao khoảng 275 m thuộc tỉnh Thái Nguyên, chảy theo hướng tây bắc - đông nam và nhập vào Sông Cầu ở Sơn Cẩm. Dài 44 km. Diện tích lưu vực 360 km2, cao trung bình 129 m.


4. Sông Công:


- Sông Công là một chi lưu của sông Cầu dài 96 km .Sông Công bắt nguồn từ vùng Đèo Khế, tỉnh Thái Nguyên, chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Sau khi ra khỏi hồ Núi Cốc ở phía Tây thành phố Thái Nguyên, nó chia thành hai nhánh. Nhánh chính chảy qua trung tâm thị xã Sông Công, qua huyện Phổ Yên để hội lưu với sông Cầu từ bên phải tại ranh giới ba xã Thuận Thành (huyện Phổ Yên), Trung Giã (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) và Hợp Thịnh (huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Nhánh phụ nhỏ hơn chảy qua phía Bắc thị xã Sông Công, huyện Phú Bình rồi chảy vào huyện Phổ Yên để nối với sông Cầu tại ranh giới ba xã Tân Phú, Thuận Thành (huyện Phổ Yên), Đại Thành (huyện Hiệp Hòa).


- Hồ Núi Cốc là nước của dòng sông Công được chặn lại tại huyện Đại Từ, tạo nên một hồ nhân tạo rộng lớn, cùng với rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ mà trước đây là đồi núi. Sông Công-Hồ Núi Cốc là công trình thuỷ lợi lớn có ý nghĩa trong phát triển kinh tế nông nghiệp, bảo vệ môi sinh, tạo một thắng cảnh nổi tiếng trong địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Sông Công cùng với Núi Cốc đã đi vào thi ca mang màu sắc huyền thoại trong bài hát Huyền thoại Hồ Núi Cốc của nhạc sỹ Phó Đức Phương.


- Dòng sông Công còn có tên là sông Giã (Giã hà) bởi thời thuộc Lương con sông này nằm trên đất châu Giã Năng, quê hương của người anh hùng Lý Bí. Nơi dòng sông chảy ngoặt về phía Đông (gần cầu Đa Phúc ngày nay) chính là làng Trấn, Trấn lỵ châu Giã Năng, nơi Lý Bí khởi binh từ đất Hoài Đức (Hà Nội ngày nay) vượt qua núi Sóc về đây bao vây rồi đánh bại giặc Lương.


5. Sông Cà Lồ (còn gọi là sông Phủ Lỗ): Là một chi lưu của sông Cầu và từng là một phân lưu của sông Hồng. Nó vốn tách ra khỏi sông Hồng ở xã Trung Hà, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc và hợp lưu với sông Cầu tại ngã ba Xá, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, cách không xa chỗ sông Công hợp lưu vào sông Cầu. Tuy nhiên đoạn đầu nguồn của Cà Lồ (chỗ phân lưu khỏi sông Hồng) đã bị bịt vào đầu thế kỷ 20, nên sông Cà Lồ hiện nay không còn nối với sông Hồng. Đầu nguồn sông Cà Lồ hiện nay ở huyện Mê Linh (Hà Nội) và nguồn nước của sông chủ yếu là từ các dòng suối từ dãy núi Tam Đảo. Sông Cà Lồ tạo thành ranh giới tự nhiên giữa huyện Sóc Sơn với huyện Mê Linh và giữa huyện Sóc Sơn với huyện Yên Phong. Toàn chiều dài của sông là 89 km, trong đó đoạn trên địa bàn Vĩnh Phúc dài 27 km


6. Sông Thương:


- Sông Thương (hay sông Nhật Đức) là một sông lớn ở địa phận các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương và là một chi lưu của sông Thái Bình.Sông Thương bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước, làng Man, xã Vân Thuỷ, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, chảy trong máng trũng Mai Sao - Chi Lăng và chảy vào địa phận tỉnh Bắc Giang,qua thành phố Bắc Giang (tên cũ là Phủ Lạng Thương) và điểm cuối là thị trấn Phả Lại-Chí Linh-Hải Dương. Tại đây nó hợp lưu với sông Lục Nam tại ngã ba Nhãn,tiếp theo hợp lưu với sông Cầu tại ngã ba Lác để tạo thành sông Thái Bình .


- Trên địa phận tỉnh Bắc Giang, sông Thương chảy qua các huyện Lạng Giang, Yên Thế, Tân Yên, Thành phố Bắc Giang và huyện Yên Dũng. Sông Thương có một chi lưu lớn là sông Sỏi chảy từ huyện Yên Thế-Bắc Giang,chúng hợp lưu tại nơi tiếp giáp của ba huyện: Yên Thế, Tân Yên và Lạng Giang. Gần thành phố Bắc Giang, có thêm một dòng sông đào đổ nước vào sông Thương, nước sông Thương vốn trong xanh nay có dòng nước đục thêm vào thành ra sông có hai dòng chảy song song, một bên trong, một bên đục. Hiện tượng này có thể nhìn thấy được tới thành phố Bắc Giang.

- Sông Thương có chiều dài 157 km, diện tích lưu vực: 6.640 km². Giá trị vận tải được trên 64 km, từ Phả Lại, tỉnh Hải Dương đến thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Thời phong kiến khi quan, quân lên trấn ải biên thùy Lạng Sơn thì gia quyến của họ được phép tiễn đưa đến con sông này, người đi xa, kẻ ở lại chia tay nhau ở đây thật là thương cảm lên từ đó người con sông nay được gọi là Sông Thương.

- Sông Sỏi là một con sông ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên,đây là phụ lưu của sông Thương. Sông Sỏi bắt nguồn từ núi Bồ Cu ở khu vực có độ cao 400 m, ở 5 xã vùng cao của huyện Yên Thế, Bắc Giang. Đó là xã Xuân Lương, Canh Nậu Đôn, Đống Tiến, Đồng Vương, Tam Tiến. Sông Sỏi có tổng chiều dài 38 km, diện tích lưu vực 303 km2.


7. Sông Lục Nam:

- Sông Lục Nam (còn gọi là sông Lục, sông Minh Đức) là một phụ lưu của hệ thống sông Thái Bình, chảy qua hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang.Sông bắt nguồn từ độ cao khoảng 700 m trên vùng núi Kham thuộc địa phận huyện Đình Lập-Lạng Sơn,chảy qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam (thuộc tỉnh Bắc Giang) và kết thúc tại địa phận xã Đan Hội (Lục Nam) và xã Trí Yên (Yên Dũng) sau khi giao nhau với sông Thương từ hướng Tây Bắc chảy tới tại Ngã ba Nhãn (cách Phả Lại 10 km). Sông Lục Nam có các phụ lưu là sông Bò, sông Lê Ngạc, sông Chỉ Tác, sông Đan Hộ (bên tả ngạn) và sông Căn, sông Gốm, sông Cỏ Mạt (bên hữu ngạn).
- Tổng chiều dài của sông gần 200 km, đoạn trên địa phận Lạng Sơn dài 15 km, đoạn trên địa phận Bắc Giang dài khoảng 175 km. Tổng diện tích lưu vực của sông Lục Nam vào khoảng 3.070 km². Khoảng 45 km cuối hạ lưu (từ Chũ đến ngã ba Nhãn), sông rộng thuận tiên cho giao thông đường thủy.


8. Sông Đuống:

- Sông Đuống, còn gọi là sông Thiên Đức hay Thiên Đức Giang, là một con sông đào dài 68 km, nối sông Hồng với sông Thái Bình. Điểm đầu từ ngã ba Dâu (xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội)địa giới giữa huyện Đông Anh và quận Long Biên của thành phố Hà Nội. Điểm cuối là ngã ba Mỹ Lộc (xã Trung Kênh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Nó là một phân lưu của sông Hồng, trước đây chỉ là một dòng sông nhỏ, do cửa nối với sông Hồng bị cát bồi cao nên chỉ khi sông Hồng có lũ lớn mới tràn qua được. Từ năm 1958, cửa sông được mở rộng để trở thành một phân lưu quan trọng giảm sức uy hiếp của lũ sông Hồng đối với Hà Nội. So với lượng lũ của sông Hồng tại Sơn Tây thì sông Đuống tiêu được 20-30 %. Sông Đuống là đường giao thông thuỷ nối cảng Hải Phòng với Hà Nội và các tỉnh ở phía bắc Việt Nam.

- Hiện trên sông Đuống có 3 cây cầu bắc qua: Cầu Đuống trên quốc lộ 1A-Hà Nội,Cầu Phù Đổng trên quốc lộ 1A mới-Hà Nội,Cầu Hồ trên quốc lộ 38 thuộc tỉnh Bắc Ninh.Ngoài ra, sẽ có thêm 4 cầu đường bộ mới sẽ được xây dựng ngang qua sông Đuống, là: cầu Thạch Cầu, cầu Đông Trù, cầu Phù Đổng II, cầu trên vành đai giao thông đối ngoại (gần cầu Hồ hiện tại).


9. Sông Kinh Thầy:

- Sông Kinh Thầy, hay Sông Kinh Thầy, một chi lưu của Hệ thống sông Thái Bình,nối thông giữa sông Thái Bình với các sông vùng Đông Bắc, có chiều dài 44,5 km. Điểm đầu từ ngã ba Nấu Khê xã Cổ Thành huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Điểm cuối là ngã ba Trại Sơn nơi giáp ranh giữa xã Phú Thứ và thị trấn Kinh Môn (huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương).Tại ngã ba Bến Triều, nó chia nước với sông Mạo Khê. Tại ngã ba Trại Sơn nó chia thành hai sông nhỏ chiều dài khoảng 9 km mỗi sông, có tên gọi là sông Phi Liệt (lại đổ vào sông Mạo Khê một lần nữa, tại ngã ba Bến Đụn, để tạo thành sông Đá Bạch) và sông Hàn chảy vào sông Kinh Môn tại ngã ba Nống, tạo thành sông Cấm.

- Sông Kinh Thầy được rất nhiều người Việt Nam lớn lên trong thời kỳ chống Mỹ biết đến qua bài thơ Hạt gạo làng ta của nhà thơ Trần Đăng Khoa. Đây là một trong những bài thơ và sau là bài hát thuộc nằm lòng của nhiều thế hệ Việt Nam.

+ Lục đầu giang: Chỗ hợp lưu của các con sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, Đuống, Kinh Thầy và nhánh chính sông Thái Bình gọi là Lục Đầu Giang, do đây là nơi sáu con sông gặp nhau. Các sông này hợp nhau tại thị trấn Phả Lại huyện Chí Linh thành sông Thái Bình.

+ Các chi lưu: Các chi lưu khác chảy ra biển của hệ thống sông Thái Bình đều nằm về phía tả ngạn sông Thái Bình:


10. Sông Kinh Môn: là một nhánh được chia ra từ sông Kinh Thầy tại Thạch Liên, còn nhánh kia gọi là Sông Hàn.Hai nhánh này nhập lại trước khi đổ ra biển ở cửa Cấm, Hải Phòng. Đoạn này gọi là sông Cấm, dài 30 km. Cảng Hải Phòng nằm trên cửa sông này. Sông Cấm là ranh giới của các huyện Thuỷ Nguyên và An Dương.


11. Sông Hàn: là tên gọi đoạn thượng lưu của sông Cấm, chảy ở phía Tây huyện Thuỷ Nguyên, TP Hải Phòng và phía Đông huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Phía trên, thông với sông Kinh Thầy, phía dưới, thông với sông Vân Dương, ngăn cách huyện Kim Thành với huyện Thủy Nguyên


12. Sông Cấm:

- Là một nhánh sông ở hạ lưu thuộc hệ thống sông Thái Bình, chảy qua địa phận Hải Phòng. Sông được bắt đầu tại ngã ba An Dương thuộc địa phận xã Minh Hòa (huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) nơi hợp lưu của hai con sông Kinh Môn và sông Hàn.
- Sông đổ ra biển Đông ở cửa Cấm , có tổng chiều dài khoảng 7.000m, đi qua và làm ranh giới giữa các địa phương như huyện An Dương, huyện Thủy Nguyên, các quận Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An. Cảng Hải Phòng nằm trên sông Cấm,cách cửa Cấm khoảng 5 km.


13. Sông Lạch Tray:
- Sông Lạch Tray thuộc hệ thống sông Thái Bình, chảy qua Hải Phòng.Sông được chảy tách ra từ sông Văn Úc tại địa phận xã Bát trang (huyện An Lão - Hải Phòng) theo hướng Đông đổ ra biển Đông bởi cửa Lạch Tray.
- Sông có chiều dài khoảng 49 km đi qua huyện Kim Thành, Hải Dương và các huyện, quận của Hải Phòng là: An Lão, An Dương, Kiến An, Hải An, Lê Chân, Kiến Thụy. Quốc lộ 10 băng qua sông tại địa phận phường Quán Trữ (Kiến An).
- Sông Lạch Tray chảy ngang qua Hải Phòng, qua địa phận huyện Kiến An, An Dương ra biển bằng cửa Lạch Tray.


14. Sông Văn Úc: 

Sông Văn Úc là một nhánh ở hạ lưu trong hệ thống sông Thái Bình, phần lớn chảy qua địa bàn Hải Phòng.Sông bắt đầu từ đoạn giao nhau sông Hương và sông Rạng (còn có tên gọi là ngã ba Cửa Dưa) tại địa phận xã Thanh Xuân (huyện Thanh Hà, Hải Dương theo hướng Đông Nam đổ ra biển Đông tại cửa Văn Úc. Sông có chiều dài khoảng 57 km, làm ranh giới giữa các huyện Thanh Hà, Hải Dương và An Lão, Hải Phòng, huyện An Lão và huyện Tiên Lãng, huyện Kiến Thụy và huyện Tiên Lãng. Quốc lộ 10 băng qua sông tại đoạn xã Đại Thắng, Tiên Lãng và xã Quang Trung, An Lão.Sông văn Úc thông với Sông Thái Bình bằng 3 con sông nhỏ là : Sông Kênh Khê,Sông Cầu Xe. Sông Mía ,mỗi sông dài khoảng 3 km..


15. Sông Hương (hay Sông Gùa): Là một nhánh phụ lưu của Sông Văn Úc(không phải sông Hương ở Huế).


16. Sông Rạng hay Sông Lai Vu: Còn có tên khác là sông Tường Vu,nằm trong địa phận tỉnh Hải Dương là phần phía trên của sông Văn Úc trước khi nhập với Sông Hương để  thành Sông Văn Úc và là một phân lưu trong hệ thống sông Thái Bình. Sông này tách khỏi sông Kinh Thầy gần như cùng một nơi với sông Kinh Môn với chiều dài khoảng 26 km.Phần thượng lưu là ranh giới giữa hai huyện Nam Sách và Kim Thành, sau đó là ranh giới hai huyện Kim Thành và Thanh Hà. Đến cuối địa phận Thanh Hà, nó hội lưu với sông Gùa để tạo thành sông Văn Úc tại ngã ba Cửa Dưa.


17. Sông Đá Bạch:

- Sông Đá Bạch tức sông Bạch Đằng hay Bạch Đằng Giang hiệu là sông Vân Cừ là phân lưu cuối cùng của hệ thống sông Thái Bình, dài 32 km là nhánh của sông Kinh Môn, cửa sông là một vùng lầy rộng lớn gọi là cửa Nam Triệu là con sông chảy giữa hai huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km.Điểm đầu là phà Rừng - Hải Phòng (ranh giới Hải Phòng và Quảng Ninh),Điểm cuối là cửa Nam Triệu - Hải Phòng.

- Sông Bạch Đằng là con đường thủy tốt nhất để từ miền nam Trung Quốc đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa).Từ cửa Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh Thầy, sông Đuống và cuối cùng là sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội.

- Sông Bạch Đằng nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam:

+ Năm 938: Cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán của Ngô Quyền,
+ Năm 981: Cuộc kháng chiến chống quân Tống của Lê Hoàn
+ Năm 1288: Cuộc thủy chiến của Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên (trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba).

+ Hiện ở khu vực cửa sông Bạch Đằng có 4 ngôi đền thờ 3 vị anh hùng là đình Hàng Kênh (Lê Chân, Hải Phòng) thờ Ngô Quyền, đền Vua Lê Đại Hành ở thị trấn Minh Đức (Thủy Nguyên, Hải Phòng) và đền Trần Hưng Đạo ở Thủy Nguyên, Hải Phòng và xã Yên Giang, (Yên Hưng, Quảng Ninh).

+ Bãi cọc Bạch Đằng là các bãi cọc trên sông Bạch Đằng được sử dụng làm trận địa chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt, do Ngô Quyền khởi xướng vào năm 938 trong trận đánh quân Nam Hán. Hiện nay có hai bãi cọc được phát hiện:

+ Một bãi cọc nằm trong một đầm nước giáp đê sông Chanh, thuộc xã Yên Giang, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Bãi cọc này được phát hiện vào năm 1953 khi người dân trong vùng đào đất đắp đê. Bãi hiện còn hàng trăm cọc, một số cọc được cắm thẳng đứng, đa số cọc nằm chếch theo hướng đông 15°, cắm theo hình chữ "chi" . Cọc phần lớn bằng gỗ lim, gỗ táu, đầu dưới vát nhọn, đầu trên đã bị gãy. Độ dài trung bình các cọc từ 2 m đến 2,8 m; có cọc dài tới 3,2 m. Phần cọc được vát nhọn dài từ 0,8 m đến 1 m. Đầu phía trên của cọc nằm dưới mặt đất khoảng 0,5 m đến trên 1,5 m. Toàn bộ bãi cọc đã được xây kè bảo vệ với diện tích 220 m2, trong đó có 42 cọc ở nguyên trạng khi phát hiện, sâu dưới bùn hơn 2 m, nhô cao từ 0,2 đến 2 m. Mật độ cọc ở nửa bãi phía nam là một cây mỗi 0,9 đến 1,2 m, nửa bãi phía bắc có một cây mỗi 1,5 đến 2,2 m.
+ Một bãi cọc được phát hiện năm 2005 tại cánh đồng Vạn Muối (thuộc xã Nam Hòa, huyện Yên Hưng, Quảng Ninh), với hàng chục cây cọc trên một khu vực rộng 100 m, dài 300 m. Theo các nhà khoa học, người xưa đã dùng loại cọc đường kính 7 - 10 cm, to nhất là 20 - 22 cm, có cọc dài trên 2 m được cắm theo nhiều thế rất hiểm, thường xiên 45° theo một hướng.
+ Ngoài ra còn các sông nhánh khác như sông Lai Vu, sông Giá (Thuỷ Nguyên), sông Đa Độ (Kiến An - Đồ Sơn), sông Tam Bạc v.v…


18. Sông Chanh: Sông Chanh là một phân lưu của sông Bạch Đằng, chảy tách ra từ sông Bạch Đằng tại xã Yên Giang, Yên Hưng. Từ đây sông chảy xuyên qua huyện Yên Hưng theo hướng đông nam và đổ ra biển Đông tại xã Tiền Phong, Yên Hưng.Sông có chiều dài khoảng 15km, chảy giữa và chia đôi huyện Yên Hưng thành hai phần có diện tích gần bằng nhau


20. Sông Mạo Khê: Từ Ngã ba Bến Triều đến Ngã ba Bến Đụn.


21. Sông Mía: Từ Âu Cầu Xe đến Ngã ba Mía.


22. Sông Hóa: Là một con sông nhỏ thuộc hệ thống sông Thái Bình, chảy trong tỉnh Thái Bình.Sông được tách ra từ Sông Luộc tại Ninh Giang, xã An Khê, Quỳnh Phụ, Thái Bình chảy theo hướng Đông Nam, đến địa phận xã Thụy Ninh, Thái Thụy, Thái Bình, sông đổi hướng chảy ngoằn ngoèo theo hướng Tây Đông và hợp lưu với sông Thái Bình tại Cửa Ba Giai,xã Thụy Tập (Thái Thụy) cách cửa Thái Bình khoảng 7 km về hướng Đông Bắc.Sông có tổng chiều dài khoảng 35 km, đi qua các địa phương như huyện Quỳnh Phụ, Thái Thụy và Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Làm ranh giới tự nhiên giữa Thái Bình và Hải Phòng.
23. Kênh Cái Tráp: Một Đầu kênh thông với sông Bạch Đằng Đầu kia thông với Lạch Huyện.


24. Sông Đào Hạ Lý: Từ Ngã ba Niệm đến Ngã ba Xi măng.


25. Sông Phi Liệt: Sông Phi Liệt dài 8 km, từ ngã ba Trại Sơn đến ngã ba Bến Đụn, đi qua các xã An Sơn, Lại Xuân (Thủy Nguyên, Hải Phòng) và xã Minh Tân, Phú Thứ (Kinh Môn, Hải Dương) .


26. Sông Ruột Lợn: Từ Ngã ba Đông Vàng Chấu đến Ngã ba Tây Vàng Chấu.


27. Sông Kênh Khê: Từ ngã ba Văn Úc đến Ngã ba Thái Bình.


28. Sông Cầu Xe: Từ Âu Cầu Xe đến Ngã ba Mía.


29. Sông Trà Lý: Từ Ngã ba Phạm Lỗ đến Cửa Trà Lý.


30. Sông Uông: Từ Cầu đường bộ 1 đến Ngã ba Điền Công.


31. Kênh Yên Mô: Từ Ngã ba Chính Đại đến Ngã ba Đức Hậu.

 



III. HỆ THỐNG SÔNG HỒNG: 

Hệ thống sông hồng là hệ thống sông lớn nhất Việt Nam. Hệ thống sông hồng có rất nhiều phụ lưu, hai phụ lưu quan trọng nhất là Sông Đà và Sông Lô. Hai phụ lưu chính này cùng với các phụ lưu khác tạo thành mạng lưới sông hình rẻ quạt và hội tụ tại việt trì. Chính dạng mạng lưới sông này đã tổ hợp lũ các phụ lưu vói lũ của dòng chính để gây nên những trận lũ lớn ở đồng bằng bắc bộ.


1. Sông Hồng:


- Sông Hồng có tổng chiều dài là 1.149 km với lưu vực 143.700 Km² (55.483 mi²) bắt nguồn từ dãy núi Hoành Đoạn, Nguy Sơn, Đại Lý, Vân Nam, Trung Quốc chảy vào Việt Nam qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định và đổ ra biển Đông tại cửa Ba Lạt giữa hai tỉnh Nam Định và Thái Bình. Đoạn chảy trên đất Việt Nam dài 510 km tính từ ngã 3 Nậm Thi đến cửa Ba Lạt.


- Sông Hồng còn có các tên gọi khác như Hồng Hà, hay sông Cái. Đoạn chảy trên lãnh thổ Trung Quốc được gọi là Nguyên Giang, đoạn đầu nguồn có tên là Lễ Xã Giang. Đoạn chảy qua Phú Thọ gọi là Sông Thao, đoạn qua Hà Nội còn gọi là Nhĩ Hà hoặc Nhị Hà. Sử Việt còn ghi sông với tên Phú Lương.


- Dòng chính (chủ lưu) của sông Hồng bắt nguồn từ vùng núi thuộc huyện Nguy Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở độ cao 1.776 m. Chi lưu phía đông bắt nguồn từ vùng núi huyện Tường Vân. Chủ yếu nó chảy theo hướng tây bắc-đông nam, qua huyện tự trị Nguyên Giang của người Thái và người Cáp Nê (Hani) (ở Việt Nam gọi là người Hà Nhì).


- Đến biên giới Việt - Trung, sông Hồng chạy dọc theo biên giới khoảng 80 km; đoạn thì sang bên lãnh thổ Việt Nam, đoạn thì sang bên lãnh thổ Trung Quốc. Điểm tiếp xúc đầu tiên của sông Hồng với lãnh thổ Việt Nam tại xã A Mú Sung (huyện Bát Sát), chính giữa sông là điểm phân chia lãnh thổ hai nước. Đến thành phố Lào Cai, sông Hồng chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam, khi về xuôi sông qua phía đông thủ đô Hà Nội, cuối cùng đổ ra biển Đông ở cửa Ba Lạt (ranh giới giữa hai tỉnh Thái Bình và Nam Định).


- Các phụ lưu chính của sông Hồng trên lãnh thổ Việt Nam có thể kể đến là sông Đà, sông Lô; đến lượt sông Lô có phụ lưu là sông Chảy và sông Gâm. Ở Trung Quốc, các sông như sông Lý Tiên (tức sông Đà), sông Đăng Điều (tức sông Nậm Na), sông Bàn Long (tức sông Lô) và sông Phổ Mai (tức sông Nho Quế) cùng một số sông nhỏ khác như sông Mễ Phúc, sông Nam Khê chảy qua biên giới hai nước vào Việt Nam.


- Các phân lưu chính của Sông Hồng có:


+ Phân lưu phía tả ngạn là sông Đuống chảy từ Hà Nội đến Phả Lại thuộc Hải Dương và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến Quý Cao (huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Hai sông này nối sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình.


+ Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang hay Ninh Cơ), xuôi về hạ lưu lai có hai sông nối sông Hồng và sông Đáy là sông Phủ Lý và sông Nam Định.


2. Nậm Thi: 

Sông Nậm Thi chạy quanh phía Bắc tỉnh Lào Cai, đồng thời là ranh giới tự nhiên Việt Nam với Trung Quốc. Nước sông quanh năm trong xanh, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nhà máy nước của thành phố Lào Cai. Sông Nậm Thi hợp lưu với sông Hồng ngay tại biên giới giữa thành phố Lào Cai và Trung Quốc. Sông Hồng sau khi được Nậm Thi hợp lưu thì chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam. Thác Tà Lâm là ngọn thác nguồn đẹp nổi tiếng trên sông Nậm Thi. Thác nằm phía tây huyện Mường Khương (Lào Cai), nằm giữa hai ngọn núi như hai con rồng đang vươn xuống, đầu rồng ngẩng cao bằng nhau. Mình và đuôi rồng vắt lên dãy núi con voi sừng sững cõng trên mình rừng xanh bát ngát.


3. Sông Đà:

- Sông Đà, còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng. Sông bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam để rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ.


- Sông Đà dài 910 km (có tài liệu ghi 983 km), diện tích lưu vực là 52.900 km². Ở Trung Quốc, sông có tên là Lý Tiên Giang, do hai nhánh Bả Biên Giang và A Mặc Giang hợp thành. Trong một số tiếng châu Âu, sông Đà được dịch là sông Đen (tiếng Anh: Black River; tiếng Pháp: Rivière Noire). Đoạn ở Trung Quốc dài khoảng 400 km từ núi Nguy Bảo ở huyện tự trị người Di người Hồi Nguy Sơn phía nam châu tự trị dân tộc Bạch Đại Lý chảy theo hướng tây bắc-đông nam qua Phổ Nhĩ.


- Đoạn ở Việt Nam dài 527 km (có tài liệu ghi 543 km). Điểm đầu là biên giới Việt Nam-Trung Quốc tại huyện Mường Tè (Lai Châu). Sông chảy qua các tỉnh Tây Bắc là Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ (phân chia huyện Thanh Thủy, Phú Thọ với Ba Vì, Hà Nội). Điểm cuối là ngã ba Hồng Đà, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.


- Đoạn đầu sông trên lãnh thổ Việt Nam, sông Đà còn được gọi là Nậm Tè. Các phụ lưu trên lãnh thổ Việt Nam gồm Nậm Na (ở tả ngạn), Nậm Mốc (ở hữu ngạn).


- Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp 31% lượng nước cho sông Hồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam. Năm 1994, khánh thành Nhà máy Thủy điện Hoà Bình có công suất 1.920 MW với 8 tổ máy.


4. Sông Nậm Na: 

Sông Nậm Na dài khoảng 86km bắt nguồn từ một dãy núi cao trên 2000m của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), Nậm Na là phụ lưu lớn nhất của sông Đà và hợp lưu với dòng sông này tại Mường Lay - Lai Châu. Nằm dọc theo quốc lộ nối hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, vẻ hiền hòa và thơ mộng của dòng sông đã khiến cho con lộ này trở thành một trong những cung đường quyến rũ nhất của Tây Bắc. Hình ảnh cầu Hang Tôm - cây cầu dây văng lớn nhất miền Bắc khi xưa, mà tương lai sẽ bị chìm trong nước sau khi thủy điện Sơn La hoàn thành, luôn gắn liền với những bức hình của Nậm Na.


5. Sông Lô:

- Sông Lô là phụ lưu tả ngạn (bên trái) của sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào Việt Nam tại xã Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Điểm cuối là ngã ba Việt Trì, còn gọi là ngã ba Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, nơi sông Lô đổ vào sông Hồng. Phần đầu nguồn tại Trung Quốc có tên là Bàn Long Giang, còn phần chảy tại Việt Nam có tên là sông Lô, sông Lô còn có tên là "Mã Giang". Tổng diện tích lưu vực: 39.000 km², trong đó phần ở Việt Nam là 22.600 km². Đoạn sông Lô chảy ở Việt Nam có chiều dài 274 km.


- Sông Lô có hai phụ lưu lớn là Sông Chảy chi lưu phía hữu ngạn, Sông Gâm, chi lưu phía tả ngạn. Ngoài ra còn có các phụ lưu nhỏ khác như: Sông Phó Đáy, chi lưu phía tả ngạn, hợp lưu gần Việt Trì. Sông Con, chi lưu phía hữu ngạn, hợp lưu tại thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang.


- Sông Chảy:

+ Sông Chảy phát nguyên từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.419 m) và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti (2402 m) trên khối núi thượng nguồn sông Chảy, phía tây bắc tỉnh Hà Giang, vượt qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái rồi chảy vào sông Lô ở Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Sông Chảy còn có tên là "Lôi Hà".


+ Từ Kiều Liêu Ti nó chảy tới gần thị trấn Vinh Quang của huyện Hoàng Su Phì rồi chảy qua huyện Xín Mần tới huyện Si Ma Cai. Trên đoạn này, khoảng 5 km của sông Chảy là biên giới Việt - Trung giữa tỉnh Lào Cai, Việt Nam (bao gồm ranh giới các xã Lùng Cải, Lùng Sui, Sán Chải, Si Ma Cai và Nàn Sán), với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Sông Chảy có đoạn cách Sông Hồng khoảng 15 km với dãy núi Con Voi ở giữa ngăn lưu vực hai dòng sông. Sông chảy qua địa phận xã Việt Tiến (huyện Bảo Yên), các xã Minh Chuẩn,  An Lạc và Tô Mậu của huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái. Tại địa phận huyện này và huyện Yên Bình là hồ Thác Bà dài hơn 50 km, do đập ngăn nước của nhà máy thủy điện Thác Bà tạo ra. Sau khi chảy qua thị trấn Thác Bà và các xã Hán Đà, Đại Minh của huyện này thì nó chảy vào xã Đông Khê, huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ để sau đó hợp lưu với sông Lô tại ranh giới giữa thị trấn Đoan Hùng và hai xã Chí Đám, Hữu Đô.


- Hồ Thác Bà thuộc hai huyện Lục Yên và Yên Bình (Yên Bái): Là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam, hồ là nguồn cung cấp nước cho nhà máy Nhà máy thủy điện Thác Bà (nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam) thuộc tỉnh Yên Bái. Hồ nằm cách Hà Nội 140 km theo quốc lộ 2 về phía tây.


+ Hồ Thác Bà được hình thành khi đập thủy điện Thác Bà hoàn tất năm 1970 ngăn dòng sông Chảy và tạo ra hồ. Diện tích vùng hồ: 23400 ha, diện tích mặt nước: 19050 ha, dài: 80 km, mực nước dao động từ 46 m đến 58 m, chứa được 3 đến 3,9 tỉ mét khối nước. Ngoài dòng sông Chảy là nơi cung cấp nước chủ yếu, hồ Thác Bà còn có một hệ thống sông ngòi lớn như: ngòi Hành, ngòi Cát,... đổ về, làm tăng lượng phù sa lớn và các loài sinh vật phong phú cho hồ.


+ Hồ Thác Bà có hơn 1.300 đảo lớn nhỏ tạo nên nhiều hang động và cảnh đẹp sơn thủy hữu tình.


6. Sông Gâm:

- Sông Gâm còn gọi là Sông Gầm, là một phụ lưu của sông Lô chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam. Sông xuất phát từ tỉnh Vân Nam (Yunnan) (Trung Quốc) chảy vào địa giới tỉnh Quảng Tây (Guangxi) rồi vào Việt Nam ở tỉnh Cao Bằng. Thị trấn Bảo Lạc nằm ở tả ngạn sông. Xuôi theo dòng nước tới Na Động thì sông Gâm nhận nước của sông Nho Quế từ Lũng Cú, điểm cực Bắc nước Việt Nam đổ về nới rộng lòng sông. Sông Gâm quanh co chảy qua địa giới tỉnh Hà Giang trước khi chảy vào tỉnh Tuyên Quang. Sông Gâm đổ vào sông Lô ở Bình Ca phía Bắc thị xã Tuyên Quang.


- Sông Gâm có một phụ lưu chính bên tả ngạn là Sông Năng. Sông này rót nước từ Hồ Ba Bể bên tỉnh Bắc Kạn vào sông Gâm.


7. Sông Nho Quế: 

Sông Nho Quế (phần thượng lưu, ở Trung Quốc gọi là sông Phổ Mai) là một con sông bắt nguồn từ vùng núi Nghiễm Sơn (Vân Nam, Trung Quốc) cao 1.500 m, chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, xẻ qua cao nguyên Đồng Văn, qua các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc thuộc địa phận tỉnh Hà Giang để nhập vào sông Gâm tại Na Nát thuộc xã Lý Bôn, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. Là chi lưu phía tả ngạn của sông Gâm, sông Nho Quế dài 192 km (phần ở Việt Nam là 46 km). Diện tích lưu vực 6.052 km² (phần ở Việt Nam 2.010 km²), độ cao trung bình 1.255 m, độ dốc trung bình 18,7%. Thung lũng dạng hẻm vực.Nho Quế có một chi lưu chính phía hữu ngạn là sông Nhiễm.


8. Sông Phó Đáy:

- Sông Phó Đáy là một chi lưu bên tả ngạn của sông Lô, có thượng lưu và trung lưu chảy trên địa bàn vùng núi và trung du phía Bắc, còn hạ lưu chảy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, chảy qua các huyện Yên Sơn, Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang, huyện Lập Thạch, Tam Đảo, Tam Dương, Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh Phúc và nhập vào sông Lô tại giữa xã Sơn Đông (Lập Thạch) và xã Việt Xuân (Vĩnh Tường) phía trên cầu Việt Trì độ 200 m. Bên kia sông Lô tại ngã ba sông là địa phận tỉnh Phú Thọ. Từ ngã ba sông Phó Đáy và sông Lô đi tiếp về phía hạ lưu của sông Lô chưa đến 2 km là ngã ba sông nơi sông Lô hợp lưu vào sông Hồng. Sông Phó Đáy có nhiều phụ lưu nhỏ.
- Đoạn trên địa bàn Bắc Kạn dài 36 km, diện tích lưu vực là 250 km2, lưu lượng bình quân là 9,7 m3/s.


- Đoạn trên địa bàn Tuyên Quang dài 84 km.


- Đoạn trên địa bàn Vĩnh Phúc dài 41,5 km, lưu lượng bình quân là 23 m3/giây. Sông Phó Đáy ở đây còn được gọi là sông Đáy, làm thành ranh giới tự nhiên giữa Lập Thạch với Tam Đảo và giữa Lập Thạch với Tam Dương, Lập Thạch với Vĩnh Tường.


- Mùa mưa, trên sông Phó Đáy thường hay có lũ quét và lũ ống gây nhiều thiệt hại về tài sản và tính mạng cho người dân sống hai bên bờ.


- Sông Phó Đáy (chủ yếu là đoạn qua Tuyên Quang) được nhắc đến trong bài thơ "Đi thuyền trên sông Đáy" và bài "Rằm tháng Giêng" của Hồ Chí Minh.


9. Sông Con:

Sông Con (Hà Giang) phụ lưu cấp I của Sông Lô. Bắt nguồn từ sườn tây nam vùng núi thượng nguồn Sông Chảy ở tỉnh Hà Giang, chảy theo hướng tây bắc - đông nam, nhập vào bờ phải Sông Lô tại Vĩnh Tuy. Dài 76 km. Diện tích lưu vực 1.370 km2, cao trung bình 430 m, độ dốc trung bình 23,6%, mật độ sông suối 1,40 km/km2. Tổng lượng nước trung bình năm là 2,06 km3, ứng với lưu lượng trung bình năm 65,3 m3/s, môđun dòng chảy năm 47,7 l/s.km2. Sông Chảy thuộc loại nhiều nước.


10. Sông Luộc:

Xưa kia gọi là sông Phú Nông là một trong những con sông nối sông Hồng với sông Thái Bình. Điểm đầu là ngã ba giao với sông Hồng tại Phương Trà - xã Tân Hưng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Đoạn đầu của sông Luộc là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hưng Yên và Thái Bình. Điểm cuối là chỗ gặp sông Thái Bình tại Quý Cao, xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Sông có chiều dài 72 km; các loại tàu thuyền, xà lan có tải trọng dưới 300 tấn đều có thể vận tải trên sông cả 2 mùa. Sông Luộc Là đường thủy quan trọng nối Hà Nội với các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam và cảng Hải Phòng.


11. Sông Đáy:

- Sông Đáy rút nước từ sông Hồng ra vịnh Bắc Bộ. Sông Đáy chảy gọn trong vùng đồng bằng Bắc Bộ với dòng sông chảy song song bên hữu ngạn hạ lưu sông Hồng.


- Sông Đáy có chiều dài khoảng 240 km và lưu vực (cùng với phụ lưu sông Nhuệ) hơn 7.500 km² trên địa bàn các tỉnh thành Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định.


- Là một phân lưu của sông Hồng, sông Đáy nhận nước của sông Hồng ở địa phận Hà Nội giữa huyện Phúc Thọ và huyện Đan Phượng. Quãng sông này còn có tên là sông Hát hay Hát Giang. Chỗ sông Hồng tiếp nước là Hát môn.


- Lưu lượng của sông bất thường nên mùa mưa thì lũ quét lại thêm dòng sông quanh co uốn khúc nên dễ tạo ra những ghềnh nước lớn. Đến mùa khô thì lòng sông có chỗ cạn lội qua được nên thượng lưu sông Đáy thuyền bè không dùng được.


- Xuôi đến Vân Đình thì lòng sông rộng ra, lưu lượng chậm lại nên có thể đi thuyền được. Khúc sông này men đến vùng chân núi nên phong cảnh hữu tình. Đến địa phận huyện Mỹ Đức, sông Đáy tiếp nhận dòng suối Yến (thủy lộ vào chùa Hương). Vượt đến tỉnh Hà Nam khi sông chảy vào thành phố Phủ Lý thì dòng sông Nhuệ góp nước từ phía tả ngạn. Sông Đáy tiếp tục hành trình xuôi nam đón sông Bôi (sông Hoàng Long) bên hữu ngạn từ miền núi tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình dồn về tại ngã ba Gián Khẩu, cách thành phố Ninh Bình khoảng 10 km về phía Bắc. Đoạn này sông được gọi sông Gián Khẩu. Qua khỏi Ninh Bình khoảng 20 km thì bên tả ngạn có phụ lưu là sông Đào (sông Nam Định) thêm nước. Gần đến biển, sông Đáy chuyển hướng từ Tây Bắc-Đông Nam sang Đông Bắc-Tây Nam rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ ở Cửa Đáy, xưa gọi là cửa Đại An hay Đại Ác thuộc huyện Kim Sơn.


- Các phụ lưu lớn của sông Đáy ở phía hữu ngạn có sông Tích, sông Thanh Hà, sông Hoàng Long.Ở phía tả ngạn có sông Nhuệ, sông Châu, sông Sắt và sông Đào Nam Định. Sông Đào ở Nam Định là chi lưu của sông Hồng đổ vào sông Đáy ở Độc Bộ. Ngoài ra sông Ninh Cơ cũng là chi lưu của sông Hồng liên hệ với sông Đáy bởi sông Quần Liêu.


- Lưu vực dòng sông Đáy lưu giữ nhiều di tích lịch sử như:

+ Miếu Hát ở Hát Môn thờ Hai Bà Trưng. Tương truyền hai bà gieo mình xuống dòng sông Hát tự vẫn sau khi thua giặc Đông Hán ở Lãng Bạc nên dân chúng dựng đền thờ ở Hát Môn.


+ Vân Đình là quê hương cụ nghè Dương Khuê, tiến sĩ năm 1868 triều Tự Đức. Cụ là bạn cụ Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến nên khi cụ Dương Khuê mất, cụ Nguyễn Khuyến có viết bài điếu văn "Khóc bạn" rất nổi tiếng.


+ Chùa Hương trong khu vực Suối Yến, huyện Mỹ Đức.


+ Kẽm Trống, một thắng cảnh độc đáo tạo ra bởi một đoạn sông và 2 bên bờ thuộc ranh giới 2 tỉnh Hà Nam và Ninh Bình.


+ Cửa sông Đáy nằm chính giữa khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng.


+ Kim Sơn, vùng đất ven biển nơi doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ năm 1828 cho đắp đê ngăn sóng biển để lập ra thôn, ấp mới.


+ Sông Đáy trong văn học.


+ Mùa hoa cải bên sông là tên một câu chuyện, một bộ phim, một bài hát nổi tiếng về dòng sông Đáy.


+ Nguyễn Du có bài thơ chữ Nho, "Thanh Quyết giang vãn thiếu", tả cảnh chiều trên sông Thanh Quyết, tức là sông Gián Khẩu, đoạn hạ lưu sông Đáy.


12. Sông Hoàng Long:

- Sông Hoàng Long là một chi lưu của sông Đáy, nhập vào sông Đáy tại ngã ba Gián Khẩu. Đến lượt mình, sông Hoàng Long lại là hợp lưu của sông Lạng và sông Bôi, hai sông nhập lại thành Hoàng Long tại Kênh Gà, xã Gia Thịnh. Trên đường đi sông Hoàng Long còn có các nhánh là sông Chanh, sông Sào Khê, sông Lựng, sông Đào, sông Chim, ...


- Sông Hoàng Long chảy qua địa phận các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư đều thuộc tỉnh Ninh Bình. Đoạn từ chỗ sông Bôi và sông Lạng hợp lưu tới chỗ sông Hoàng Long hợp lưu vào sông Đáy dài khoảng 25 km, chỗ rộng nhất 300 m.Từ sông Hoàng Long có thể theo các nhánh dẫn vào các điểm du lịch như suối nước nóng Kênh Gà, động Vân Trình, Cố đô Hoa Lư, hang động Tràng An, chùa Bái Đính.


- Ý nghĩa tên gọi:

+ Sông Hoàng Long từ xưa có tên là sông Đại Hoàng. Theo truyền thuyết, Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) khi còn nhỏ đã tự xưng vương, hai bên tả hữu có Đinh Điền và Nguyễn Bặc đứng hầu. Người chú nghe tin Đinh Bộ Lĩnh xưng vương, thất kinh cầm gươm đuổi đánh. Đinh Bộ Lĩnh phải chạy trốn chú từ làng Mai Phương thuộc xã Gia Hưng ngày nay đến bến đò Trường Yên (xã Gia Thắng) thì cùng đường bèn kêu rồng vàng (hoàng long) trợ giúp. Rồng vàng nổi lên đưa Đinh Bộ Lĩnh qua sông, người chú nhìn thấy rồng vàng lại thất kinh lần nữa bèn cắm gươm xuống và quỳ lạy theo. Con sông từ đó được mang tên sông Hoàng Long. Nơi người chú cắm Gươm xuống mọc lên một ngọn núi mà người dân nơi đây gọi là núi Cắm Gươm (núi Kiếp Lĩnh).


+ Lễ hội cố đô Hoa Lư luôn có tục rước nước từ sông Hoàng Long về đền Vua Đinh Tiên Hoàng ở khu di tích cố đô Hoa Lư để tái hiện lại truyền thuyết này.


13. Sông Bôi:

- Sông Bôi chảy qua 2 tỉnh Hòa Bình và Ninh Bình, sông là nhánh chính đổ vào sông Hoàng Long.


- Sông Bôi bắt nguồn từ vùng Núi Hang (thuộc xã Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình), ở độ cao 300 m, chảy qua các huyện Kim Bôi, Lạc Thủy (tỉnh Hòa Bình) và các huyện Nho Quan, Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình). Sông Bôi hợp lưu với sông Hoàng Long tại giáp ranh giữa xã Đức Long (huyện Nho Quan) và xã Gia Phú (huyện Gia Viễn).


- Chiều dài tổng cộng khoảng 125 km. Diện tích lưu vực 1.550 km², độ cao trung bình 173 m. Có 2 nguồn nước khoáng đổ vào thượng lưu và hạ lưu sông Bôi là nước khoáng Kim Bôi (Hòa Bình và nước khoáng Kênh Gà (Ninh Bình)


14. Sông Vạc: 

Sông Vạc là chi lưu của sông Đáy. Sông Vạc do một số phân lưu của sông Hoàng Long như các sông Chanh, sông Sào Khê, sông Ngô Đồng, sông Luồn, sông Vo, sông Vân hợp lưu tại địa phận huyện Hoa Lư chảy qua ranh giới giữa hai huyện Yên Mô và Yên Khánh, chảy qua huyện Kim Sơn rồi hội lưu vào sông Đáy.


15. Sông Sào Khê:

- Sông Sào Khê là con sông chảy qua khu di tích cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đây là một con sông được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Sông Sào Khê hiện được xây kè, nạo vét dòng chảy, tôn tạo cảnh quan để trở thành tuyến du lịch đường sông vào cố đô Hoa Lư.


- Sông Sào Khê chảy theo hướng chính Bắc Nam và ngược lại tùy theo mùa, dòng chảy chủ yếu thuộc huyện Hoa Lư và một phần ranh giới với thành phố Ninh Bình. Điểm khởi đầu phía bắc bắt đầu nối sông Hoàng Long từ cống Trường Yên, xuyên dọc kinh đô Hoa Lư rồi uốn lượn bên rìa đông khu thắng cảnh Tràng An qua xã Ninh Xuân và ranh giới giữa 2 xã Ninh Thắng, Ninh Tiến rồi cùng với sông Chanh nối với sông Vân, sông Vạc tại cầu Vân trên quốc lộ 1A. Tổng chiều dài sông khoảng 14 km, bề rộng lòng sông dao động từ 20 m đến 141 m. Trên sông có các di tích khác như cầu Đông, cầu Dền, Ghềnh Tháp - phủ Vườn Thiên. Vì vậy mà toàn cảnh sông và hai bên bờ là danh thắng tự nhiên được công nhận là di tích văn hóa quốc gia thuộc cố đô Hoa Lư.


- Không chỉ là cửa ngõ đường thủy vào cố đô Hoa Lư và khu danh thắng Tràng An, sông Sào Khê còn được công nhận là di tích lịch sử gắn với kinh đô Hoa Lư và sự kiện dời đô về Thăng Long bằng đường thủy.


16. Sông Vân:

- Sông Vân (tên cổ sông Vân Sàng) là một chi lưu của sông Đáy, chảy dọc bên 2 quốc lộ ở thành phố Ninh Bình (bắt đầu từ các sông nhánh đổ vào sông Vạc tại cầu Yên đến cầu Lim nằm bên quốc lộ 1A, từ cầu Lim đến cửa sông chảy bên quốc lộ 10). Sông Vân hợp lưu với sông Đáy tại ngã ba chân núi Non Nước. Đoạn mang tên sông Vân có chiều dài trên 7 km, chỗ rộng nhất tới 300 m. Sông Vân cũng nối thông thủy với các sông nhỏ khác là sông Sào Khê và sông Chanh.


- Sông Vân và công viên cây xanh hai bên bờ đồng thời là ranh giới tự nhiên giữa các cặp phường Nam Thành - Thanh Bình và Vân Giang - Thanh Bình của thành phố Ninh Bình. Có 6 cầu bắc qua sông này gồm: cầu Vòm, cầu Vũng Trắm, cầu Lim, cầu Trà Là, cầu Vân Giang và cầu Âu Vân.


- Sông Vân là một dòng sông có giá trị lịch sử, nơi gắn với các chiến công của Việt Nam trong kháng chiến chống quân nhà Tống dưới thời vua Lê Đại Hành. Tương truyền, khi Lê Hoàn đánh thắng giặc Tống trở về Hoa Lư, Dương Vân Nga đã kê giường bên bờ sông đón và giao hoan với nhà vua, lập tức có gió thổi mây bay đến trên trời soi xuống dòng sông. Từ đó mà sông có tên là Vân Sàng (giường mây). Ngày nay ở hạ lưu, hai bên bờ sông là hai con đường mang tên Lê Đại Hành và Dương Vân Nga, gần đó có đền Đồng Bến là nơi ghi dấu những truyền thuyết về thiên tình sử này.


- Sông Vân chảy qua nhiều thắng cảnh, di tích lịch sử như núi Non Nước, chợ Rồng Ninh Bình, đền Trương Hán Siêu, công viên sông Vân, nhà văn hóa thành phố. Người ta thường nghĩ tới hình ảnh "núi Thuý, sông Vân" khi nhắc tới thành phố Ninh Bình.


17. Sông Càn:

- Sông Càn là một phân lưu của sông Đáy, chảy qua hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa. Sông Càn lấy nước từ sông Đáy tại Gia Viễn, chảy qua Hoa Lư, thị xã Tam Điệp, Yên Mô (Ninh Bình) rồi qua Nga Sơn (Thanh Hóa) tiếp tục chuyển hướng Đông chảy vào ranh giới huyện này với huyện Kim Sơn (Ninh Bình) rồi đổ ra biển Đông theo hướng Tây Nam tại cửa Càn (Kim Sơn).


- Sông Càn là sông có nhiều phụ lưu khắp chiều dài. Sông cũng có rất nhiều tên gọi địa phương như sông Tống, sông Hoát, sông Bình Minh Tây, v.v. Sông chảy qua nhiều địa danh nổi tiếng như cửa biển Thần Phù, hồ Đồng Thái, cố đô Hoa Lư (Ninh Bình), động Từ Thức (Thanh Hoá), Sông cũng là một phần ranh giới tự nhiên giữa miền Bắc và miền Trung tiếp nối theo dãy Tam Điệp, là đường biên phía tây của khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng.


18. Sông Đào Nam Định:

- Sông Nam Định, với tên khác là sông Đào, là một phân lưu của sông Hồng. Nó đưa một phần nước của sông Hồng đổ vào sông Đáy và chảy ra biển Đông. Toàn bộ chiều dài của sông là 33 km.


- Tuy "Nam Định" là tên được sử dụng nhiều trong các bản đồ, song tên phổ biến của nó trong dân gian là "Đào". Có hai giả thuyết về chữ "Đào" trong tên gọi của con sông. Thuyết thứ nhất cho rằng vì đây là sông nhân tạo, do con người đào để nối sông Hồng với sông Đáy nhằm phát triển thủy lợi và giao thông đường thủy. Thuyết thứ hai cho rằng sở dĩ gọi là sông Đào vì nước sông luôn có màu đỏ.


- Sông Nam Định chảy trên địa phận tỉnh Nam Định, bắt đầu từ sông Hồng đi theo hướng Nam qua ranh giới giữa thành phố Nam Định và huyện Mỹ Lộc, đi qua thành phố Nam Định, qua ranh giới giữa hai huyện huyện Vụ Bản và Nam Trực, ranh giới giữa hai huyện Ý Yên và Nghĩa Hưng, và đổ vào sông Đáy. Ngoài cầu Đò Quan ở thành phố Nam Định bắc qua sông, chính quyền tỉnh Nam Định còn đang triển khai dự án bắc cầu Nam Định.


19. Sông Ninh Cơ:

- Sông Ninh Cơ là một nhánh nhỏ phía hạ lưu của sông Hồng chảy hoàn toàn trong tỉnh Nam Định. Điểm bắt đầu của nó là nơi tiếp giáp hai xã Trực Chính (huyện Trực Ninh) và Xuân Hồng (huyện Xuân Trường). Nó chảy qua ranh giới hai huyện Trực Ninh, Xuân Trường, sau đó xuyên ngang qua huyện Trực Ninh rồi đổi hướng để tạo thành ranh giới tự nhiên giữa huyện này với huyện Nghĩa Hưng. Đoạn cuối là ranh giới giữa hai huyện Hải Hậu (phía đông) và Nghĩa Hưng (phía tây) và đổ ra cửa Lạch Giang, tại nơi tiếp giáp của xã Nghĩa Phúc (huyện Nghĩa Hưng) với thị trấn Thịnh Long (huyện Hải Hậu). Cầu Lạc Quần là cầu duy nhất bắc qua sông này, phía Bắc cầu là huyện Trực Ninh, phía Nam cầu là huyện Xuân Trường. Con sông này chảy gần như hình sin theo hướng Bắc Đông Bắc - Tây Nam với chiều dài khoảng 55 km. Nó đem lại nguồn nước và phù sa khá tốt cho 2 huyện Nghĩa Hưng và Trực Ninh. Vào mùa lũ, nước sông dâng khá lớn, có thể nước tới mặt đê cao 15 m.


- Con sông này là nơi diễn ra cuộc thi bơi Trải hằng năm trong Lễ Hội Truyền Thống Chùa Keo Hành Thiện. Đây là một trong những phong tục truyền thống hết sức đặc sặc của người dân Hành Thiện nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.


20. Kênh Quần Liêu: 

Sông Quần Liêu nối thông sông Ninh Cơ với sông Đáy.


21. Sông Thanh Hà: 

Sông Thanh Hà bắt nguồn từ Hoà Bình đổ vào sông Đáy tại Bạch Tuyết.


22. Sông Đập: 

Sông Đập phụ lưu của sông Hoàng Long, đổ vào sông Hoàng Long ở gần trạm thuỷ văn Bến Đế, sông có lưu vực là 91km2, chiều dài sông là 29km.


23. Sông Lạng: 

Sông Lạng là phụ lưu chính đổ vào sông Hoàng Long ở dưới trạm thuỷ văn Bến Đế. Sông có diện tích lưu vực là 204km2, chiều dài sông 31,5km.


24. Sông Vị Hoàng:

- Sông Vị Hoàng là con sông đào chảy qua đất Vị Hoàng tỉnh Nam Định. Con sông này ngày nay không còn nữa.


- Theo sử cũ, sông Vị Hoàng được đào vào đời Trần, nối sông Đáy với sông Vĩnh Tế (Vĩnh Giang) chảy quanh co quanh phủ Thiên Trường xưa.


- Năm 1832, do sông Vị Hoàng chảy xiết, làm bờ sông ngày càng xói lở và khu phố buôn bán phía Đông Bắc thành Vị Hoàng có nguy cơ bị mất. Theo nguyện vọng của địa phương, vua Minh Mạng cho đào một con sông mới, được gọi là sông Đào, để chia sẻ dòng nước từ kênh Phù Long đến bến đò Lương Xá, tách làng Vị Hoàng thành hai làng: Vị Hoàng và Vị Khê. Từ đây, nước sông Hồng không còn đổ nhiều vào sông Vị Hoàng, sông chảy chậm và bị phù sa lắng đọng, bồi lấp dần.


- Khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sông Vị Hoàng đã bị lấp dần nên còn được gọi là sông Lấp. Ngày nay, hầu như không còn vết tích của sông Vị Hoàng.


- Sách Việt sử thông giám cương mục viết rằng: "Việc đào sông Vị Hoàng đã chặn mất long mạch nên nhà Trần mất ngôi".


25. Sông Cửu An:

- Sông Cửu An là  con sông nhỏ nằm trong hệ thống thủy nông Bắc-Hưng-Hải, thuộc địa phận tỉnh Hải Dương, một phần chảy theo ranh giới giữa Hải Dương và vùng phía đông tỉnh Hưng Yên.


- Sông Cửu An vốn là một phân lưu của sông Hồng, chảy về phía đông, về sau bị vùi lấp ở phần cửa sông.


- Sông còn được gọi là sông Cửu Yên, sông Si, sông Ba Đông, sông Bằng Ngang.


- Hiện nay, sông Cửu An chảy từ Nghi Xuyên đến ngã ba Tòng Hóa (Phù Cừ), tổng chiều dài 23,5 km. Mặc dù sông Cửu An không lớn nhưng lại đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp tại những vùng sông chảy qua.


26. Sông Diêm Hộ:

- Sông Diêm Hộ, một con sông nhỏ thuộc hệ thống sông Hồng chảy trong tỉnh Thái Bình.


- Sông được tách ra từ sông Luộc tại địa phận xã Quỳnh Thọ (Quỳnh Phụ) chảy ngoằn ngoèo theo hướng Đông Nam qua huyện Quỳnh Phụ, xã Đông Kinh huyện Đông Hưng đến địa phận xã Thái Giang (Thái Thụy) sông đổi hướng chảy theo hướng Tây Đông và đổ ra biển Đông tại cửa Diêm Hộ (phía nam thị trấn Diêm Điền - Thái Thụy).


- Sông có tổng chiều dài khoảng hơn 40 km, đi qua và làm một phần ranh giới tự nhiên giữa các huyện Quỳnh Phụ và Đông Hưng, Đông Hưng và Thái Thụy, sông có bề ngang rộng ở đoạn chảy qua huyện Thái Thụy và chia đôi huyện Thái Thụy thành hai địa phận có diện tích tương đương nhau.


27. Sông Trà Lý:

- Sông Trà Lý là một phân lưu của sông Hồng chảy ngang qua tỉnh Thái Bình gần như theo hướng Tây Tây Bắc-Đông Đông Nam với một vài đoạn uốn cong, chiều dài khoảng 67 km. Đoạn chảy qua thành phố Thái Bình có tên là sông Bo gắn liền với giống ổi Bo nổi tiếng của xã Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình.


- Điểm đầu từ ngã ba Phạm Lỗ nơi giáp ranh của xã Phú Phúc (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) với hai xã Hồng Minh (huyện Hưng Hà), Hồng Lý (huyện Vũ Thư) cùng tỉnh Thái Bình. Đây là điểm nối với sông Hồng.

 

- Điểm cuối là cửa Trà Lý đổ ra biển Đông, ranh giới giữa hai xã Thái Đô (huyện Thái Thụy) và xã Đông Hải (huyện Tiền Hải) cùng tỉnh Thái Bình.


- Trên sông Trà Lý hiện có 4 cây cầu bắc qua, tại thành phố Thái Bình có 3 cầu là cầu Hoà Bình, cầu Thái Bình (còn gọi là cầu Bo mới), cầu Độc Lập (cầu Bo cũ); cầu Trà Lý phía sát cửa sông nối hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy.


- Sông Thanh Hà: Có lưu vực nhỏ 390km2, bắt nguồn từ Hoà Bình đổ vào sông Đáy tại Bạch Tuyết.


- Các sông nội đồng: Sông Nhuệ, sông Châu, sông Sắt, sông Vạc, sông Càn đều là những trục cấp và tiêu nước cho các khu vực.


28. Sông Tích: 

Bắt nguồn từ dãy núi Ba Vì, có chiều dài 110km, đổ vào sông Đáy tại Ba Thá.


29. Sông Nhuệ:

- Sông Nhuệ tức Nhuệ Giang là một con sông nhỏ, dài khoảng 76 km, chảy ngoằn ngoèo gần như theo hướng bắc Tây Bắc-Nam Đông Nam qua địa phận thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam.


- Điểm bắt đầu của nó là cống Liên Mạc, lấy nước từ sông Hồng trong địa phận huyện Từ Liêm (thành phố Hà Nội) và điểm kết thúc của nó là cống Phủ Lý khi hợp lưu với sông Đáy gần thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam). Sông chảy qua các quận, huyện, thị trấn gồm quận Cầu Giấy, Hà Đông, huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Hoài Đức, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên và cuối cùng đổ vào sông Đáy ở khu vực thành phố Phủ Lý. Diện tích lưu vực của nó khoảng 1.075 km² (phần bị các đê bao bọc). Ngoài ra, nối sông Đáy với sông Nhuệ còn có các sông nhỏ như sông La Khê (qua thành phố Hà Đông), sông Tô Lịch, sông Vân Đình, sông Duy Tiên, sông Ngoại Độ v.v...


- Năm 1831, vua Minh Mạng ra đạo dụ thành lập tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Lý Nhân v.v. Sông Nhuệ và sông Hồng được lấy làm gianh giới của tỉnh Hà Nội. Tên Hà Nội có nghĩa là "bên trong sông" tức là khu vực giữa 2 con sông này.


- Do hệ thống sông Thái Bình có nối với sông Hồng bởi sông Đuống (ở Thượng Lưu) và sông Luộc (ở hạ lưu) nên đôi khi người ta còn gọi hệ thống này là hệ thống sông Hồng - Thái Bình và nó tạo ra khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Hệ thống này giúp phân nước sông Hồng khi mùa lũ, làm giảm thiệt hại ở hạ lưu sông Hồng.
IV. HỆ THỐNG SÔNG MÃ: 

Hệ thống sông Mã gồm dòng chính là sông Mã và 2 phụ lưu lớn là sông Chu, sông Bưởi. Hệ thống sông này có tổng chiều dài là 881 km, tổng diện tích lưu vực là 39.756 km², trong đó có 17.520 km² nằm trong lãnh thổ Việt Nam..


1. Sông Mã:

- Sông Mã là một con sông của Việt Nam và Lào có chiều dài 512 km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam dài 410 km và phần trên lãnh thổ Lào dài 102 km.


- Sông Mã có hai nguồn chính, nguồn thứ nhất từ phía Nam tỉnh Điện Biên (núi Tuần Giáo), chảy qua huyện Sông Mã của tỉnh Sơn La rồi qua lãnh thổ Lào,nguồn thứ hai bắt đầu từ sườn phía Bambusao. Hai nguồn này đều đổ vào Thanh Hóa qua địa phận tỉnh Sầm Nưa-Lào. Tại Thanh Hóa, sông chảy qua các huyện phía Bắc của tỉnh, hội lưu với sông Chu rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Hới nằm giữa huyện Hoằng Hóa và thị xã Sầm Sơn cùng hai cửa phụ là Lạch Trường và cửa Lèn. Lưu vực của sông Mã rộng 28.400 km², phần ở Việt Nam rộng 17.600 km².


- Các phụ lưu lớn của sông Mã là sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày đều hợp lưu với sông Mã trên địa phận Thanh Hóa. Ngoài ra còn có các phụ lưu nhỏ như sông Lũng, sông Sơn Trà, sông Nậm Soi.


- Theo dân gian, sông có tên gọi "Mã" vì dòng nước chảy xiết như ngựa phi. Ở Lào, sông Mã được gọi là nậm Mã với nậm nghĩa là sông thường dùng ở miền Trung Lào. Sử Việt còn gọi sông Mã là Lỗi Giang.


- Hệ thống sông Mã nối với sông Đáy qua các sông, kênh: Vạc, Yên Mô, kênh Ngã, sông Lèn, kênh De, sông Trường và kênh Choán. Như vậy từ cảng Lệ Môn trên sông Mã có thể đi bằng  đường sông đến Hòa Bình, Yên Bái, Tuyên Quang, Phả Lại…


2. Sông Bưởi: 

Sông Bưởi hay còn gọi là sông Sòi, là  phụ lưu của sông Mã. Sông này ban đầu có hai nhánh, chảy gần như song song. Một nhánh bắt nguồn từ vùng Núi Chu, gần Suối Rút (huyện Mai Châu – tỉnh Hòa Bình), ở độ cao 450 m, nhánh kia bắt nguồn từ gần thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc cùng tỉnh. Cả hai nhánh này đều nằm ở phía nam hồ Hòa Bình, cách hồ này khoảng 7-10 km. Hai nhánh này hợp lưu tại khu vực phía tây nam thị trấn Vụ Bản thành một dòng trước khi hợp lưu với nhánh thứ ba bên tả ngạn cách đó khoảng 2 km rồi chảy qua huyện Lạc Sơn cùng tỉnh, vượt qua phía tây Vườn quốc gia Cúc Phương. Đến gần Dốc Lào trong địa phận xã Thạch Lâm huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa, nó hợp lưu với một nhánh nhỏ phía hữu ngạn rồi chảy tiếp qua địa phận huyện Thạch Thành và cuối cùng đổ vào bờ trái sông Mã, nơi giáp ranh các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Khang (huyện Vĩnh Lộc) và Yên Thái (huyện Yên Định), tỉnh Thanh Hóa. Tổng chiều dài 130 km. Diện tích lưu vực 1.790 km.


3. Sông Chu:

Sông Chu hay còn gọi là sông Lường (ngôn ngữ Tày, Thái gọi là Nậm Sam; nguyên gốc gọi là sông Sủ, người Pháp viết thành Chu), là phụ lưu lớn nhất của sông Mã. Bắt nguồn từ vùng núi Houa (2.062 m), tây bắc Sầm Nưa ở Lào, chảy theo hướng tây bắc - đông nam, đổ vào bờ phải sông Mã ở Ngã Ba Giàng (Ngã Ba Đầu, Ngã Ba Bông), cách cửa sông 25,5 km. Dài 325 km, phần chảy ở Việt Nam là 160 km, qua các huyện Quế Phong (Nghệ An); Thường Xuân, Thọ Xuân (Thanh Hóa). Diện tích lưu vực 7.580 km², phần ở Việt Nam 3.010 km².


4. Sông Cầu Chày: 

Sông Cầu Chày hay sông Ngọc Chùy, là chi lưu của sông Mã. Sông Cầu Chày dài dài 87 km, khởi nguồn từ núi Đàn thuộc huyện Ngọc Lặc, chảy qua các huyện Lang Chánh, Thọ Xuân và Thiệu Hóa rồi hợp với sông Mã ở hạ lưu.Nước sông Cầu Chày rất đục và cạn.


5. Sông Lèn:

- Sông Lèn là một phân lưu của Sông Mã được tách ra từ sông Mã tại địa phận xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc và xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, chảy theo hướng đông đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửa Lèn nằm giữa hai xã Nga Thủy, Nga Sơn và Đa Lộc, Hậu Lộc. Sông Lèn là ranh giới tự nhiên của các huyện Hà Trung, Nga Sơn (thuộc tả ngạn) với huyện Hậu Lộc (thuộc hữu ngạn).


- Sông Lèn có tổng chiều dài khoảng 34km, chảy cắt qua quốc lộ 1A tại cầu Đò Lèn, cách Hà Nội khoảng 130km về hướng nam.


V. HỆ THỐNG SÔNG LAM: 

Hệ thống sông lam có 2 nguồn chính: Nậm Nơn từ dãy Pu Lôi và Nậm Mô từ cao nguyên Trấn Ninh. Chiều dài của sông tính theo Nậm Nơn là 530km, tính theo Nậm Mô dài 432km. Sông Lam theo Nậm Mô qua cửa Rào-Đô Lương-Vinh và đổ ra biển ở cửa Hội. Hệ thống sông Lam có các phụ lưu quan trọng: sông Con bên tả ngạn, sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu bên hữu ngạn.


1. Sông Lam:

- Sông Lam, (tên gọi khác là Ngàn Cả hay Sông Cả, ở Lào là Nam Khan), là một trong 2 con sông lớn nhất ở Bắc Trung Bộ Việt Nam.


- Sông bắt nguồn từ cao nguyên Xieng Khuang, Lào. Phần chảy trên lãnh thổ Lào gọi là Nam Khan. Phần chính của dòng sông chảy qua Nghệ An, phần cuối của sông Lam hợp lưu với sông La từ Hà Tĩnh, tạo thành ranh giới của Nghệ An và Hà Tĩnh đổ ra biển tại cửa Hội. Trên lãnh thổ Việt Nam, nó chảy qua địa phận huyện Kì Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn, giữa các huyện Thanh Chương, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, Nghi Lộc của tỉnh Nghệ An rồi vào và Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh của tỉnh Hà Tĩnh trước khi đổ ra vịnh Bắc Bộ.


- Tổng cộng chiều dài của sông là khoảng 513 km, đoạn chảy trong nội địa Việt Nam khoảng 361km.


- Diện tích lưu vực của con sông này là 27.200 km², trong số đó 17.730 km² thuộc Việt Nam. Sông chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, khi gần tới biển chảy ngược lên hướng Bắc. Có một số nhánh sông nhân tạo lấy nước từ Sông Lam như sông Đào.


- Ngàn Cả hay sông Cả là tên cũ của sông Lam. Ngày nay, sông Cả chỉ phần nhánh chính từ Nghệ An của sông Lam. Nhánh này hợp với nhánh lớn thứ hai là sông La, từ Hà Tĩnh, để tạo thành phần hạ nguồn của sông Lam. Tiếng Cả vừa hàm nghĩa là "lớn", vừa có hàm nghĩa là "mẹ", mẹ của những con sông nhỏ đổ về như Nậm Nơm, Nậm Mộ, sông Giăng, và sông La. Còn tên "sông Lam" có lẽ do màu nước xanh. Sông còn có các tên như Lam Giang, Thanh Long Giang, Lam Thủy.


2. Sông Hiếu (Nghệ An):  

Sông Hiếu, còn có tên gọi là sông Con, một trong những con sông lớn tại Nghệ An, có tổng chiều dài khoảng 220 km, là chi lưu lớn nhất của sông Lam. Sông được bắt nguồn từ vùng núi huyện Quế Phong, chảy quanh co theo hướng đông - nam qua Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, đến thị trấn Thái Hòa, Nghĩa Đàn đổi hướng chảy theo hướng tây nam qua huyện Tân Kỳ, Anh Sơn và hợp nhất với sông Lam tại xã Đinh Sơn, Anh Sơn.


3. Sông La:

- Sông La là một phụ lưu của sông Lam, dài 12,5 km chảy qua huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.


- Sông La là hợp lưu của hai sông Ngàn Phố (từ Hương Sơn đồ về) và sông Ngàn Sâu (từ Hương Khê và Vũ Quang) tại bến Tam Soa (Linh Cảm, Đức Thọ). Đến lượt nó lại hợp lưu với sông Cả (từ Nghệ An chảy sang) tạo thành dòng sông Lam nằm giữa 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.


- Sông La là một dòng sông rất đẹp, có phong cảnh nên thơ, sơn thủy hữu tình là nguồn cảm ứng sáng tạo cho nhiều thi nhân và nhạc sĩ.


4. Sông Ngàn Phố:

- Sông Ngàn Phố là một phụ lưu của sông La chảy chủ yếu trong địa phận huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.


- Sông Ngàn Phố bắt nguồn bằng các dòng suối nhỏ từ vùng núi Giăng Màn thuộc dãy núi Trường Sơn trong địa phận các xã Sơn Hồng, Sơn Kim 1 và Sơn Kim 2 huyện Hương Sơn, ven biên giới Việt - Lào, ở độ cao khoảng 700 m. Sông Ngàn Phố chảy gần như theo hướng Tây - Đông tới ngã ba Tam Soa (bến Tam Soa), nơi giáp ranh các xã Sơn Tân, Sơn Long (huyện Hương Sơn) với các xã Trường Sơn, Tùng Ảnh (huyện Đức Thọ). Đây cũng là nơi nó hợp lưu với sông Ngàn Sâu để tạo thành sông La.Chiều dài tối đa khoảng 71-72 km. Diện tích lưu vực 1.060 km².


5. Sông Ngàn Sâu:

- Sông Ngàn Sâu là một chi lưu chính của sông La. Sông này dài 131 km, bắt nguồn từ vùng núi Ông Giao (1.100 m) và Cũ Lân (1.014 m) thuộc dãy núi Trường Sơn (nằm trên địa bàn giáp ranh của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình) chảy về hướng Bắc qua huyện Hương Khê, Vũ Quang, Đức Thọ và Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) rồi hợp lưu với sông Ngàn Phố tại ngã ba Tam Soa (hay bến Tam Soa (huyện Đức Thọ) tạo thành dòng sông La.


- Ngàn Sâu có các phụ lưu là sông Tiêm, sông Rào Trổ, sông Ngàn Trươi. Toàn bộ lưu vực sông Ngàn Sâu rộng 2061 km².


6. Sông Nghèn:

- Sông Nghèn là một phân lưu của sông Lam chảy qua tỉnh Hà Tĩnh.


- Sông được bắt nguồn từ địa phận xã Trung Lương, Hồng Lĩnh, chảy quanh co theo hướng đông nam qua huyện Đức Thọ, Thị xã Hồng Lĩnh, huyện Can Lộc, Lộc Hà và hợp nhất với sông Hạ Vàng ở huyện Thạch Hà chảy theo hướng đông bắc đổ ra biển tại cửa Sót.


- Sông có chiều dài khoảng 70km, chảy qua quốc lộ 1A tại cầu Nghèn thuộc thị trấn Can Lộc.


VI. HỆ THỐNG SÔNG THU BỒN – VU GIA:


Hệ thống sông Thu Bồn có các chi lưu lớn: sông Cái, sông Bung, chảy vào sông Vu Gia, nhập với sông Thu Bồn chảy ra cửa Đại và một phần chảy vào sông Hàn ra vịnh Đà Nẵng.


1. Sông Thu Bồn:

- Sông Thu Bồn, là một trong những sông nội địa lớn nhất Việt Nam, với diện tích lưu vực rộng 10,350km2. Sông bắt nguồn từ khối núi Ngọc Linh thuộc huyện Dak Glei, tỉnh Kon Tum và đổ ra biển tại cửa Đại, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, một nhánh chảy vào sông Vĩnh Điện để đổ nước vào sông Hàn, Đà Nẵng. Trước khi đổ ra biển tại cửa Đại, một phần nước của sông chảy vào sông Trường Giang để đổ ra vịnh An Hòa Tam Quang, huyện Núi Thành. Sông Thu Bồn cùng với sông Vu Gia, hợp lưu tại Đại Lộc tạo thành hệ thống sông lớn có vai trò rất quan trọng đối với đời sống và tâm hồn người Quảng Nam. Phần lớn diện tích lưu vực sông chảy trong địa phận Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, phần thượng nguồn một phần nằm trên đất Kon Tum và Quảng Ngãi.


- Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn có ranh giới với các lưu vực:

+ Phía Bắc giáp lưu vực sông Cu Đê.

+ Phía Nam giáp lưu vực sông Sê San, sông Trà Bồng.

+ Phía Đông giáp biển Đông và lưu vực sông Tam Kỳ.

+ Phía Tây giáp với Lào.


- Sông bắt nguồn từ khối núi Ngọc Linh cao 2,598m thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam (Nam Quảng Nam- Bắc Kon Tum); phần thượng lưu này được gọi là Đak Di. Sông chảy ngược lên phía Bắc qua các huyện trung du của tỉnh Quảng Nam như Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức. Khi đi qua đây, sông nhận thêm nhiều chi lưu là các sông, suối nhỏ. Đoạn chảy qua Tiên Phước và Hiệp Đức được gọi là sông Tranh. Bắt đầu khi đi qua địa phận Quế Sơn, Duy Xuyên, sông mới bắt đầu được gọi là Thu Bồn. Khi chảy qua ranh giới giữa Duy Xuyên và Đại Lộc, Thu Bồn nhận chi lưu lớn nhất ở tả ngạn, đó là sông Vu Gia. Sông đổ ra biển Đông ở cửa Đại. Cách cửa Đại không xa ngoài khơi là cù lao Chàm. Trước khi ra biển, sông tạo ra một số phân lưu như sông Ba Chươm, sông Cổ Cò, sông Đình, sông Đò, sông Hội An.


- Thượng lưu của sông Thu Bồn có các phụ lưu cấp II lớn như Sông Khang, sông Vang, sông Tranh, sông Gềnh Gềnh. Tại thị trấn Vĩnh Điện, một phần nước của sông Thu Bồn đổ vào chi lưu Vĩnh Điện dẫn nước vào sông Hàn và đổ ra cửa Đà Nẵng.


2. Sông Vu Gia: 

Là một trong hai sông hợp thành hệ thống sông Thu Bồn nên cũng gọi hệ thống sông Thu Bồn- Vu Gia. Lưu vực sông Vu Gia nằm về phía bắc lưu vực sông Thu Bồn thuộc địa phận các huyện Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Đại Lộc và Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng. Sông Vu Gia có các phụ lưu cấp II quan trọng gồm sông Bung, sông Kôn, sông Cái. Chiều dài dòng chính tính từ thượng nguồn sông Cái đến cửa Hàn (Đà Nẵng) dài 204km. Tổng diện tích lưu vực đến thị trấn Ái Nghĩa (huyện lị huyện Đại Lộc) đạt 5,180km2. Phần thượng nguồn sông Vu Gia có một phần lưu vực nằm trên đất Kon Tum, thuộc huyện Đắc Glei với tổng diện tích lưu vực đạt 500km2. Tại Ái Nghĩa, sông được gọi với một tên khác là sông Quảng Huế và đổ nước vào sông Thu Bồn. Sông được chia thành 2 chi lưu Sông Yên và sông Chu Bái. Sông Yên chảy về phía An Trạch, sau đó nhập lưu với sông Túy Loan chảy vào sông Hàn, Đà Nẵng.


Theo tính toán cơ bản, trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn có nhiều công trình thủy điện.


3. Sông Túy Loan:

- Sông Túy Loan, còn tên gọi khác sông Thủy Loan, là một phụ lưu của sông Cầu Đỏ (hay sông Cẩm Lệ, sông Hàn tùy theo từng đoạn), chảy hoàn toàn trong địa phận huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Sông này dài khoảng 30 km, bắt nguồn từ vùng núi Bà Nà ở phía Tây Hòa Vang. Sông chảy theo hướng Tây-Đông, đến xã xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang thì hợp lưu với sông Yên tạo thành sông Cầu Đỏ.


- Sông Túy Loan có hai chi lưu lớn là sông Lỗ Đông ở hữu ngạn từ phía Tây Nam Hòa Vang chảy tới và một sông nhỏ bên tả ngạn. Cả hai chi lưu này nhập vào sông Túy Loan tại xã Hòa Phong. Sông Lỗ Đông có một chi nhỏ là sông Đồng Nghệ.Diện tích lưu vực sông Túy Loan là 160 km².


4. Sông Hàn:

- Sông Hàn, tức Hàn Giang bắt đầu từ ngã ba sông giữa Quận Cẩm Lệ, quận Hải Châu và quận Ngũ Hành Sơn tới vịnh Đà Nẵng, tại chỗ giáp ranh giữa quận Hải Châu và quận Sơn Trà. Sông có dòng chảy từ Nam lên Bắc.


- Đoạn từ ngã ba sông nói trên ngược về phía thượng nguồn tới chỗ cầu Đỏ, được gọi là sông Cẩm Lệ. Đoạn tiếp theo về phía thượng nguồn gọi là sông Cầu Đỏ.


5. Sông Cầu Đỏ: 

Sông Cầu Đỏ do hai con sông Yên và sông Túy Loan (còn gọi là sông Tuy Loan) hợp lại mà thành ở xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang. Sông Yên là một phân lưu của sông Vu Gia chảy từ bên huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam sang. Còn sông Túy Loan bắt nguồn từ phía Tây huyện Hòa Vang, chảy về phía Đông; đến xã Hòa Phong thì nhận hai chi lưu là sông Lỗ Đông ở hữu ngạn từ phía Tây Nam Hòa Vang chảy tới và một sông nhỏ bên tả ngạn.


6. Sông Yên:

- Sông Yên là một phân lưu của sông Vu Gia và là một chi lưu của sông Cầu Đỏ. Sông tách ra khỏi sông Vu Gia ở chỗ giáp ranh giữa các xã Đại Hòa và Đại Nghĩa (huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam), chảy lên phía Bắc qua giáp ranh giữa xá Đại Hiệp (Đại Lộc) với các xã Điện Tiến và Điện Hồng (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), rồi chảy qua ranh giới xã Hòa Khương và xã Hòa Tiến, giữa xã Hòa Tiến và Hòa Phong (huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng) rồi hội lưu với sông Cầu Đỏ.


- Trên sông tại địa phận xã Hòa Khương và Hòa Tiến có đập thủy lợi An Trạch được xây từ thời Pháp thuộc.

 

VII. HỆ THỐNG SÔNG BA (Sông Đà Rằng):

 

Dòng sông chính của hệ thống Sông Ba dài 388km bắt nguồn từ các núi Kon Ka Kinh,   Kon Plông, chảy ra biển ở cửa Đà Giang- Tuy Hòa. Cửa sông khá rộng, tại đây có cầu đường bộ đi qua, một trong những cây cầu dài ở Việt Nam.


8. Sông Đà Rằng:

- Sông Đà Rằng (phần thượng lưu gọi là Sông Ba, Ea Pa, Ia Pa),chảy trên địa bàn ba tỉnh miền Trung Kon Tum, Gia Lai, Phú Yên. Nguồn gốc của tên Đà Rằng xuất phát từ chữ "Ea Rarang" trong tiếng Chăm, có nghĩa là "con sông lau sậy".


- Sông dài 374 km, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô, tây bắc tỉnh Kon Tum, có độ cao 1.549 mét, qua các huyện Kon Plông của tỉnh Kon Tum, KBang, Đắk Pơ, An Khê, Kông Chro, La Pa, Ayun Pa, Krông Pa của tỉnh Gia Lai. Trong địa phận tỉnh Phú Yên sông làm thành ranh giới tự nhiên giữa Sơn Hòa và Sông Hinh, giữa Sơn Hòa và Tây Hòa, giữa Tây Hòa và Phú Hòa, giữa Tây Hòa và thành phố Tuy Hòa rồi đổ ra biển Đông ở cửa biển Đà Diễn, phía Nam thành phó Tuy Hòa.


- Lưu vực của hệ thống sông Đà Rằng rộng 13.900 km² bao gồm cả phần phía Đông Bắc của Đăk Lăk. Các phụ lưu quan trọng nhất của sông Đà Rằng là sông Ayun (hợp lưu với Đà Rằng ở ranh giới giữa hai huyện Ayun Pa và Ia Pa), sông Krong H'Năng (hợp lưu với Đà Rằng ở ranh giới giữa Gia Lai và Phú Yên) và sông Hinh (hợp lưu huyện Sông Hinh).


- Vùng hạ lưu sông Đà Rằng từ nhiều nghìn năm trước đã có nhiều bộ tộc cư ngụ. Di tích của các nền văn minh đồ đá từng tồn tại nơi đây vẫn còn được lưu giữ, điển hình là chiếc đàn đá Tuy An. Từ thế kỷ 1, tại đây dần hình thành các quốc gia như Lâm Ấp, Chiêm Thành. Cửa biển Đà Diễn, thời kỳ từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 15, đã từng là trung tâm thương mại quốc tế sầm uất.


- Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã hành quân vào đây trừng phạt vua Chiêm Thành vì tội quấy nhiễu vùng Hóa Châu (Quảng Nam ngày nay). Lê Thánh Tông đã khắc lên một tảng đá lớn trên núi Thạch Bi (còn gọi là núi Đá Bia), thuộc hạ lưu sông Ba, làm mốc ranh giới Đại Việt. Đây cũng là một dấu mốc lịch sử trong quá trình Nam tiến của người Việt.


- Tuy đã đánh mốc như vậy, phải hơn 100 năm sau, đến năm 1578, đô chỉ huy sứ Lương Văn Chánh, vâng mệnh chúa Nguyễn Hoàng, mới đem lưu dân từ Thanh Hóa, Nghệ An và Thuận Quảng vào khai khẩn, lập xóm làng tại vùng đồng bằng Tuy Hòa.


- Ở hạ lưu sông Đà Rằng có công trình thủy nông Đồng Cam, đảm bảo ổn định tưới tiêu cho toàn bộ đồng bằng Tuy Hòa. Công trình này được xây dựng bởi người Pháp từ thập niên 1920. Các kỹ sư tham gia xây dựng công trình gồm người Pháp, Việt và Lào; trong đó có Trần Đăng Khoa, bộ trưởng đầu tiên của Bộ Thủy lợi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoàng thân Souphanouvong, cựu chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Hiện đang xây dựng thủy điện Sông Ba Hạ, trên huyện Sơn Hòa.


9. Sông Hinh:

- Sông Hinh tức Hinh Hà là một phụ lưu cấp 1 phía hữu ngạn của sông Đà Rằng (sông Ba). Sông này dài 88 km và có diện tích lưu vực là 1.040 km². Đầu nguồn của sông là đỉnh núi Chư H'Mu (cao 2.051 m) ở huyện M'Drăk, phía Tây tỉnh Đăk Lăk. Cửa sông, nơi hội lưu với sông Đà Rằng, ở phía xã Đức Bình Tây, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Đoạn thương lưu có hướng chảy cơ bản là Tây Nam - Đông Bắc. Đoạn hạ lưu, từ vĩ độ 12°50′ đến cửa sông, có hướng chảy cơ bản là Bắc-Nam.


- Trên sông Hinh, tại địa phận xã Ea Trol, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên có công trình thủy điện sông Hinh công suất 70 MW và điện năng sản xuất là 370 KWh/năm.


VIII. HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI: 

 

Hệ thống Sông Đồng Nai gồm các sông: Đồng Nai, Vàm Cỏ, Sài Gòn… hợp thành, có chiều dài lớn nhất nước ta. Dòng chính dài khoảng 635 km. sông bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên ở độ cao 1.770km, lưu vực sông nằm gần như trọn ven trên lãnh thỗ Việt Nam. Diện tích lưu vực Sông Đồng Nai khoảng 23.252 km2, nếu tính cả phụ lưu sông Sài Gòn là 29.520km2.


1. Sông Đồng Nai:

- Sông Đồng Nai là con sông lớn thứ nhì đất Nam Bộ, chỉ thua sông Cửu Long, sông còn có tên là "sông Phước Long" vì gọi tên theo phủ Phước Long cũ. Sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh với chiều dài trên 437 km, nếu tính từ đầu nguồn sông Đa Đưng thì dài 586 km còn nếu tính từ điểm hợp lưu với sông Đa Nhim phía dưới thác Pongua thì dài 487 km. Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ. Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các phân lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp (sông Soi) v.v…


- Nguồn sông chính xuất phát từ cao nguyên Lâm Viên, tỉnh Lâm Đồng. Đoạn trên sông mang tên sông Đắc Dung. Đến thị trấn Uyên Hưng thì sông Đồng Nai chảy theo hướng Bắc-Nam ôm lấy cù lao Tân Uyên và Cù Lao Phố. Sông chảy qua thị xã Biên Hòa và Nhà Bè thì có thêm chi lưu là sông Sài Gòn.


- Gia Định là rẽ theo sông Sài Gòn lên phía Tây Ninh, còn Đồng Nai là theo dòng sông lên Biên Hòa.


- Nhánh chính sông Đồng Nai ở khúc hạ lưu thường gọi là sông Nhà Bè. Sách xưa gọi sông này là "Phước Bình". Sông Đồng Nai hoà với nước của sông Vàm Cỏ từ Long An đổ về trước khi tuôn ra biển Đông.


- Hai phân lưu chính của sông Đồng Nai là sông Soài Rạp đổ vào vịnh Soài Rạp tại cửa Soài Rạp (rộng 2.000 - 3.000 m, sâu 6 - 8 m) ở huyện Cần Giờ và sông Lòng Tàu (sâu 15-20m) đổ vào vịnh Gành Rái.


- Sông Đồng Nai có một số cảng lớn như cảng Cát Lái, cảng Bình Dương. Đường sắt và Quốc lộ 1A vượt sông này qua cầu Đồng Nai ở Biên Hòa.


- Đồng Nai nguyên tên phiên âm tiếng Miên là "Nông-nại". Đây là vùng đất Chân Lạp người Việt vào khai phá trước tiên.


- Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai là nơi phát triển sầm uất của cộng đồng người Minh Hương trước khi vùng đất này trở thành đơn vị hành chính chính thức của Đàng Trong năm 1698.


2. Sông Đa Nhim:

- Sông Đa Nhim bắt nguồn từ phía Bắc núi Gia Rích (1.923m), huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, gần ranh giới với hai tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận. Sông chảy qua các huyện Đơn Dương, Đức Trọng và đổ vào sông Đa Dâng gần thác Pongour.


- Trên sông Đa Nhim có hồ Đa Nhim (hay là hồ Đơn Dương) đây là một hồ nhân tạo trên địa bàn huyện Đơn Dương. Ở đây có đặt nhà máy thuỷ điện Đa Nhim. Từ thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, ngược quốc lộ 27 chừng 50 km, ta sẽ nhìn thấy hai ống thủy lực chạy song song, dài khoảng 2 km, dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy nằm dưới chân đèo Ngoạn Mục trông rất đẹp và kỳ vĩ.


- Sông Đa Nhim không chỉ có nguồn lợi thuỷ điện, mà còn tạo ra nhiều cảnh quan đẹp trở thành những điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Lâm Đồng. Dọc sông có 3 thác chính: thác Liên Khương, thác Gougah và thác Pongour.


- Sông Đa Nhim góp nước vào sông Đắc Dung ở Đại Ninh. Ở khoảng hợp lưu với sông Bé thì có đập Trị An chắn dòng sông, tạo nên hồ nước nhân tạo lớn nhất miền Nam, Hồ Trị An cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trị An. Hồ Trị An cũng là nơi sông La Ngà từ triền núi phía nam cao nguyên Di Linh dồn nước về.


3. Sông Bé:

- Sông Bé là một phụ lưu về phía hữu ngạn sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Bình Phước, Bình Dương và Đồng Nai. Sông được bắt nguồn từ hồ Thác Mơ, huyện Phước Long, Bình Phước. Từ đây sông chảy theo hướng tây bắc đến xã Hưng Phước, huyện Bù Đốp đổi theo hướng tây nam, chảy đến địa phận xã Bình Thắng, Phước Long sông đổi theo hướng nam. Sông tiếp tục chảy đến huyện Phú Giáo, Bình Dương thì đổi sang hướng đông nam và đổ vào sông Đồng Nai tại nhà máy thuỷ điện Trị An cách hồ Trị An khoảng 10km về hướng tây.


- Sông có chiều dài khoảng 350km, chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Phước Long và Bù Đốp, Phước Long và Lộc Ninh, Phước Long và Bình Long, Bình Long và thị xã Đồng Xoài, Bình Long và Phú Giáo, Bình Dương, giữa huyện Tân Uyên, Bình Dương và Vĩnh Cửu - Đồng Nai.


4. Sông La Ngà:

- Sông La Ngà là phụ lưu cấp I về phía tả ngạn của sông Đồng Nai, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh thuộc thị xã Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng, chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai với chiều dài trên 272 km và lưu vực 4.710 km² rồi đổ vào hồ Trị An.


- Ở thượng nguồn sông La Ngà là hợp lưu của hệ thống nhiều sông suối nhỏ, nhưng về tổng thể có thể coi là ba sông nhánh bắt nguồn từ phía tây, đông bắc và đông thị xã Bảo Lộc. Chúng hợp lưu ở phía nam cách thị xã Bảo Lộc khoảng 7 km. Từ đây sông La Ngà chảy khoảng 30 km thì tới hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện Hàm Thuận công suất 300 MW của cụm nhà máy thủy điện Hàm Thuận-Đa Mi nằm trên địa phận hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận. Từ hồ chứa nước này sông La Ngà tách làm hai nhánh, một nhánh chảy theo hướng đông bắc-tây nam để dẫn nước tới hồ chứa nước cho nhà máy thủy điện Đa Mi công suất 175 MW (ở phía tây tây nam hồ chứa nước của nhà máy thủy điện Hàm Thuận). Nhánh phía đông chảy vòng thúng rồi hợp lưu với nhánh thoát nước của nhà máy thủy điện Đa Mi trong địa phận huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận rồi chảy tới ranh giới với tỉnh Đồng Nai tiếp theo nó tạo thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bình Thuận rồi sau đó chảy trong địa phận tỉnh Đồng Nai tới hồ Trị An.


5. Sông Sài Gòn:

- Sông Sài Gòn bắt nguồn từ lưu vực cao nguyên Hớn Quảng, tỉnh Bình Phước chảy qua địa phận tỉnh Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, rồi đổ vào sông Đồng Nai ở mũi Đèn Đỏ thuộc huyện Nhà Bè và gọi là sông Nhà Bè (tức là dòng hợp lưu của hai sông Đồng Nai và Sài Gòn).


- Sông Sài Gòn dài 256 km, chảy dọc trên địa phận thành phố dài khoảng 80 km, có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu có chỗ tới 20 m, diện tích lưu vực trên 5.000 km².


- Vì chảy qua nhiều vùng nên sông mang nhiều tên khác nhau:


- Từ đầu nguồn đến gần chợ Thủ Dầu Một (Bình Dương) gọi là sông Ngã Cái.


- Đoạn từ chợ Thủ Dầu Một đến cư xá Thanh Đa (Thành phố Hồ Chí Minh) gọi là sông Thủ Khúc.


- Đoạn cư xá Thanh Đa cho đến chỗ đổ vào sông Đồng Nai (mũi Đèn Đỏ) có tên là sông Sài Gòn hay sông Bến Nghé (tên chữ là Ngưu Chử giang, trong sách Gia Định thành thông chí ghi làTân Bình giang, vì ngày xưa chảy qua phủ Tân Bình).


6. Sông Bến Nghé:


- Sông Bến Nghé là một đoạn sông Sài Gòn chảy qua Thành phố Hồ Chí Minh trước khi hiệp với sông Đồng Nai ở Nhà Bè.


- Tên gọi Bến Nghé hiện có hai thuyết:

+ Tục truyền sông này nhiều cá sấu, từng đàn đuổi nhau kêu gầm như tiếng trâu rống, cho nên gọi tên như thế (nghé tức trâu con).

+ Bến Nghé có nguồn gốc từ tiếng Khmer: Kompong: bến, Kon Krabei: con trâu: Bến Nghé là cái bến mà người ta thường cho trâu, bò ra tắm. Có nhiều địa danh được gọi là bến như: rạch Bến Nghé (Nhà Bè), rạch Bến Tượng (Sông Bé)... Cho nên Bến Nghé có lúc còn được gọi là Bến Trâu như trong bài.

 

- Tên Bến Nghé, ban đầu là tên của một bến nước, sau chỉ một con sông, cuối cùng dùng chỉ một địa phương (vùng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay). Và có một thời, mỗi khi người ta nói Đồng Nai-Bến Nghé tức là nói đến cả vùng đất Nam Bộ.


- Tuy nhiên, hiện nay trên bản đồ vẫn ghi khúc sông này là sông Sài Gòn. Còn cái tên Bến Nghé hiện chỉ còn dùng để chỉ một con rạch: rạch Bến nghé chảy từ sông Sài Gòn (cầu Khánh Hội) đến cầu Chữ Y. Con rạch này nhận nước của sông Sài Gòn và là ranh giới tự nhiên giữa quận 1 và quận 4.


7. Sông Đạ Huoai: 

Sông Đạ Huoai phát nguyên từ suối Đạ Mri, chảy xuống qua Suối Tiên. Khi vào địa phận Đạ Huoai, lòng sông rộng dần ra trung bình 15 m, rồi đổ vào sông Đồng Nai. Phụ lưu chính là sông Đạ Mrê có chiều dài 50 km, rộng từ 10 m đến 12 m.


8. Sông Vàm Cỏ:

Sông Vàm Cỏ thuộc hệ thống sông Đồng Nai. Sông này có khoảng 10 chi lưu trong đó hai chi lưu trực tiếp tạo nên dòng sông là sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây. Sông Vàm Cỏ đổ nước vào sông Soài Rạp, cách cửa Soài Rạp khoảng 22 km. Tính từ chỗ ngã ba Vàm Cỏ Đông-Vàm Cỏ Tây (Tân Trụ) đến ngã ba sông Soài Rạp, Vàm Cỏ dài 35,5 km. Sông Vàm Cỏ chảy qua tỉnh Long An và làm ranh giới giữa Long An và Tiền Giang.


9. Vàm Cỏ Đông:

- Sông Vàm Cỏ Đông là một chi lưu của sông Vàm Cỏ. Sông bắt nguồn tư vùng đồi núi bên lãnh thổ Campuchia chảy vào Việt Nam tại xã Biên Giới, huyện Châu Thành, Tây Ninh, rồi qua các huyện Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng (đều thuộc Tây Ninh).Và đi vào địa phận tỉnh Long An qua các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Cần Đước và kết hợp với sông Vàm Cỏ Tây tạo nên sông Vàm Cỏ Sông có chiều dài 220 km trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam dài hơn 150 km. Lưu vực sông rộng 8.500 km².


- Sông Vàm Cỏ Đông có một số chi lưu trong đó có sông Nhật Tảo. Vì có nhiều nhánh sông nhỏ nên Vàm Cỏ Đông nó rất thuận tiện cho việc lưu thông bằng đường thủy để vận chuyển hàng hóa từ các nơi về Tây Ninh hay ngược lại từ Tây Ninh đến những nơi khác (chủ yếu là các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long).


- Đây là nơi xảy ra nhiều trận đánh ác liệt trong các cuộc chiến tranh. Trong cuộc chiến chống Pháp, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã chỉ huy trận đánh đốt tàu Hy Vọng của thực dân Pháp tại vàm Nhựt Tảo. Trong chiến tranh Việt Nam, đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận đánh ác liệt.


- Sông này nổi tiếng với bài hát cùng tên là bài "Vàm Cỏ Đông" (sáng tác: Trương Quang Lục, thơ: Hoài Vũ), "Lên ngàn" (sáng tác: Hoàng Việt).


10. Vàm Cỏ Tây:

- Sông Vàm Cỏ Tây là tên một con sông chảy qua tỉnh Long An và Tiền Giang. Sông này lấy nước từ sông Tiền và vùng Đồng Tháp Mười[1] rồi hợp lưu với sông Vàm Cỏ Đông tạo thành sông Vàm Cỏ. Thành phố Tân An của tỉnh Long An nằm bên hữu ngạn con sông này.


- Sông Vàm Cỏ Tây bắt nguồn từ biên giới tỉnh Svay Rieng Campuchia chảy vào huyện Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Tân Hưng, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Tân Trụ, Cần Đước, Châu Thành và Thành phố Tân An. Sông cùng với sông Vàm Cỏ Đông hợp thành sông Vàm Cỏ đổ ra cửa Xoài Rạp.


- Sông Vàm cỏ Tây và Đông nước có màu xanh khi thủy triều lên và vàng đục khi thủy triều xuống. Đây là nét đặc trưng riêng của sông Vàm cỏ khác với các sông khác ở Đồng bằng Sông Cửu Long.


- Sông Vàm Cỏ Tây độ dài qua tỉnh là 186 km, nguồn nước chủ yếu do sông Tiền tiếp sang qua kênh Hồng Ngự, đáp ứng một phần nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân cư.


11. Sông Cần Giuộc:

- Sông Cần Giuộc (hay sông Rạch Cát, sông Phước Lộc) là một dòng sông nhỏ, chảy qua địa phận Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An. Đoạn chảy qua Thành phố Hồ Chí Minh chỉ dài khoảng 500 m ở ngã ba sông Chợ Đệm - Rạch Cát, còn lại chảy trên địa phận tỉnh Long An, tiếp giáp nhiều kênh rạch của lưu vực sông Vàm Cỏ và huyện Bình Chánh, chảy qua địa phận xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, qua thị trấn Cần Giuộc tới địa phận xã Phước Đông, huyện Cần Đước đến cách sông Vàm cỏ khoảng 12.5 km thì dòng sông này tách thành 2 con sông. Một hướng rẽ ra sông Xoài Rạp, một hướng xuống Vàm Cỏ. Ngoài ra, nhánh chính của dòng sông này còn có chiếc cầu Rạch Cát bắc qua.


- Xuôi dòng sông này, nếu đi theo phía Tây có thể ra sông Xoài Rạp, phía Nam ra sông Vàm Cỏ, phía Bắc ra sông Chợ Đệm, ra Kinh Đôi và từ đó ra sông Sài Gòn. Tính từ lưu vực sông Vàm Cỏ đến sông Chợ Đệm, tổng chiều dài dòng sông này khoảng 38 km.


- Dòng sông này có trận đánh lịch sử giữa quân Pháp - Việt năm 1858, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng là một tác phẩm liên quan đến dòng sông này do Nguyễn Đình Chiểu sáng tác.


12. Sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy):

Sông Lòng Tàu là một phân lưu của sông Đồng Nai,dài khoảng 75 km, có độ sâu trung bình là 15 m, đổ ra biển Đông tại vịnh Gành Rái. Đến lượt nó. Lòng Tàu lại có hai phân lưu là sông Ngã Ba và sông Ngã Bảy. Tính từ ngã ba nơi sông Lòng Tàu tách ra khỏi sông Đồng Nai đến chỗ sông Ngã Bảy tách ra, Sông Lòng Tàu chảy qua huyện Cần Giờ. Đây là một tuyến giao thông đường thủy quan trọng ở Đông Nam Bộ, nơi các tàu biển từ biển Đông đi qua cửa sông Ngã Bảy vào cập cụm cảng Sài Gòn.


13. Sông Ngã Bảy:

- Sông Ngã Bảy tại huyện Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh.Sông được bắt nguồn từ đoạn hợp lưu sông Lòng Tàu và sông Dừa từ hướng đông bắc đổ tới. Tại đây sông chảy thêm một đoạn khoảng 2km nữa thì tiếp tục nhận nước từ sông Đồng Tranh từ hướng bắc đổ vào. Chảy thêm khoảng 4km nữa thì sông đổi hướng nam đổ ra biển Đông tại vịnh Rành Gái.


- Trên đường chảy ra biển Đông, ngoài các sông lớn như sông Lòng Tàu, sông Đồng Tranh, sông Dừa, sông còn nhận thêm nước từ các con sông nhỏ khác từ hai bên đổ vào nên có tên gọi là sông Ngã Bảy (tức có 7 nhánh sông đổ vào).


- Sông có chiều dài khoảng 15km, lòng sông rộng. Nơi đây cũng là vị trí của trận thuỷ chiến nổi tiếng năm 1782 giữa Tây Sơn và Chúa Nguyễn, trận Thất Kỳ Giang.


14. Sông Đồng Tranh:

- Sông Đồng Tranh là một phân lưu của sông Đồng Nai làm ranh giới tự nhiên giữa TP.HCM và Đồng Nai.Sông được chảy tách ra từ sông Lòng Tàu tại địa phận xã Phước Khánh, huyện Nhơn Trạch chảy theo hướng đông - đông nam, đến đoạn giao với sông Bà Giỏi tại xã Phước An, Nhơn trạch đổi hướng chảy theo hướng nam và nhập vào với sông Ngã Bảy tại xã Thạch An, Cần Giờ.


- Sông có chiều dài khoảng 30km, từ đoạn sông Lòng Tàu và sông Bà Giỏi làm ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai và Cần Giờ, TP.HCM.


15. Sông Thị Vải:

- Sông Thị Vải là con sông chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu.


- Sông được bắt nguồn từ huyện Long Thành, chảy theo hướng đông - nam, qua Nhơn Trạch, đến huyện Tân Thành đổi hướng theo hướng nam đổ ra biển tại vịnh Gành Rái.


- Sông có tổng chiều dài khoảng 76km, đoạn chảy theo hướng nam làm ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Nhơn Trạch, TP.HCM và Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu.


16. Sông Soài Rạp:

- Sông Soài Rạp hay Xoài Rạp là một phân lưu của hệ thống sông Sài Gòn - sông Đồng Nai.


- Sông được bắt đầu từ đoạn xã Phú Xuân, Nhà Bè và xã Bình Khánh, Cần Giờ theo hướng nam đổ ra biển Đông tại cửa Soài Rạp, và làm ranh giới tự nhiên giữa huyện Cần Giờ và Nhà Bè, giữa Cần Giờ và huyện Cần Giuộc (Long An), giữa Cần Giờ và huyện Gò Công Đông (Tiền Giang).


- Sông có chiều dài khoảng 40km, khúc rộng nhất của sông khoảng 3km nằm phía hạ lưu nơi ranh giới giữa xã Lý Nhơn, Cần Giờ và xã Gia Thuận, Gò Công Đông.


- Hiện nay, sông Soài Rạp đang được tiến hành nạo vét độ sâu của lòng sông vì tương lai sẽ có 1 hệ thống cảng biển lớn và hiện đại của quốc gia năm trên luồng sông này đó là cảng Hiệp Phước nhằm thay thế cho hệ thống cảng Sài Gòn cũ.


- Các sông và kênh khác:

+ Kênh Choán: Nối từ Hoằng Hà đến  Kênh Bà Tống.

+ Kênh Bà Tống: Nối từ kênh Tắt Ông Nghĩa đến sông Soài Rạp.

+ Sông Dần Xây:Nối từ sông Lòng Tàu đến sông Dinh Bà.

+ Sông Dinh Bà :Nối từ sông Dần Xây đến sông Lò Rèn.

+ Sông Lò Rèn: Nối từ sông Dinh Bà đến sông Vàm Sát.

+ Sông Vàm Sát: Nối từ sông Lò Rèn đến sông Soài Rạp.


IX. HỆ THỐNG SÔNG MÊ KÔNG (Cửu Long):


- Sông Mekong là một trong mười con sông lớn nhất thế giới, có chiều dài hơn 4.800 km, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng. Diện tích lưu vực 795.000 km2 rộng gần bằng nước Pháp và Đức cộng lại. Sông MêKông chảy qua lãnh thổ của 6 quốc gia là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Đây là nơi sinh sống của trên 65 triệu người và có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế của các nước ven sông.


- Tính theo độ dài, sông Mêkông đứng thứ 12 thế giới và thứ 7 châu Á, còn tính theo lưu lượng nước đứng thứ 10 trên thế giới. Sông này xuất phát từ vùng núi cao tỉnh Thanh Hải, băng qua Tây Tạng theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia trước khi vào Việt Nam. Các quốc gia kể trên (trừ Trung Quốc) nằm trong Ủy ban sông Mê Kông. Đặc điểm thủy năng nổi bật của sông Mê Kông là vai trò điều lượng dòng nước bởi hồ Tonlé Sap - hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á - người Việt thường gọi là "Biển Hồ".


- Thượng nguồn Sông Mê Kông gồm hai nhánh: nhánh tây bắc và nhánh bắc, nhánh tây bắc được biết đến nhiều hơn, vị thế gần đèo Lungmug với chiều dài 87,75 km. Nhánh bắc chảy xuống từ rặng núi Guosongmucha. Nhánh này, từ độ cao 5.224 m, gồm hai nhánh phụ có chiều dài 91,12 km và 89,76 km. Đầu nguồn của dòng sông đến nay đã được xác định rõ qua những cuộc thám hiểm gần đây. Năm 1994, một phái đoàn Trung Quốc và Nhật Bản đã đến nguồn phía Bắc đồng lúc phái đoàn Pháp, do M. Peissel dẫn đầu, đến nguồn mạch phía tây với cùng một mục đích: chứng minh nguồn mạch chính của sông Mê Kông. Sau đó, những cuộc thám hiểm kế tiếp cho đến năm 1999 dưới sự hợp tác các nước Trung Hoa, Mỹ và Nhật Bản đã chính thức xác minh nguồn mạch sông Cửu Long thuộc nhánh bắc. Các con số về độ dài của sông dao động trong khoảng 4.200 km đến 4.850 km.


- Gần một nửa chiều dài con sông này chảy trên lãnh thổ Trung Quốc, đoạn đầu nguồn được gọi là  Trát Khúc, có nghĩa là "con sông cuộn sóng". Trát Khúc hợp lưu với một nhánh khác tên là Ngang Khúc  tạo ra Lan Thương Giang. Phần lớn đoạn sông này có các hẻm núi sâu, và con sông này rời Trung Quốc khi độ cao chỉ còn khoảng 500 m so với mực nước biển.


- Sau đó, đoạn sông Mê Kông dài khoảng 200 km tạo thành biên giới giữa hai nước Myanma và Lào. Tại điểm cuối của biên giới, con sông này hợp lưu với sông nhánh Ruak tại Tam giác vàng. Điểm này cũng là điểm phân chia phần Thượng và phần Hạ của Mê Kông.


- Sông Mê Kông sau đó tạo thành biên giới của Lào và Thái Lan, trước khi dòng chảy chạy vào đất Lào. Nó được người Lào và người Thái gọi với tên Mènam Khong (Mènam nghĩa là "sông"). Sử Việt Nam thì gọi là Sông Khung. Ngoài ra một nhánh nhỏ thượng lưu sông Mê Kông bắt nguồn từ Điện Biên, đó là sông Pa Thơm do sông Nậm Rốn ở thung lũng Mường Thanh và sông Nậm Lúa nhập làm một, khi sang đất Lào nó gặp nhánh sông Mê Kông ở BanChum. Khoảng sông ở Lào đặc trưng bởi các hẻm núi sâu, các dòng chảy xiết và những vũng nước sâu khoảng nửa mét vào mùa khô. Nó mở rộng ra ở phía nam Luang Prabang, ở đó nó có thể rộng tới 4 km và sâu tới 100 mét, mặc dù dòng chảy của nó vẫn rất trái ngược nhau.


- Con sông này sau đó lại làm biên giới của Lào và Thái Lan trong đoạn chảy qua Viêng Chăn, sau đó lại là một đoạn ngắn chảy trên đất Lào. Ở đoạn này có chi lưu chính hữu ngạn từ Thái Lan đổ vào: Mènam Mun dài 750 km. Nó bao gồm cả khu vực Si Phan Đôn (bốn ngàn đảo) phía trên thác Khone gần biên giới Campuchia. Thác nước này dài 15 km, cao 18 m khá hùng vĩ và gần như không thể vượt qua đối với giao thông bằng đường thủy.


- Tại Campuchia, con sông này có tên là sông Mékôngk hay Tông-lê Thơm (sông lớn). Vùng nước chảy xiết Sambor phía trên Kratie là cản trở giao thông cuối cùng. Ở phía trên Phnom Penh nó hợp lưu với Tông-lê Sáp, con sông nhánh chính của nó ở Campuchia. Vào mùa lũ, nước chảy ngược từ sông Mê Kông vào Tông-lê Sáp.


- Bắt đầu từ Phnôm Pênh, nó chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Ba Thắc (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220-250 km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông Cửu Long.


- Người châu Âu đầu tiên thám hiểm sông Mê Kông là người Bồ Đào Nha có tên là Antonio de Faria vào năm 1540; bản đồ của người châu Âu năm 1563 có vẽ lại con sông này, mặc dù chỉ có một đoạn nhỏ ở khu vực đồng bằng châu thổ.


- Vào lãnh thổ việt nam sông Tiền Giang và sông Hậu Giang chia thành 6 nhánh phụ đổ ra biển đông qua 9 cửa biển lần lượt từ bắc xuống nam: cửa Tiểu, của Đại, cửa Ba Lạt, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hẫu, cửa Định An, cửa Bassac và cửa Trần Đề. Vì vậy sông Mê Kong trên đất Việt Nam mang tên Cửu Long.


1. Sông Tiền: 

Sông Tiền hay Tiền Giang là tên của đoạn chảy trên lãnh thổ Việt Nam của dòng chính của sông Mê Kông. Đoạn đầu nguồn của sông Tiền Giang trên đất Campuchia kể từ Phnom Penh được gọi là Tonlé Bassac Thượng. Sông Tiền Giang chảy qua Tân Châu, Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang; Cao Lãnh, Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, đổ ra biển qua 6 cửa. Từ Vĩnh Long về hạ lưu, sông Tiền có bốn phân lưu và đổ ra biển Đông qua sáu cửa sông, tính từ phía bắc xuống là:


- Sông Mỹ Tho, chảy qua Mỹ Tho và phía Nam Gò Công, ra biển bằng cửa Tiểu và cửa Đại.


- Sông Ba Lai chảy qua phía Bắc tỉnh Bến Tre , đổ ra cửa Ba Lai.


- Sông Hàm Luông, chảy qua phía Nam tỉnh Bến Tre đổ ra cửa Hàm Luông.


- Sông Cổ Chiên, là ranh giới tỉnh Bến Tre và Trà Vinh, đổ ra biển bằng hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.


- Sông Cửa Tiểu, là một phân lưu của sông Tiền tách ra từ Sông Mỹ Tho, có chiều dài khoảng 45 km, chảy theo hướng Tây-Đông bắt đầu từ cù lao Tấu (cách cầu Rạch Miễu khoảng 14 km về phía hạ lưu của sông Tiền (Sông Mỹ Tho), chảy qua các huyện Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông của Tiền Giang và đổ vào biển Đông tại cửa Tiều, huyện Gò Công Đông.


2. Sông Hậu:

- Sông Hậu, hay Hậu Giang, đổ ra biển Đông qua cửa Tranh Đề và cửa Định An. Cửa Ba Thắc đã bị đất bồi từ khoảng thập niên 1970 nên không còn nữa.


- Trên lãnh thổ Việt Nam, sông Hậu Giang chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang; qua TP  Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng, làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng. Đoạn rộng nhất của con sông nay là giữa huyện Cầu Kè (Trà Vinh) và huyện Long Phú (Sóc Trăng) khoảng gần 4 km. Và đổ ra biển bằng 2 cửa chính là cửa Định An và cửa Trần Đề.


- Sông Tiền Giang và Hậu Giang được nối với nhau bằng hệ thống sông tự nhiên và kenh đào như: kênh Tân Châu, Châu Đốc, sông Vàm Nao, kênh Lấp Vò- Sa Đéc, kênh Chợ Lách, sông Măng Thít và rạch Trà Ôn.


- Hai hệ thống sông Cửu Long và Đồng Nai được nối với nhau bằng kênh Chợ Gạo.


3. Sông tại Serepôk (sông Đăk Krông):

- Serepôk (hay Srêpôk), tên gọi trong tiếng Campuchia là Tongle Xrepok, là dòng sông lớn nhất ở Đắk Lắk. Đây là một phụ lưu quan trọng của sông Mekong. Đoạn chảy trên địa phận Đăk Lăk được gọi là sông Đăk Krông. Tính từ chỗ hợp lưu của sông Krông Ana và sông Krông Nô tới chỗ hợp lưu với Sông Mê Kông dài 406 km, trong đó đoạn chảy trong lãnh thổ Việt Nam dài khoảng 126 km, đoạn chảy qua Campuchia dài khoảng 281 km.


- Sông được hình thành hoàn toàn trên địa phận Đăk Lăk và được hợp thành từ hai dòng sông nhỏ là sông Krông Ana và sông Krông Nô (sông Mẹ và sông Bố). Sông chảy qua các huyện Krông Ana, Buôn Đôn và Ea Súp của Đăk Lăk. Vừa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Serepôk được bổ sung thêm nguồn chảy dồi dào từ dòng sông Ea H'leo. Sông Serepôk nhập vào sông Mekong sát Stung Treng, tỉnh Stung Treng. Trước khi nhập vào, nó còn nhận nước từ sông Sesan và sông Sekong (hai sông này cũng có nguồn trên lãnh thổ Việt Nam).


- Sông Serepôk có nhiều thác ghềnh hùng vĩ còn tương đối hoang sơ như: thác Trinh Nữ, thác Đray Sáp, thác Đray Nu, thác Đray H'linh, thác Gia Long, thác Bảy Nhánh... là những điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch.


- Dòng sông này có lưu lượng nước rất lớn, hệ sinh thái của sông cũng rất phong phú và đa dạng, tạo nên một nguồn lợi to lớn về thủy sản và thủy điện. Ở đây có các loài cá đặc sản như cá lăng và đặc biệt là cá mõm trâu (loài cá nhiều người vẫn đinh ninh là cá anh vũ tiến vua). Serepôk là nguồn nước mặt quan trọng của Đắk Lắk.


- Cuối thế kỷ 19, khi đường bộ còn chưa phát triển, sông Serepôk là một trong những đường giao thương quan trọng trong vùng. Người Lào và Cao Miên thường đi thuyền ngược dòng sông để đến buôn bán, trao đổi hàng hóa với vùng cao nguyên Đắk Lắk của Việt Nam. Bản Đôn ngay từ ngày ấy đã trở thành một thương cảng sầm uất; nơi đây lúc ấy có thể ví như Hội An của Đà Nẵng hay Phố Hiến - Hưng Yên. Người Lào khi đến buôn bán đã định cư ở đây rất đông, góp phần xây dựng lên một Bản Đôn nổi tiếng với những bản sắc văn hóa đặc trưng như ngày nay.


4. Sông Sê San:

- Sông Sê San là chi lưu lớn của sông Mekong bắt nguồn từ Bắc và Trung Tây Nguyên rồi chảy sang lãnh thổ Campuchia và nhập vào sông Serepok gần Stung Treng.


- Sông Sê San có lưu vực rộng 17.000 km². Trên lãnh thổ Việt Nam, sông Sê San nằm trên hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum với tổng chiều dài sông chính là 237 km, diện tích lưu vực là 11.450 km². Sông Sê San có hai chi lưu là Krong Pô Kô ở phía hữu ngạn và Dak Bla phía tả ngạn. Trên lãnh thổ Campuchia, sông chảy qua tỉnh Ratanakiri và Stung Treng.


- Phần phía thượng lưu của sông nằm trong vùng đồi núi thấp, độ dốc địa hình trung bình. Trên phía Đông-Bắc của phần thượng lưu, sông tiếp giáp với vùng phân thuỷ giữa Đông và Tây của dải Trường sơn. Phần phía hạ lưu, thung lũng sông nằm trong các hẻm sâu của các dãy núi cao, độ dốc địa hình khá lớn.


5. Sông Pô Kô: 

Sông Pô Kô ở phía tây tỉnh Kon Tum, nó là một phụ lưu của sông Sê San. Sông Pô Kô bắt nguồn từ vùng núi ở huyện Đắk Glei, chảy qua huyện Ngọc Hồi, huyện Đắk Tô và làm thành ranh giới tự nhiên giữa Đắk Tô với Đắk Hà, giữa Sa Thầy với Đắk Hà, giữa Sa Thầy với thành phố Kon Tum rồi hợp với sông Dak Bla tạo thành sông Sê San.
Trên địa phận huyện Đắk Glei, sông còn có tên Đak Pô Kô, và đoạn gần chỗ hợp lưu với Dak Bla, sông còn có tên krong Pô Kô.Trên sông Pô Kô có công trình thủy điện Plei Krông.


6. Sông Đắk Bla:

- Sông Đắk Bla nổi tiếng khắp Tây Nguyên vì chảy ngược lên hướng Tây.Nếu như nhiều dòng sông khác ở Việt Nam bắt nguồn từ Trường Sơn chảy về biển Đông thì sông Đắk Bla lại theo hướng Tây Trường Sơn, lẻ loi một mình, trượt dài 100km, từ địa phận huyện Kon Plong ở phía Tây tỉnh Kon Tum về thị xã, rồi lượn sang hướng Tây-Tây Nam hợp với con sông Krông Pô Kô từ hướng bắc đổ xuống thành con sông lớn Sê Sang hùng vĩ.


- Trước đây người dân Kon Tum quen gọi là Đắk Bla - Ya Ly và sau này gọi là sông Sê San. Đắk Bla chảy sang Campuchia rồi hòa cùng dòng Mê Kông. Đắk Bla gắn liền với nhiều huyền thoại của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống dọc triền sông. Đắk Bla còn là dòng sông có loài cá quý, bao đời dùng để "tiến vua", mang tên Anh Vũ...


7. Sông Hàm Luông: 

Là một phân lưu của sông Tiền chảy qua tỉnh Bến Tre.Sông bắt đầu từ địa phận xã Tân Phú-Châu Thành, chảy qua địa phận các huyện như Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày, thị xã Bến Tre, Giồng Trôm, Thạnh Phú, Ba Tri đổ ra biển Đông tại cửa Hàm Luông. Sông có chiều dài khoảng 70 km, giữa sông có các cù lao lớn như cù lao Đất, cù lao Linh, cù lao Ốc


8. Sông Cổ Chiên:

- Sông Cổ Chiên là một phân lưu của sông Tiền , chảy qua các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.


- Sông bắt đầu từ thành phố Vĩnh Long ,đổ ra biển Đông qua 2 cửa sông là cửa Cung Hầu và cửa Cổ Chiên. Cửa Cổ Chiên ở phía tỉnh Bến Tre và cửa Cung Hầu ở phía Trà Vinh. Con sông này có chiều dài khoảng 82 km, là ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Vĩnh Long với Bến Tre, Trà Vinh với Bến Tre.


9. Sông Vàm Nao:

- Sông Vàm Nao, hay Vàm Lao, Vàm Giao hay Vàm Giao Giang và tên Khmer là Pãm pênk Nàv, là  dòng sông tại tỉnh An Giang, dài 6,5 km, rộng bình quân 700m, độ sâu trên 17m, một bờ thuộc xã Kiến An (huyện Chợ Mới), một bờ thuộc xã Tân Trung (huyện Phú Tân), nối sông Tiền với sông Hậu. Vàm Nao có vai trò quan trọng đối với đồng bằng sông Cửu Long về thủy lợi và giao thông vận tải. Vàm Nao còn nổi tiếng vì là nơi xảy ra trận thủy chiến khốc liệt giữa quân Việt và quân Xiêm vào cuối năm 1833, và còn vì các đặc sản như cá hô, cá bông lau...


- Tên Vàm Nao, với nghĩa "nao núng, nao lòng",xưa kia hàng năm vào khoảng tháng 7 cho đến tháng 10 âm lịch (mùa nước nổi), nước sông đỏ ngầu từ thượng nguồn, theo hai nhánh sông Tiền, sông Hậu cùng cuồn cuộn đổ về, rồi giao nhau nên xoáy tròn như thác lũ... Do đó, người chưa quen cách chèo lái khi qua khúc sông này, thường sợ hãi vì rất dễ đắm thuyển. Về sau triều đình Huế cho Hán hóa tên Vàm Nao và muốn cho nó nên thơ và đừng nao nữa, nên ban cho nó cái tên Thuận Giang hay Thuận Cảng.


- Trận thủy chiến Vàm Nao 1833:

+ Vào năm Quý Tỵ (1833), theo lời cầu viện của Lê Văn Khôi, vua Xiêm sai tướng Chiêm Phi Nhã Chất Tri và Chiêu Phi Nhã Phật Lăng đem 20 vạn quân cùng với 350 chiến thuyền, chia làm 5 đạo, bằng nhiều hướng đánh vào một số tỉnh ở miền Trung, Châu Đốc và Hà Tiên. Quân Xiêm theo đường kênh Vĩnh Tế chiếm Châu Đốc. Quân Việt đành phải rút về Đông Khẩu (Sa Đéc) để bảo toàn lực lượng. Trước tình hình nguy ngập này, Tướng Giảng và tướng Nguyễn Xuân tức tốc chiếm giữ Vàm Nao và cho người cấp báo về Huế xin viện binh.

+ Ở Châu Đốc, sau khi chuẩn bị xong, thủy quân Xiêm tiến xuống sông Vàm Nao. Chiều ngày mùng 4 tháng Chạp năm 1833, lợi dụng rừng rậm um tùm hai bên bờ sông, quân ta chiếm đóng và sẳn sàng ứng chiến. Đúng canh tư, quân ta bất ngờ đánh úp quân giặc. Với sự giúp sức của các tướng sĩ ở Vĩnh Long, Định Tường và Gia Định, chẳng bao lâu, thì đẩy lùi được quân Xiêm. Mười lăm chiến thuyền giặc bị nhấn chìm, ta thu được nhiều súng ống và đạn dược..


10. Sông Châu Đốc:

- Sông Châu Đốc là một con sông nhỏ thuộc tỉnh An Giang. Sông được bắt nguồn từ sông TaKeo, Campuchia, chảy vào An Giang tại xã Đa Phước, huyện An Phú. Từ đây sông chảy theo hướng đông-nam đến và giao nhau với sông Hậu tại ngã ba sông Châu Đốc-sông Hậu ở trung tâm thị xã Châu Đốc, đây cũng là nơi bắt nguồn của kênh Vĩnh Tế theo hướng tây nam đổ ra vịnh Thái Lan. Sông có chiều dài khoảng 15km, là đường thủy thuận lợi giữa tỉnh An Giang và tỉnh Takeo, Campuchia.


- Sông Tiền Giang và Hậu Giang được nối với nhau bằng hệ thống sông tự nhiên và kenh, đào như: kênh tân châu, châu đốc, sông vàm nao, kenh lấp vò - sa đéc, kênh chợ lách, sông măng thít và rạch trà ôn. Hai hệ thống sông cửu long và đồng nai được nối với nhau bằng kênh chợ gạo.


B. CÁC SÔNG THEO ĐỊA DANH:


I. Sông tại các tỉnh vùng Đông - Bắc:


1. Tại Lạng Sơn:

- Sông Ba Thín, Sông Bắc Giang, Sông Chũ, Sông Kỳ Cùng thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang.


- Sông Lục Nam, Sông Bắc Khê, Sông Thương thuộc hệ thống Sông Thái Bình.


2. Tại Cao Bằng:

- Các sông: Sông Gâm, Sông Nho Quế, thuộc hệ thống Sông Hồng.


- Sông Bằng thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng - Bằng Giang.


- Sông Quây Sơn.


3. Tại Hà Giang: 

Sông Chảy, Sông Gâm, Sông Lô, Sông Nho Quế đều thuộc hệ thống Sông Hồng.


4. Tại Tuyên Quang: Sông Gâm, Sông Lô, Sông Phó Đáy đều thuộc hệ thống Sông Hồng.


5. Tại Phú Thọ:

Sông Thao, Sông Chảy, Sông Lô, Sông Đà đều thuộc hệ thống Sông Hồng.


6. Tại Vĩnh Phúc:

- Sông Hồng,Sông Phó Đáy thuộc hệ thống Sông Hồng.


- Sông Cà Lồ thuộc hệ thống Sông Thái Bình.


7. Tại Bắc Kạn:

- Sông Phó Đáy  thuộc hệ thống Sông Hồng;


- Sông Bắc Giang, Sông Cầu  thuộc hệ thống Sông Thái Bình.


8. Tại Thái Nguyên:

Sông Cầu, Sông Công, Sông Sỏi đều thuộc hệ thống Sông Thái Bình.


9. Tại Bắc Giang: Sông Chũ, Sông Cầu, Sông Lục Nam, Sông Thương thuộc hệ thống Sông Thái Bình.


10. Tại Bắc Ninh: 

Sông Cà Lồ, Sông Cầu, Sông Thái Bình, Sông Đuống thuộc hệ thống Sông Thái Bình.


11. Tại Quảng Ninh: 

Sông Bạch Đằng, Sông Chanh thuộc Hệ thống Sông Thái Bình.


12. Các sông khác tại Cao Bằng:


12.1. Sông Quây Sơn bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy về hướng biên giới hai nước rồi vào lãnh thổ Việt Nam tại Pò Peo thuộc xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh. Từ xã Ngọc Khê, sông chảy qua các xã Đình Phong, Chí Viễn, khi đến xã Đàm Thuỷ, dòng sông lượn quanh dưới chân núi Cô Muông rồi qua các cánh đồng của Đàm Thuỷ, qua bãi ngô trên bản Giốc, quay trở lại đường biên giới rồi tách ra thành nhiều nhánh, đột ngột hạ thấp xuống khoảng 35 m, tạo thành thác Bản Giốc. Sau khi xuống đáy thác, sông quay hẳn vào lãnh thổ Trung Quốc.


12.2. Thác Bản Giốc, (tiếng Trung Quốc gọi là cặp thác Đức Thiên - Bản Ước, la tinh hóa là Detian), là một thác nước nằm trên biên giới Việt Nam và Trung Quốc; phần thác bên trái và nửa phía Nam của thác bên phải thuộc chủ quyền của Việt Nam tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; nửa phía Bắc của thác chính thuộc chủ quyền của Trung Quốc tại tỉnh Quảng Tây. Thác nước này cách huyện lỵ Trùng Khánh khoảng 20 km về phía đông bắc.


- Thác Bản Giốc là thác nước lớn thứ tư thế giới trong các thác nước nằm trên một đường biên giới giữa các quốc gia (Sau thác Iguazu giữa Brasil - Argentina, thác Victoria nằm giữa Zambia - Zimbabwe; và thác Niagara giữa Canada và Hoa Kỳ).


- Thác Bản Giốc hiện nay là thắng cảnh du lịch, và đã được bình chọn là "Thác nước đẹp nhất Trung Quốc" trong hoạt động bình chọn "Nơi đẹp nhất Trung Quốc" do tạp chí "Địa lý quốc gia Trung Quốc" tổ chức vào tháng 10 năm 2005. Thác Bản Giốc cũng đã đi vào nghệ thuật tạo hình với những tác phẩm hội họa và nhiếp ảnh đặc sắc. Ngoài giá trị du lịch và nghệ thuật, thác cũng có tiềm năng thủy điện.


- Giữa thác có một mô đất rộng phủ đầy cây, xẻ dòng sông thành ba luồng nước. Vào những ngày nắng, làn hơi nước bắn ra từ thác tạo thành cầu vồng. Dưới chân thác là mặt sông rộng, với bên bờ là những thảm cỏ và vạt rừng. Cách thác khoảng hơn 5km có động Ngườm Ngao, dài 3 km. Thác Bản Giốc được chia thành hai phần, phần ở phía Nam gọi là thác Cao. Đây là thác phụ vì lượng nước không lớn. Thác thấp là thác chính nằm ở phía Bắc.


- Ở giữa thác chính là cột mốc biên giới Việt-Trung. Cột mốc này được xác định qua hiệp ước về biên giới giữa hai nước năm 1999 là cột mốc 53 do Pháp - Thanh xây dựng. Theo hiệp ước 1999, phần thác phụ hoàn toàn thuộc về Việt Nam, phần thác chính chia đôi.


13. Các sông khác tại Quảng Ninh:


13.1. Sông Ka Long (Sông Móng Cái):

- Sông Ka Long hay sông Bắc Luân( hay Bắc Luân hà) là một con sông tại tại khu vực biên giới giữa thành phố Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam) và huyện cấp thị Đông Hưng (Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc).Khu vực cửa sông Bắc Luân năm 1888. Công ước năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh lấy cửa sông này làm đường biên giới.


- Sông này bắt nguồn từ khu vực Thập Vạn Đại Sơn của Phòng Thành, Trung Hoa, chảy theo hướng đông nam tới Đông Hưng và đi dọc theo biên giới Đông Hưng - Móng Cái bên bờ nam là thị xã Móng Cái của Việt Nam, bờ bắc là huyện cấp thị Đông Hưng của Trung Quốc. Đi đến địa phận phường Ka Long (Móng Cái), sông chia thành 2 nhánh; 1 nhánh chảy theo hướng nam xuyên qua thành phố Móng Cái,đổ ra biển ở chỗ giáp ranh giữa xã Hải Xuân và xã Vạn Ninh; 1 nhánh tiếp tục đi dọc theo biên giới rồi vào vịnh Bắc Bộ tại cửa Bắc Luân phía đông bắc phường Hải Hòa.


- Bắc qua nhánh chảy trong thành phố Móng Cái có 2 cầu là cầu Ka Long và cầu Hòa Bình. Bắc qua nhánh chảy qua biên giới hiện có cầu Bắc Luân nối hai cửa khẩu quốc tế Móng Cái của Việt Nam và cửa khẩu Bắc Luân của Trung Quốc.


- Sông có tổng chiều dài 109 km, trong đó đoạn tạo thành biên giới Việt Nam-Trung Quốc là 60 km.


13.2. Sông Ba Chẽ: 

Sông Ba Chẽ là một trong những con sông lớn tại tỉnh Quảng Ninh. Sông được bắt nguồn từ huyện Hoành Bồ, chảy sang huyện Ba Chẽ, qua thị trấn Ba Chẽ đổ ra biển. Sông có chiều dài khoảng 80km, đoạn thượng lưu dốc, nhiều ghềnh thác. Từ thị trấn Ba Chẽ ra biển lòng sông rộng dần.


13.3. Sông Tiên Yên:  Sông Tiên Yên Bắt nguồn từ tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, chảy vào Quảng Ninh tại địa phận xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Từ Hoành Mô, sông chảy ngoằn ngoèo theo hướng nam, qua huyện Tiên Yên đến thị trấn Tiên Yên đổi hướng đông nam đổ ra biển tại cửa Mô. Sông có tổng chiều dài khoảng 60km, trong đó đoạn chảy qua Tiên Yên có chiều dài khoảng 31km.


13.4. Sông Sinh.


13.5. Sông Uông.


II. CÁC SÔNG TẠI CÁC TỈNH VÙNG TÂY - BẮC:


1. Tại Lai Châu: 

Có Sông Đà, Sông Nậm Thi thuộc Hệ thống Sông Hồng.


2. Tại Lào Cai: 

Có Sông Hồng, Sông Chảy, Sông Nậm Thi đều thuộc hệ thống Sông Hồng.


3. Tại Yên Bái: Có Sông Hồng, Sông Chảy đều thuộc thuộc hệ thống Sông Hồng.


4. Tại Điện Biên:

- Sông Mã thuộc hệ thống sông Mã.


- Sông Đà thuộc hệ thống sông Hồng.


5. Tại Sơn La:

- Sông Mã thuộc hệ thống sông Mã.


- Sông Đà thuộc hệ thống sông Hồng.


6. Tại Hòa Bình:


- Sông Bôi, Sông Đà thuộc hệ thống sông Hồng.


- Sông Bưởi thuộc hệ thống sông Mã.


III. CÁC SÔNG THUỘC CÁC TỈNH VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ:


1. Tại Ninh Bình: 

Ninh Bình là một tỉnh có địa hình khá phức tạp, đa dạng, có thể phân thành ba vùng: Vùng đồi núi, vùng đồng bằng và vùng đồng bằng ven biển. Ninh Bình có rất nhiều sông, suối và kênh rạch. Tổng chiều dài sông suối trong tỉnh là 811 km.


- Sông Đáy, Sông Bôi, Sông Càn, Sông Hoàng Long, Sông Vạc,Sông Vân thuộc Hệ thống Sông Hồng.


- Các sông khác tại Ninh Bình: Sông Nhà Lê, Sông Sào Khê, Sông Ngô Đồng.


1.1. Sông Ngô Đồng:

Sông Ngô Đồng là một con sông nhỏ tại xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình,là một chi lưu của sông Sào Khê (là sông nối sông Hoàng Long với sông Vạc). Sông Ngô Đồng chảy từ vùng đầm trũng của hệ thống núi đá vôi Tràng An, len qua các vách núi và cánh đồng lúa rồi đổ nước vào hệ thống sông Vạc tại gần cầu Vũng Trắm. Trên sông có danh thắng Tam Cốc, đền Thái Vi.


1.2. Sông Sào Khê:


- Sông Sào Khê là con sông chảy qua khu di tích cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Đây là một con sông được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Sông Sào Khê hiện được xây kè, nạo vét dòng chảy, tôn tạo cảnh quan để trở thành tuyến du lịch đường sông vào cố đô Hoa Lư.


- Sông Sào Khê chảy theo hướng chính Bắc Nam và ngược lại tùy theo mùa. Điểm khởi đầu phía bắc bắt đầu từ sông Hoàng Long tại cống Trường Yên, xuyên dọc kinh đô Hoa Lư rồi cùng với sông Chanh nối với sông Vân, sông Vạc tại cầu Vân trên quốc lộ 1A. Tổng chiều dài sông khoảng 14 km, bề rộng lòng sông dao động từ 20 m đến 141 m. Trên sông còn có các di tích khác như cầu Đông, cầu Dền, Ghềnh Tháp - phủ Vườn Thiên. Sông Sào Khê được công nhận là di tích lịch sử gắn với kinh đô Hoa Lư và sự kiện dời đô về Thăng Long bằng đường thủy.


2. Tại Hà Nam:

Sông Nhuệ, Sông Phủ Lý, Sông Đáy thuộc hệ thống sông Hồng.


3. Tại Hà Nội:

- Sông Đuống, Sông Cà Lồ, Sông Công thuộc hệ thống sông Thái Bình.


- Sông Hồng, Sông Đà, Sông đáy, Sông Nhuệ thuộc hệ thống sông Hồng.


- Các sông khác.

3.1. Sông Tô Lịch:

- Sông Tô Lịch chảy trong địa phận Hà Nội, dòng chính sông Tô Lịch khi chảy qua các quận huyện: Thanh Xuân, Hoàng Mai và Thanh Trì còn được gọi là Kim Giang. Tên sông Tô Lịch tương truyền lấy từ tên một vị thần sống vào thời nhà Tấn đô hộ xứ Giao Chỉ. Đến thời nhà Đường, nơi đây là vị trí xây dựng thành Đại La.


- Tô Lịch vốn là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ sông Hồng sang sông Nhuệ. Đoạn sông từ phố Cầu Gỗ đến đường Bưởi, nay đã bị lấp, chỉ còn lại một vài dấu tích như ở Thụy Khuê. Và do đó, Tô Lịch không còn thông với sông Hồng nữa. Dòng chảy của đoạn sông đã bị lấp này theo lộ trình sau: từ Cầu Gỗ ngược lên (cống chéo) Hàng Lược, men theo đường Phan Đình Phùng (phía ngoài mặt bắc thành Hà Nội), rồi chảy dọc theo hai phố Thụy Khuê và Hoàng Hoa Thám ngày nay ra đến đường Bưởi (gặp đoạn sông Tô Lịch ngày nay).


- Sông Tô Lịch ngày nay bắt đầu từ cầu Giấy, chảy cùng hướng với đường Láng và đường Kim Giang về phía Nam tới sông Nhuệ.


- Sông Tô Lịch là một sông cổ của Thăng Long. Ngày trước, hai bên bờ sông buôn bán tấp nập. Từ khi bị lấp, sông chỉ là một dòng thoát nước thải của thành phố.


3.2. Sông Kim Ngưu:

- Sông Kim Ngưu là một dòng sông tại Hà Nội. Kim Ngưu (chữ Hán Việt) có nghĩa là Trâu Vàng. Theo truyện cổ dân gian, Trâu Vàng ở bên Tàu khi nghe thấy tiếng chuông đồng đen của thiền sư Nguyễn Minh Không ở nước Nam thì tưởng là tiếng trâu mẹ gọi liền chạy sang. Đường nó chạy lún xuống thành sông Kim Ngưu. Đến phía Tây thành Thăng Long thì tiếng chuông dứt, Trâu Vàng liền xới đất tung lên để tìm mẹ làm đất chỗ đó thụt xuống, thành hồ Kim Ngưu, tức Hồ Tây.


- Sông Kim Ngưu cổ, theo Trần Quốc Vượng, là một phân lưu của sông Tô Lịch. Nó lấy nước từ Tô Lịch ở ô Cầu Giấy, chảy theo hướng Tây-Đông tới Đội Cấn và lại lấy nước từ Tô Lịch khi tới ô Thụy Chương (Thụy Khê), chảy theo hướng Bắc-Nam (đoạn này còn gọi là sông Ngọc Hà), chảy qua Ngọc Khánh, Giảng Võ, Hào Nam, ô Chợ Dừa, Xã Đàn, Kim Liên, ô Cầu Dền, ô Đông Mác, Yên Sở, rồi hợp lưu trở lại ở Văn Điển. Đến lượt mình, Kim Ngưu lại có các phân lưu là sông Trung Liệt (tách ra tại Hào Nam), sông Sét và sông Lừ (đều tách khỏi Kim Ngưu tại khu vực Kim Liên, Phương Liệt).


- Sông Kim Ngưu xưa là một tuyến giao thông đường thủy, nay chỉ có chức năng là một sông thoát nước cho nội thành Hà Nội.


3.3. Sông Lừ:

- Sông Lừ là một dòng sông tại Hà Nội.


- Sông Lừ cổ là một phân lưu của sông Kim Ngưu (và Kim Ngưu đến lượt nó lại là một phân lưu của sông Tô Lịch), tách khỏi Kim Ngưu ở Phương Liệt và chảy về phía Nam Thanh Trì và hợp lưu với Tô Lịch. Tuy nhiên, do sông Kim Ngưu có nhiều đoạn bị lấp, nên đoạn Kim Ngưu còn sót từ Nam Đồng tới Phương Liệt ngày nay cũng được coi là sông Lừ. Mặt khác, khi thực hiện dự án cải tạo hệ thống thoát nước ở Hà Nội vào cuối thập niên 1990 đầu thập niên 2000, người ta đã nắn dòng cho phần lớn lượng nước sông Lừ đổ vào sông Sét rồi vào hồ điều hòa Yên Sở.


- Sông Lừ ngày nay dài khoảng 10 km, lòng sông rộng từ 10 đến 20 m, chảy qua địa bàn các phường Nam Đồng, Trung Tự, Kim Liên, Khương Thượng, Phương Mai, Phương Liên (quận Đống Đa). Đến Phương Liên, sông Lừ chia làm hai, một rẽ sang phía Đông tời Giáp Bát và hội lưu với sông Sét, một chảy tiếp về phía Nam qua Định Công và hội lưu với sông Tô Lịch tại phía Bắc khu đô thị Linh Đàm gần cầu Dậu, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai. Nhánh hội lưu với Tô Lịch càng gần đến chỗ hội lưu thì dòng chảy càng thu hẹp lại.


3.4. Sông Sét:

- Sông Sét cổ là một phân lưu của sông Kim Ngưu. Nó tách khỏi Kim Ngưu ở Phương Liệt. Tại chỗ sông Sét tách ra, Kim Ngưu đổi hướng chảy lên phía Bắc tới khu vực hồ Bảy Mẫu và đầm Kim Liên, còn sông Sét chảy về phía Nam. Tuy nhiên, do bồi, lấp, sông Kim Ngưu tại Phương Liệt bị đứt quãng khiến cho đoạn Kim Ngưu ngược lên phía Bắc bị tách riêng ra. Sông Sét ngày nay bao gồm cả đoạn sông Kim Ngưu đó. Nó chảy trong địa phận các quận Hai Bà Trưng và Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.


- Sông Sét dài hơn 3,6 km, bắt nguồn từ hồ Bảy Mẫu trong Công viên Thống Nhất (quận Hai Bà Trưng), chảy theo hướng Bắc-Nam và đổ vào hồ Yên Sở (quận Hoàng Mai). Khi đi qua Giáp Bát, nó nhận nước từ một phân lưu của sông Lừ từ Phương Liên chảy sang. Sông Sét suốt nhiều năm bị bùn bồi lắng và bị các công trình xây dựng lấn bờ, nên bề rộng và độ sâu của sông đã giảm đáng kể. Nhiều nơi, sông chỉ rộng chừng 5 m. Độ sâu trung bình của sông chỉ hơn 1 m.


3.5. Sông Tích: 

Sông Tích còn gọi là sông Tích Giang hay sông Con (khi so sánh với sông Hồng-sông Cái), là phụ lưu cấp I của sông Đáy, thuộc hệ thống sông Hồng, bắt nguồn từ dãy núi Ba Vì, đầu nguồn là các hồ Suối Hai, Đồng Mô. Sông Tích chảy qua các huyện của tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc địa bàn Hà Nội, là: Ba Vì, Sơn Tây, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ và Mỹ Đức. Sông Tích nhận nước từ sông Bùi tại vị trí cầu Tân Trương trên quốc lộ 6 thuộc địa bàn huyện Chương Mỹ, và đổ nước vào sông Đáy tại xã Phúc Lâm huyện Mỹ Đức. Dọc hai bên bờ sông Tích có nhiều địa điểm du lịch văn hóa lịch sử: khu du lịch nghỉ dưỡng hồ Suối Hai, làng cổ Đường Lâm, đền Và, trại tù Sơn Tây, thành cổ Sơn Tây, khu du lịch Đồng Mô - Ngải Sơn, Ao Vua. Chiều dài dòng chính của sông Tích là 91 km (tổng chiều dài toàn lưu vực sông Tích là 110 km), diện tích lưu vực 1330km2. Trên lưu vực sông Tích, có các hồ Đồng Mô - Ngải Sơn (rộng 1.260 ha), hồ Suối Hai (671 ha), hồ Xuân Khanh (104 ha) góp nước cho con sông này.


4. Tại Hưng Yên

- Sông Hồng, Sông Luộc, Sông Sặt đều thuộc hệ thống sông Hồng.


- Sông khác tại Hưng Yên: Sông Cửu An.


4.1. Sông Sặt:

- Sông Sặt (hay sông Kẻ Sặt) là một con sông chảy ở phía Đông của tỉnh Hưng Yên, sông nối giữa sông Sinh (Hải Dương) vào khúc cuối của sông Cửu An, có chiều dài 35 km. Đoạn chảy ở Hưng Yên có chiều dài trên 20km, từ Thịnh Vạn (Mỹ Hào) đến Tòng Hóa (Phù Cừ).


- Sông này chảy song song với sông Hồng, tạo thành địa giới tự nhiên phía Đông của tỉnh Hưng Yên, làm cho Hưng Yên có ba mặt đều là sông.


4.2. Sông Cửu An:

- Sông Cửu An là con sông nhỏ nằm trong hệ thống thủy nông Bắc-Hưng-Hải, thuộc địa phận tỉnh Hải Dương, một phần chảy theo ranh giới giữa Hải Dương và vùng phía đông tỉnh Hưng Yên. Sông Cửu An vốn là một phân lưu của sông Hồng, chảy về phía đông, về sau bị vùi lấp ở phần cửa sông.


- Sông còn được gọi là sông Cửu Yên, sông Si, sông Ba Đông, sông Bằng Ngang.


- Hiện nay, sông Cửu An chảy từ Nghi Xuyên đến ngã ba Tòng Hóa (Phù Cừ), tổng chiều dài 23,5 km. Mặc dù sông Cửu An không lớn nhưng lại đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp tại những vùng sông chảy qua.


- Năm 2004, các nhà khảo cổ học tìm thấy thêm một ngôi mộ thuyền thuộc Văn hóa Đông Sơn với niên đại khoảng 2500 năm ở bên triền sông Cửu An, thuộc thôn Động Xá, xã Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.


5. Tại Hải Dương: 

Sông Thương, Sông Cấm, Sông Kinh Môn, Sông Kinh Thầy, Sông Lai Vu, Sông Luộc, Sông Rạng, Sông Văn Úc thuộc hệ thống Sông Thái Bình.


6. Tại Hải Phòng: 

Các sông tại Hải Phòng gồm Sông Bạch Đằng, Sông Cấm, Sông Hóa, Sông Kinh Môn, Sông Luộc, Sông Lạch Tray, Sông Thái Bình đều thuộc Hệ thống Sông Thái Bình.


7. Tại Nam Định:

Sông Ninh Cơ, Sông Nam Định, Sông Vị Hoàng, Sông Đáy đều thuộc Hệ thống Sông Hồng.


8. Tại Thái Bình :

- Sông Hồng, Sông Trà Lý, Sông Bo, Sông Diêm Hộ thuộc hệ thống Sông Hồng.

- Sông Thái Bình, Sông Hóa, Sông Luộc thuộc hệ thống Sông Thái Bình


IV. CÁC SÔNG THUỘC VÙNG THANH - NGHỆ - TĨNH:

1. Tại Thanh Hóa:
- Sông Càn thuộc hệ thống Sông Hồng.

- Sông Mã, Sông Bưởi, Sông Chu, Sông Cầu Chày, Sông Lèn thuộc hệ thống Sông Mã.

- Các sông khác tại Thanh Hoá: Sông Nhà Lê, Sông Yên (Thanh Hóa).

1.1. Sông Nhà Lê:
- Sông Nhà Lê (hay Kênh Nhà Lê) là một hệ thống gồm nhiều sông nhân tạo, chúng được đào mới hoặc khơi vét từ các triều đại phong kiến nhà Tiền Lê, Hậu Lê và trong kháng chiến chống Mỹ,nối từ Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghệ An và Hà Tĩnh.

- Hệ thống các tuyến sông này hiện vẫn được gọi là sông Nhà Lê.Kênh Nhà Lê có tổng chiều dài 500 km hiện mang nhiều tên địa phương như:

+ Kênh Nhà Lê ở Ninh Bình được gọi là sông Bút, sông Cái Cách.

+ Kênh Nhà Lê ở Nghệ An gồm các dòng sau: Kênh Mơ - nối liền sông Hoàng Mai và sông Thơi. Kênh Dâu - nối sông Thơi với sông Hàu. Kênh Mi Giang - nối sông Thơi với sông Bùng. Kênh Sắt - nối sông Bùng với sông Cấm. Kênh Gai - Kênh Chính Đích - sông Vinh nối sông Cấm với sông Lam.

- Trước thế kỷ X đường bộ Thanh Hóa đã hình thành để nối liền với Bắc Bộ, nhưng nó chưa đóng vai trò quan trọng, hệ thống giao thông thuỷ từ trung tâm của quận Giao Chỉ đến quận Cửu Chân - Châu Ái vẫn đóng vai trò quan trọng nhất. Từ sông Hồng vào sông Phủ Lý rồi sông Đáy, sông Vân Sàng vùng Ninh Bình đến cửa Thần Phù vào Thanh Hoá.

- Năm 981, Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, kinh đô vẫn tiếp tục đóng ở Hoa Lư. Lê Đại Hành thi hành nhiều biện pháp tích cực để thúc đẩy kinh tế,củng cố quốc phòng và phát triển, với sự kiện mùa xuân 987, vua lần đầu tiên cày ruộng tịch điền ở Đọi Sơn. Một công trình kết hợp để phát triển kinh tế với quốc phòng là: Công trình đào sông từ Đồng Cổ đến Bà Hoà.

- Đồng Cổ nằm ở hữu ngạn sông Mã (Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hoá). Sông Bà Hoà ở phía cực nam tỉnh Thanh Hoá (xã Tân Trường, Tĩnh Gia), giáp huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đổ ra cửa Lạch Bạng. Như vậy, Lê Đại Hành đã cho tiến hành đào sông nối sông Mã ở bắc Thanh Hoá với sông Bà Hoà ở nam Thanh Hoá- bắc Nghệ An. Lê Hoàn đã tận dụng những chi lưu nhỏ của các sông Mã, sông Cầu Chày, sông Chu, sông Hoàng, sông Yên... khơi sâu, nắn thẳng và đào một số đoạn cần thiết để hình thành một tuyến giao thông thuỷ nội địa thuận tiện từ bắc đến nam Thanh Hoá. Đây là con đường giao thông thuỷ nội địa đầu tiên của Việt Nam. Con đường đó đã đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc và mở mang bờ cõi phía nam và còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Thanh Hoá trong suốt tiến trình đi lên của lịch sử dân tộc.

- Năm “Quý Mão (1003), mười năm sau khi đào sông từ Đồng Cổ đến Bà Hoà, Lê Đại Hành đi Hoan Châu (Nghệ An) sai đào kênh Đa Cái”. Đó là tuyến nối kênh Sắt ở bắc Nghệ An với sông Lam. Như vậy, từ vùng sông Mã (Thanh Hoá) đến vùng sông Lam (Nghệ An) ngoài tuyến đường bộ và đường biển có một tuyến đường thuỷ nội địa an toàn, thuận tiện.

- Những con kênh đào đó đã góp công không nhỏ giúp cho Lê Đại Hành, Lê Long Đĩnh ra quân dẹp các cuộc nổi dậy ở Thanh Hoá trong các năm 999, 1001, 1005. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, những dòng sông đào từ Yên Mô - Nga Sơn đến Tĩnh Gia lại trở thành tuyến vận chuyển nhân tài vật lực của cả miền bắc vào miền Nam. Chính vì vậy mà các sông đào trên đất Thanh Hoá có từ thời Lê Đại Hành luôn được nạo vét, tu bổ.

- Lê Đại Hành là vị vua đầu tiên của nhà nước độc lập tự chủ tổ chức đào sông. Sự nghiệp mở đầu vĩ đại đó của thời Tiền Lê đã trở thành phương châm hành động của các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn sau này:

+ Năm 1438, Lê Thái Tông tiếp tục cho đào các kênh ở Thanh Hoá và Ninh Bình.

+ Năm 1445, Lê Nhân Tông sai các quan đốc thúc quân lính đào các kênh ở lộ Thanh Hoá và Nghệ An. -Năm 1744, vua Lê Hiển Tông tiếp tục cho khơi kênh từ Thanh Hoá vào Nghệ An.

1.2. Sông Yên (Thanh Hóa):

- Sông Yên (còn gọi là sông Mực) là một trong những dòng sông lớn ở tỉnh Thanh Hóa. Sông bắt nguồn từ Bình Lương (huyện Như Xuân) chảy qua các huyện Như Thanh, Nông Cống, Quảng Xương và đổ ra biển Đông tại cửa Lạch Ghép ở giữa hai huyện Quảng Xương và Tĩnh Gia. Sông dài 94,2 km, trong đó có 50 km chảy qua vùng rừng núi và hơn 40 km chảy qua vùng đồng bằng. Diện tích lưu vực sông Yên là 1.996 km² .Sông Yên có 4 chi lưu chính là:

- Sông Nhơm (dài 66,9 km), sông Hoàng (81 km), sông Thị Long (50,4 km), và sông Lý. 

- Trong bốn chi lưu của sông Yên thì sông Lý là một trong những công trình thủy lợi được đào từ cuối đời Lê và đầu đời Nguyễn nhằm cung cấp một nguồn nước đầy đủ cho hoạt động sản xuất của người dân vùng đồng bằng hạ lưu của sông Yên. Người ta còn gọi đoạn hạ lưu của con sông này là Sông Ghép, gắn liền với chiếc cầu Ghép nối liền hai thôn Nam Châu (Xã Hải Châu) của huyện Tĩnh Gia và hai xã Ngọc Trà và Quảng Trung của Huyện Quảng Xương trên tuyến quốc lộ 1A, nơi đã từng chứng kiến những đợt bom của đế quốc Mỹ trong hai lần mở rộng phá hoại miền Bắc nước ta. Tại đoạn chuẩn bị đổ ra biển Đông ở Lạch Ghép, giữa dòng sông trước đây còn lưu giữ hai xác máy bay của Mỹ bị bắn rơi tại đây. Chỗ đó ngày nay dòng sông tạo thành một vùng cù lao chia đôi dòng sông Yên trược khi hợp lại và đổ ra biển Đông.

1.3. Kênh Nga Sơn: Kênh Nga Sơn từ Ngã ba Chế Thôn đến Điện Hộ.

1.4. Kênh De: Sông De Thuộc huyện Hậu Lộc,Thanh Hoá.

1.5. Sông Bút Sơn: Sông Bút Sơn hay Sông Tào Xuyên hoặc Sông Trường (Tào) ở huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

1.6. Lạch Hới, Lạch Bạng, Lạch Trường, Sông Lý (Quảng Xương), Kênh Choán (Hoằng Hóa), kênh Sao Sa (Nga Sơn).

2. Tại Nghệ An:

- Sông Chu thuộc hệ thống Sông Mã.

- Sông Lam, Sông Hiếu thuộc hệ thống Sông Lam.

2.1. Sông Đào: Ở huyện Đô Lương, Nghệ An hiện có 2 con Sông Đào và đều được hòan thành trong thời kỳ người Pháp còn đô hộ Đông Dương.

- Sông Đào thứ nhất được người dân Đô Lương, Yên Thành đào đắp lấy. Sông nằm trong cụm công trình thủy lợi Bắc Nghệ An, được hoàn thành năm 1936 do hoàng thân Xupanuvong làm Kĩ sư trưởng. Sông bắt nguồn tại Bara Đô Lương, kết thúc tại huyện Yên Thành có nhiệm vụ cung cấp nước cho các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu và Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An. Sông Đào cùng với Bara Đô Lương là một trong những dấu ấn của người Pháp tại việt Nam trong giai đoạn xâm chiếm 1858 - 1945. con Sông Đào này là nguồn cung cấp nước tưới cho khoảng 33.000ha ruộng vườn, nước sinh hoạt và điều hòa không khí, góp phần thoát lũ và giảm tải đường bộ cho các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò.

- Sông Đào thứ hai là con sông nhỏ, ngắn hơn và nằm hoàn toàn trên đia phận xã Nam Sơn của huyện Đô Lương và được làm sau khi người Pháp đã xây Bara chắn ngang dòng Sông Lam ở đọan xã Đặng Sơn như nói ở trên. Con sông này nối thượng nguồn và hạ nguồn của đọan Sông Lam đọan chảy hình vòng tròn ôm lấy các xã Bắc Sơn, Đặng Sơn và 1 phần của xã Nam Sơn, và là đường đi tắt của thuyền, bè lưu thông trên Sông Lam do nhanh hơn và cũng để tránh cái Bara chắn ngang trên dòng Sông Lam. Do đọan cuối của con Sông Đào này đi qua thung lũng nằm giữa hai hòn núi nhỏ là hòn Cóc (núi nhỏ dáng con Cóc ngồi) và hòn Lả (ngày xưa thường có ánh lửa lập lòe trên núi về ban đêm) nên người Pháp cho xây 1 cài vòm (vòm Cóc) chui qua thung lũng để thuyền bè lưu thông dễ dàng.

2.2. Sông Hoàng Mai: Sông Hoàng Mai bắt nguồn trên đầu dãy Trường Sơn, chảy qua huyện Quỳnh Lưu của xứ Nghệ rồi đổ ra biển Đông qua cửa Lạch Cờn.

3. Tại Hà Tĩnh:
- Sông Lam, Sông La,Sông Ngàn Phố,Sông Ngàn Sâu,Sông Nghèn thuộc hệ thống Sông Lam.

- Sông Nhà Lê.

- Các Sông khác của Hà Tĩnh :Sông Rào Cái,Sông Hạ Vàng.

3.1. Sông Rào Cái:

- Sông Rào Cái (hay Sông Ngàn Mọ) là một trong những con sông lớn của tỉnh Hà Tĩnh. Sông bắt nguồn từ vùng núi Cúc Thảo ở phía Đông của huyện Cẩm Xuyên-tỉnh Hà Tĩnh, chảy qua huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà và đổ ra biển Đông ở cửa Sót ở Đông Bắc huyện Thạch Hà. Sông tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Cẩm Xuyên với Thạch Hà và giữa Thạch Hà với TP Hà Tĩnh.

- Từ năm 1976, người ta tiến hành xây dựng công trình thủy lợi hồ Kẻ Gỗ tại làng Kẻ Gỗ (xã Cẩm Mỹ, huyện Cẩm Xuyên) bên sông Rào Cái.

- Chiều dài sông là 74 km, nhưng tính từ cửa sông đến trạm thủy văn Kẻ Gỗ là 29,4 km, đến tuyến đập chính là 29 km.

3.2. Sông Hạ Vàng: Sông Hạ Vàng là một con sông nhỏ tại tỉnh Hà Tĩnh. Sông được bắt nguồn từ cầu Hộ Độ, xã Hộ Độ, huyện Thạch Hà, nơi giao nhau giữa sông Nghèn và sông Hộ Độ và đổ ra biển Đông tại cửa Sót thuộc xã Thạch Kim, Thạch Hà. Sông có chiều dài khoảng 12km, lòng sông rộng, đoạn rộng nhất khoảng 2km là tuyến đường thủy duy nhất từ thành phố Hà Tĩnh ra biển Đông.


V. SÔNG NGÒI TẠI KHU VỰC BÌNH - TRỊ - THIÊN:

1. Tại Quảng Bình:

1.1. Sông Gianh:
- Sông Gianh chảy trên địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ khu vực ven núi Cô Pi cao 2.017 m thuộc dãy Trường Sơn, chảy qua địa phận các huyện Minh Hóa, Tuyên Hoá, Quảng Trạch để đổ ra biển Đông ở Cửa Gianh.

- Dòng chảy ở thượng nguồn theo hình chữ V với hướng chủ đạo là tây nam-đông bắc. Từ điểm giáp ranh ba xã Thanh Thạch, Hương Hóa, Kim Hóa bắt đầu chảy theo hướng tây bắc-đông nam. Tới ranh giới hai xã Kim Hóa và Lệ Hóa nó tiếp nhận thêm nước từ một chi lưu nhỏ phía hữu ngạn, chảy về từ phía tây. Phía dưới thị trấn Ba Đồn khoảng 3 km, sông Gianh tiếp nhận thêm nước từ chi lưu phía hữu ngạn, chảy ra từ khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng.

- Sông Gianh dài khoảng 160 km, Diện tích lưu vực 4.680 km². Quốc lộ 1 cắt qua sông bằng Cầu Gianh ở phía tây bắc Cửa Gianh 5 km. Từ Cầu Gianh đến Thị trấn Ba Đồn 6 km, đến thị trấn Đồng Lê huyện Tuyên Hóa là 47 km.

- Sông Gianh và Đèo Ngang là biểu trưng địa lý của tỉnh Quảng Bình. Phần thượng lưu sông Gianh có tên là Rào Nậy, một nhánh khác là Rào Son có động Phong Nha (vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, di sản thiên nhiên thế giới). Cửa sông có cảng biển gọi là Cảng Gianh.

- Trong lịch sử, sông Gianh được gọi là Linh Giang. Nếu Đèo Ngang là ranh giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập (939) và trước thời kỳ Nam Tiến của người Việt (1069) thì Sông Gianh là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Chiến trường chính là miền Bố Chính (Quảng Bình). Đèo Ngang gắn với huyền thoại “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm 1558, Nguyễn Hoàng, một danh tướng thời Lê Trung Hưng, con thứ của Nguyễn Kim, sợ bị Trịnh Kiểm mưu hại, đã xin vào trấn thủ Thuận Hoá, mở đầu nhà Nguyễn sau này.

- Trong cuộc chiến tranh Trịnh Nguyễn, quân Trịnh án ngữ ở đèo Ngang, nhưng thực sự ranh giới Bắc Nam là sông Gianh. Bờ bắc sông có chợ Ba Đồn là nơi quân Trịnh mua đồ ăn uống và trao đổi hàng hóa. Bờ nam sông có một số thành lũy chắc chắn do Đào Duy Từ tổ chức xây đắp, Luỹ Thầy dài 18 km, luỹ Trường Dục dài 10 km.


1.2. Sông Son:
- Sông Son hay sông Tróc là một chi lưu của sông Gianh, chảy hoàn toàn trên địa phận tỉnh Quảng Bình. Một phần thượng nguồn của sông dài 7.729 mét chảy ngầm trong các núi đá vôi ở phía tây Quảng Bình. Sông Son chảy ra từ cửa động Phong Nha nằm trên đất làng Phong Nha xã Sơn Trạch huyện Bố Trạch. Nó hợp lưu với sông Gianh tại gần thị trấn Ba Đồn.

- Có nhiều truyền thuyết về nguồn gốc của tên dòng sông Son. Một truyền thuyết cho rằng vì vào đầu thế kỷ 19, quân Tây Sơn bị quân của Nguyễn Ánh giết chết nhiều tại sông này, máu loang ra đỏ cả dòng sông. Truyền thuyết khác kể về một chuyện tình giữa một cô gái con nhà giàu và một chàng trai con nhà nghèo. Mặc dù bị gia đình phản đối do không môn đăng hộ đối, cô gái vẫn sắt son. Cuối cùng hai người dẫn nhau tới dòng sông này tự vẫn. Người dân quanh vùng cảm động trước mối tình của hai người nên đặt tên là sông Son. Tuy nhiên, nhiều người địa phương nói rằng gọi là sông Son vì vào mùa mưa lũ, nước sông rất đỏ.


1.3. Sông Nhật Lệ:
- Sông Nhật Lệ bắt nguồn từ núi U Bò, Co Roi (Trường Sơn) chảy ra Biển Đông tại cửa Nhật Lệ.

- Sông có chiều dài 85 km với hai nhánh chính: sông Long Đại (hay Đại Giang) chảy qua huyện Quảng Ninh và sông Kiến Giang chảy qua huyện Lệ Thủy, gặp nhau ở Trung Quán.

- Sông Nhật Lệ còn có tên là Đại Uyên được đổi thành sông Nhật Lệ khoảng năm 1069-1075. Theo Đại Nam nhất thống chí, từ thời Văn Lang, Âu Lạc (năm 2879 đến 257 trước Công nguyên) thuở vua Hùng dựng nước thì nước ta đã có 15 bộ (xấp xỉ 15 tỉnh). Từ Hoành Sơn trở vào gọi là bộ Việt Thường. Đến các triều đại Tần, Hán, Đường bên Trung Quốc thì nước ta bị thôn tính và chia làm quận huyện để cai trị. Thời nhà Tần (221-206 trước Công nguyên), vùng đất Quảng Bình thuộc quận Tượng Lâm, đến thời nhà Triệu (207-111 trước Công nguyên) đổi thành quận Cửu Chân, sang thời Tây Hán (111 trước Công nguyên -39 sau Công nguyên) thuộc quận Nhật Nam. Cuối thời Động Hán, bộ tộc Khu Liên lợi dựng nhà Đông Hán suy yếu đã nổi dậy chiếm Tượng Quận và Nhật Nam lập nên Lâm Ấp (sau này gọi là Chiêm Thành).

- Năm 1063 vua Lý Nhân Tông chọn thái uý Lý Thường Kiệt làm nguyên soái tiên phong chỉ huy 5 vạn quân theo đường thuỷ tiến vào cửa biển Nhật Lệ, đánh bại quân Chiêm, bắt sống Chế Củ. Vua Chiêm đã chuộc mạng bằng cách dâng cho Đại Việt ba châu Bố Chính (Tuyên Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch ngày nay), Địa Lý (Lệ Thuỷ và Quảng Ninh bây giờ), Ma Linh (Quảng Trị hiện tại). Năm 1074, Chế Củ chết, người kế vị lại đánh chiếm ba châu. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông cử Lý Thường Kiệt vào bình định lại, chính thức vẽ bản đồ cương giới ba châu, đổi lại tên của nhiều địa danh, giữ tên châu Bố Chính, đổi tên châu Điạ Lý thành châu Lâm Bình, châu Ma Linh thành châu Minh Linh, xuống chiếu mộ dân vào giữ vùng đất mới và tổ chức việc cai trị. Đây là đợt di dân đầu tiên để vào giữ đất và khai khẩn đất phương Nam. Tên sông Nhật Lệ dường như được đặt lại trong dịp đó.

- Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672) giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài thì chiến trường chính là miền Bố Chính, từ đèo Ngang đến Nhật Lệ. Trong cuộc chiến Trịnh Nguyễn, quân Trịnh án ngữ ở đèo Ngang đến bờ bắc sông Gianh. Bờ nam sông Gianh đến sông Nhật Lệ là tuyến phòng thủ của quân Nguyễn với những thành lũy chắc chắn do Đào Duy Từ tổ chức xây đắp, luỹ Thầy dài 18 km, luỹ Trường Dục dài 10 km. Di tích Lũy Thầy, Quảng Bình quan, thành quách của thời Trịnh Nguyễn nay vẫn còn.

- Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), không lực Hoa Kỳ đã đánh phá miền Bắc Việt Nam ác liệt nhất tại tỉnh Quảng Bình. Những trọng điểm nổi tiếng ác liệt, lưu dấu nhiều chứng tích chiến tranh là phà Long Đại (nay là cầu Long Đại), phà Xuân Sơn, phà sông Gianh (nay là cầu Sông Gianh), đèo Ngang, quốc lộ 1, đường 15, hệ thống đường 559 (đường Trường Sơn, đường mòn Hồ Chí Minh), thành phố Đồng Hới, cửa biển Nhật Lệ.


1.4. Sông Kiến Giang:
- Sông Kiến Giang là một nhánh của sông Nhật Lệ, chảy qua huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Sông dài 58 km. Là hợp lưu của nhiều nguồn sông suối phát nguyên từ vùng núi phía Tây - Nam huyện Lệ Thủy đổ về, đến đoạn ngã ba Phú Thọ (An Thủy- Lệ Thủy), sông đón nhận thêm nước của sông Cẩm Ly chảy từ hướng Tây đồ về, sông tiếp tục chảy qua cánh đồng trũng huyện Lệ Thủy, chảy vào địa phận huyện Quảng Ninh và chảy băng qua phá Hạc Hải (có chiều dài gần 2 km2) về đến ngã ba Trần Xá thì hợp lưu với sông Long Đại đổ nước vào sông Nhật Lệ.

- Đây là dòng sông của điệu Hò khoan Lệ Thủy. Hàng năm vào ngày 2 tháng 9 có hội đua thuyền nổi tiếng. Đây là con sông đã chứng kiến sự sinh ra và lớn lên của những nhân vật nổi tiếng như Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm. Hầu hết các con sông ở Việt Nam đều chảy theo hướng đông nam, riêng con sông này chảy theo hướng đông bắc nên còn được gọi là Nghịch Hà. Tuyến Đường sắt Bắc Nam cắt qua con sông này tại Cầu Mỹ Trạch. Trong thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, cầu Mỹ Trạch là nơi chứng kiến Thảm sát Mỹ Trạch đẫm máu, nơi dân làng Mỹ Trạch bị quân Pháp đưa ra cầu xử bắn, nơi đây ngày nay vẫn còn "Bia căm hờn" ghi lại tội ác này.


1.5. Sông Long Đại:
- Sông Long Đại còn có tên gọi khác là Đại Giang, bắt nguồn từ động Vang Vang, cao 1000m, ở huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, chảy qua địa bàn huyện Quảng Ninh với phần lớn chiều dài, rồi hoà vào sông Nhật Lệ. Chiều dài tổng cộng khoảng 93km.

- Suối nước khoáng nóng Bang, nguồn nước khoáng duy nhất tại Việt Nam có nhiệt độ sôi tại lỗ phun là 105 độ C.


1.6. Sông Dinh:
- Sông Dinh bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, hợp lưu ở khu vực thị trấn Nông trường Việt Trung, thuộc huyện Bố Trạch. Sông chạy dài khoảng 15 km thì bị ngăn lại bởi đập Đá Mài. Đây là đập thủy lợi dẫn nước tưới tiêu cho vùng lúa phía nam huyện Bố Trạch và phía bắc thành phố Đồng Hới. Khúc sông rộng nhất khoảng 200 m, hẹp nhất khoảng 150 m. Quốc lộ 1A bắc qua sông bằng cầu Lý Hoà- phía nam đèo Lý Hoà.

- Về mùa lũ, nước sông đục ngầu và dữ dội. Tuy nhiên, hầu như quanh năm nước trong, hiền hòa và khá đẹp. Tốc độ dòng chảy chậm do bị ngăn đập, dòng sông lững thững uốn quanh những rừng cao su xanh ngắt. Rễ cây cao su trong vùng được cho là có thể làm ô nhiễm nguồn nước sông, tuy nhiên chưa có số liệu cụ thể về nguy cơ này. Sự xói mòn đất cát từ những cánh rừng bị khai thác quá tải đã được cho là làm giảm lưu lượng của sông.

- Con sông là nơi sinh sống của rất nhiều loại cá: cá chép, cá chình, cá thát lát, cá giếc, cá lóc...


1.7. Sông Ngàn Sâu:
- Sông Ngàn Sâu là một chi lưu chính của sông La. Sông này dài 131 km, bắt nguồn từ vùng núi Ông Giao (1.100 m) và Cũ Lân (1.014 m) thuộc dãy núi Trường Sơn nằm trên địa bàn giáp ranh của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình) chảy về hướng Bắc qua huyện Hương Khê, Vũ Quang, Đức Thọ và Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) rồi hợp lưu với sông Ngàn Phố tại ngã ba Tam Soa (hay bến Tam Soa (huyện Đức Thọ) tạo thành dòng sông La.

- Ngàn Sâu có các phụ lưu là sông Tiêm, sông Rào Trổ, sông Ngàn Trươi. Toàn bộ lưu vực sông Ngàn Sâu rộng 2061 km².


1.8. Sông Roòn: Sông Roòn, còn có tên gọi khác là Loan Giang, là một con sông chảy qua huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sông Roòn bắt nguồn từ dãy núi Hoành Sơn và đổ ra biển Đông qua Cửa  Roòn , tại nơi giáp ranh của Quảng Phú và Cảnh Dương thuộc huyện Quảng Trạch.
Sông Roòn có tổng chiều dài 30 km. Cầu Roòn trên quốc lộ 1A bắc qua sông Roòn.

 

2. Tại Quảng Trị:


2.1. Sông Bến Hải:
- Sông Bến Hải hay Rào Thanh bắt nguồn từ núi Động Chân thuộc dãy Trường Sơn và chảy dọc theo vĩ tuyến 17° Bắc từ tây sang đông rồi đổ ra biển ở Cửa Tùng. Bến Hải là một địa danh ở thượng lưu sông, nên tên sông Bến Hải lấy từ địa danh này. Sông Bến Hải chảy cách biển khoảng 20 km thì nhận một phụ lưu là sông Sa Lung bên tả ngạn. Hai con sông hợp lưu chảy tiếp ra Biển Đông, qua một làng ở bờ bắc có tên là Minh Lương nên được gọi là sông Minh Lương.

- Sông có tổng chiều dài chừng 100 km, nơi rộng nhất khoảng 200 m, là ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị.

- Về tên sông, có thuyết nói là địa danh nguyên gọi là "Bến Hói". "Hói" là tiếng địa phương nghĩa là dòng sông nhỏ. Vì vậy "Bến Hải" là đọc trại từ "Bến Hói".

- Triều Minh Mạng nhà Nguyễn, do phải kiêng húy của vua nên cả tên làng và tên sông "Minh Lương" đều đổi thành Hiền Lương. Cây cầu lịch sử bắc ngang sông gần ngã ba sông Sa Lung và sông Bến Hải cũng mang tên cầu Hiền Lương.

- Sông Bến Hải được biết đến nhiều nhất vì vị trí chia cắt hai miền Nam và Bắc Việt Nam trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam. Về mặt địa lý thì sông nằm nhích xuống phía nam vĩ tuyến 17. Hiệp định Genève quy định đây là giới tuyến phi quân sự tạm thời vào năm 1954.


2.2. Sông Thạch Hãn:

- Sông Thạch Hãn (hay còn gọi là sông Quảng Trị) là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Trị. Sông có 37 phụ lưu, diện tích lưu vực 2.660 km². Ba phụ lưu chính là sông Vĩnh Phước, sông Rào Quán (phần thượng nguồn gọi là sông Đa Krông), sông Cam Lộ (phần hạ nguồn gọi là sông Hiếu).

- Sông có chiều dài 155 km, bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía Tây tỉnh Quảng Trị và đổ ra biển Đông qua Cửa Việt. Sông Thạch Hãn chảy qua phía Tây Nam thị xã Quảng Trị (thị xã được hình thành từ làng Thạch Hãn). Một nhánh của dòng Thạch Hãn là sông Vĩnh Định chảy qua phía Bắc thị xã, tại đây, sông bị chặn bởi đập An Tiêm nên lượng nước không lớn. Đoạn chính sông Thạch Hãn qua thị xã Quảng Trị sông rộng 150- 200 m, là đường thủy nối liền Quảng Trị lên Ba Lòng, về biển Đông (Cửa Việt). Từ khi công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn hoàn thành (cuối thập niên 1970) thì dòng sông Thạch Hãn mùa hè cạn trơ đáy, có thể lội bộ qua sông đoạn thị xã Quảng Trị và nhiều đoạn khác; mùa lũ thì nước dâng cao ngập toàn thị xã.

- Về tên gọi Thạch Hãn, có thể được lý giải rằng do ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này nên mới có tên là Thạch Hãn, nước sông thường trong xanh nhìn thấy đáy.

- Sông Thạch Hãn từ xưa cho tới nay đều được coi là một con sông quan trọng, là huyết mạch giao thông đường thủy, tạo vùng đồng bằng với các vựa lúa chính của tỉnh Quảng Trị như Triệu Phong, Hải Lăng làm cho giao thông đường thủy giữa các địa phương này rất thuận lợi. Con sông cũng có ý nghĩa về mặt thủy lợi, cung cấp nguồn nước cho các đồng bằng xanh tươi phía dưới hạ lựu thuộc các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Thị xã Quảng Trị, nơi mà dòng sông đi qua.


3.3. Các phụ lưu:

- Khe Trà Nê từ phía Bắc châu Lang Thìn (tức là phía Bắc Mường Phin, khoảng Sepone, Sa Van Na Khet ngày nay) chảy vào Sông Thạch Hãn tại tuần Ngưu Tất.

- Khe Tam Lưu từ phía Bắc chảy vào Sông Thạch Hãn tại huyện Thành Hóa. Sông Thạch Hãn chảy tiếp về phía Đông, qua phía Bắc tỉnh thành Quảng Trị thì mang tên sông Quảng Trị và đến ngã ba Cổ Thành chia làm hai nhánh:

+ Một nhánh chảy lên Đông Bắc đến ngã ba Phú Ông, gặp sông Ái Tử (sông Vĩnh Phước) ở phía Tây chảy vào, qua huyện Đăng Xương (tức Triệu Phong ngày nay), rồi ngã ba Đại Độ (tức ngã ba Tướng) gặp sông Điếu Ngao từ huyện Thành Hóa (Sông Điếu Ngao qua cửa Điếu Ngao, đến xã Cam Lộ thì gọi là sông Cam Lộ.), rồi qua ngã ba Giáo Liêm đổ ra cửa Việt.

+ Một nhánh chảy xuống Đông Nam, chảy vào sông Vĩnh Định huyện Phong Điền, gặp sông Mai Đàn từ phía Tây tới, rồi theo hướng Nam tới huyện lỵ Phong Điền thì gặp sông Ô Lâu (Thác Mã), sau đó chảy về phía Tây ra phá Tam Giang.


3.4. Sông Cánh Hòm:

- Sông Cánh Hòm dài 11 km, trải dài trên diện tích phía Đông của huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, nối liền sông Thạch Hãn và Sông Bến Hải. Đầu thế kỷ 20 người Pháp bắt dân đào sông Cánh Hòm. Vì bị ảnh hưởng dòng xâm thực của thuỷ triều ở 2 đầu  tạo thành vùng đất nhiễm mặn và phèn mặn. Các xã dọc hành lang sông Cánh Hòm là Gio Phong, Trung Hải, Trung Giang, Gio Mỹ, Gio Thành và Gio Mai.

- Công trình thuỷ lợi xi phông chảy ngầm dưới đáy sông Cánh Hòm, Công trình này cấp nước tưới cho 80ha ruộng lúa. Từ ngày ngăn sông Cánh Hòm để lấy nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, vùng Thủy Khê, Cẩm Phổ không còn nước mặn cho cây cói phát triển. Không có nguyên liệu nên nghề dệt chiếu của làng Lâm Xuân nay không còn tồn tại.


3.5. Sông Xê Pôn:

- Xê Pôn là con sông của Lào và Việt Nam. Nó bắt nguồn từ phía Tây dãy núi Trường Sơn trên địa bàn M.Samouay (Sa Muộn) huyện Nong, tỉnh Savannakhet của Lào, đi về hướng Tây Bắc vào địa phận huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam. Trước khi vào hẳn trong lãnh thổ Lào ở Lao Bảo, nó có một đoạn chảy dọc biên giới hai nước. Tại giữa trung tâm của sông là mốc biên giới của hai nước, một nửa bên này sông là Việt Nam và nửa kia là nước Lào. Từ Lao Bảo sông Xê Pôn chảy về hướng Tây đến thị trấn Xê Pôn huyên Sepone Savannakhet, đổ nước vào sông Sêbănghiêng, gom nước cho sông Mê Kông.

- Xê Pôn có mức nước không sâu lắm, chỉ khoảng 1m. Xê Pôn cũng là huyết mạch giao thông đường thủy giữa Lào và Việt Nam. Người dân Lao Bảo và Lào dùng nó làm con đường vận chuyển hàng hóa và giao thương với vùng biên giới này. Sông Xê Pôn có mức nước không sâu, nhưng dòng nước ở đây rất trong trẻo và không bị ô nhiêm nguồn nước vì không có khu công nghiệp nào ở gần đó. Ngoài ra, Xê Pôn có cảnh quan rất đẹp, hòa quyện cùng với rừng núi ở nơi đây, nối liền huyện Hương Hóa và tỉnh Savannakhet của Lào. Hàng ngày luôn có thuyền máy tấp nập chạy qua lại giữa hai nơi ấy để chở hàng và giao thương.

 

4. Tại Thừa Thiên Huế.


4.1. Sông Hương: Sông Hương hay Hương Giang là con sông chảy qua thành phố Huế.Sông Hương có hai nguồn chính và đều bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn.

- Dòng Tả Trạch dài khoảng 67 km là nhánh chính, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn Đông, ven khu vực vườn quốc gia Bạch Mã chảy theo hướng tây bắc với 55 thác nước hùng vĩ, qua thị trấn Nam Đông rồi sau đó hợp lưu với dòng Hữu Trạch tại ngã ba Bằng Lãng (khoảng 3 km về phía bắc khu vực lăng Minh Mạng).

- Dòng Hữu Trạch dài khoảng 60 km là nhánh phụ, chảy theo hướng bắc, qua 14 thác và vượt qua phà Tuần để tới ngã ba Bằng Lãng, nơi hai dòng này gặp nhau và tạo nên sông Hương.

- Từ Bằng Lãng đến cửa sông Thuận An, sông Hương dài 33 km và chảy rất chậm (bởi vì mực nước sông không cao hơn mấy so với mực nước biển). Khi chảy quanh dọc chân núi Ngọc Trản, sắc nước sông Hương xanh hơn – đây là địa điểm Điện Hòn Chén. Tại đây có một vực rất sâu.

- Sông Hương rất đẹp khi chiêm ngưỡng nó từ nguồn và khi nó chảy quanh các chân núi, xuyên qua các cánh rừng rậm của hệ thực vật nhiệt đới. Con sông chảy chậm qua các làng mạc như Kim Long, Nguyệt Biều, Vỹ Dạ, Đông Ba, Gia Hội, chợ Dinh, Nam Phổ, Bao Vinh. Con sông với sắc xanh lung linh, trong trẻo như một viên ngọc dưới ánh mặt trời. Nó từng là nguồn cảm xúc của bao thế hệ du khách khi họ đi thuyền dọc theo sông Hương để nhìn ngắm phong cảnh nên thơ và lắng nghe những điệu ca Huế truyền thống trong đêm tĩnh mịch.

- Các công trình kiến trúc hai bên bờ sông gồm thành quách, thị tứ, vườn tược, chùa chiền, tháp và đền đài... ánh phản chiếu của chúng trên dòng nước khiến con sông thậm chí còn mang thêm nhiều chất thơ và tính nhạc. Nhiều người luôn gắn liền sự thanh bình, thanh lịch và cảnh vật lặng lẽ của Huế với dòng Sông Hương.

- Theo các sách cổ, trước khi mang tên sông Hương, con sông này tuỳ theo thời gian có những tên khác nhau: Sông Linh, Sông Kim Trà (Kim Trà đại giang), Sông Hương Trà (Hương Trà nguyên). Nhiều tài liệu khác cho biết cho biết sông Hương đã từng mang tên sông Lô Dung, sông Dinh, sông Yên Lục.

- Từ năm 1469 dưới thời Lê Thánh Tông, Kim Trà là tên của một huyện ở phủ Triệu Phong thuộc Thừa tuyên Thuận Hoá. Đến khi Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn phủ Thuận Hoá (1558), huyện Kim Trà được đổi tên là Hương Trà.

- Sông Hương núi Ngự:

+ Núi Ngự Bình (còn gọi là Bằng sơn) cao 105 mét có hình dáng cân xứng. Ở hai bên Bằng Sơn là hai ngọn núi nhỏ tên là Tả Bật Sơn và Hữu Bật Sơn. Có ý kiến cho rằng sau khi quan sát thấy Bằng Sơn trông giống như một tấm bình phong, nhà Nguyễn đã quyết định chọn Huế làm nơi xây dựng Kinh thành. Vua Gia Long đã đồng ý với những thầy địa lý chọn ngọn núi đó làm án thờ phía trước của của hệ thống tường bao chắc chắn có chức năng bảo vệ thành, và đổi tên nó là Ngự Bình.

+ Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là một thắng cảnh thiên nhiên ở Huế. Từ lâu, núi Ngự và sông Hương đã được coi là những biểu tượng của Huế, Huế thường được gọi là “Vùng đất của sông Hương và núi Ngự”.

+ Hằng năm, vào mùa lụt, nước sông Hương dâng cao có thể gây ngập úng cho thành phố Huế và các vùng phụ cận. Nhưng nhờ phù sa sau mỗi trận lụt, các miệt vườn như Nguyệt Biểu với đặc sản là quả Thanh Trà; Kim Long với măng cụt, các triền ven sông với bắp... sẽ tốt tươi hơn.


4.2. Sông Bồ:

- Sông Bồ là một phụ lưu lưu cấp I quan trọng phía tả ngạn của sông Hương, chảy từ Trường Sơn qua các huyện A Lưới, Hương Trà, Phong Điền, Quảng Điền rồi đổ vào sông Hương ở Ngã ba Sình.Sông  dài 94 km. Diện tích lưu vực 938 km2;

- Sông Bồ bắt nguồn từ vùng núi A Sầu phía tây tỉnh Thừa Thiên - Huế, ở độ cao 900 m, chảy theo hướng đông nam - tây bắc đổ vào bờ trái Sông Hương, cách cửa sông 9 km.


4.3. Sông Sekong:

- Sekong là một dòng sông quốc tế,Se (xế) trong tiếng Lào có nghĩa là sông và Kon mới là tên gọi của dòng sông, tuy nhiên tên quốc tế của sông này vẫn là Sekong hoặc Sekon và ở Việt Nam dùng tên Xê Kông. Nó là một chi lưu của sông Mê Kông và nhập vào sông này ở gần thị xã Stung Treng.

- Sekong bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn, đoạn ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ở đấy, nó được gọi là sông A Sáp. Từ tháng 6 năm 2007, chính phủ Việt Nam đã bắt đầu xây dựng một công trình thủy điện trên A Sáp.

- Ở trên lãnh thổ Lào, Sekong chảy qua các tỉnh Saravane, Sekong và Attapeu. Các thị xã của Lào nằm bên Sekong là Banbak, Lamam và Attapeu. Tại Lào, Sekong tiếp nhận nước từ một chi lưu quan trọng là Sekaman. Chính phủ Lào cũng cho xây dựng một số công trình thủy điện và thủy lợi trên Sekaman.

- Ở trên lãnh thổ Campuchia, Sekong chảy hoàn toàn trong địa phận tỉnh Stung Treng, hội lưu với sông Serepôk và sông Mê Kông tại ngã ba sông rộng lớn gần thị xã Stung Treng. Ngoài Stung Treng, một thị xã khác của Campuchia cũng nằm bên sông Sekong là Siempang.

- Toàn bộ lưu vực của Sekong rộng 29.750 km² trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam là 750 km² (quanh sông A Sáp và một chi lưu nhỏ của Sekong bắt nguồn từ Kontum), phần trên lãnh thổ Lào là 23.000 km², trên lãnh thổ Campuchia là 5.400 km².


VI. SÔNG NGÒI TẠI KHU VỰC NAM – NGÃI – BÌNH – PHÚ:


1. Tại Đà Nẵng:

- Sông Hàn, Sông Cầu Đỏ, Sông Yên, Sông Túy Loan, về phía Đông thuộc hệ thống Sông Thu Bồn-Gia Vu.

- Các Sông khác tại Đà Nẵng:


1.1. Sông Cu Đê

Sông Cu Đê (hay còn gọi sông Trường Định) là một dòng sông tại phía Bắc thành phố Đà Nẵng. Sông có các chi lưu chính là sông Bắc (đến lượt sông này có một chi lưu là sông Cha Nay) và sông Nam bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn. Hai chi lưu chính hợp lưu thành sông Cu Đê tại Cầu Sập thôn Tà Lang xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang. Sông chảy theo hướng Tây-Đông, qua huyện Hòa Vang và quận Liên Chiểu, rồi đổ ra biển Đông tại cửa biển Nam Ô, phường Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam quận Liên Chiểu, cách chân đèo Hải Vân chừng 5 km. Toàn chiều dài của sông tính từ xã Hòa Bắc tới biển là 38 km, trong đó tới hơn 30 km tại địa phận Hòa An. Trên địa bàn quận Liên Chiểu, nó còn nhận một số chi lưu nhỏ ở hữu ngạn.


2. Sông tại Quảng Nam:

- Sông Thu Bồn, Sông Vu Gia và các phụ lưu như Sông Khang, sông Vang, sông Tranh, sông Gềnh Gềnh, Sông Bung, Sông Kôn, Sông Cái, Sông Tuý Loan thuộc hệ thống  Sông Thu Bồn- Vu Gia.


- Các sông khác tại Quảng Nam: Sông Trường Giang, Sông Tam Kỳ.

2.1. Sông Tam Kỳ: Sông Tam Kỳ chảy qua nhiều địa phương của huyện Phú Ninh, Núi Thành và thị xã Tam Kỳ,Dòng sông hiền hòa, xanh trong và dịu mát.


2.2. Sông Trường Giang:

- Sông Trường Giang chạy dọc theo bờ biển thuộc tỉnh Quảng Nam. Đầu sông phía nam đổ ra biển tại cửa Hòa An (hay An Hoà), huyện Núi Thành, đầu sông phía bắc đổ ra biển tại cửa Đại, thị xã Hội An. Ở giữa là huyện Thăng Bình và thị xã Tam Kỳ.

- Sông có chiều dài khoảng 70km, đoạn phía nam chạy cạnh bờ biển cách khoảng 2km trở lại, đoạn phía bắc khoảng cách rộng hơn, đoạn lớn nhất cách bờ biển khoảng 7km.


3. Sông tại Quảng Ngãi:

3.1. Sông Trà Bồng:

- Sông Trà Bồng ở phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, sông được bắt nguồn từ địa phận xã miền núi Trà Hiệp, huyện Trà Bồng. Từ đây sông chảy theo hướng đông qua các huyện Trà Bồng, Bình Sơn, sông chảy đến địa phận thị trấn Châu Ổ, Bình Sơn đổi theo hướng đông bắc đổ ra biển Đông tại vịnh Dung Quất.

- Sông có chiều dài khoảng 70km, đoạn hạ lưu sông tách ra thành hai nhánh tạo thành cù lao Bình Dương trước khi hợp nhất đổ ra biển.


3.2. Sông Trà Khúc:

- Sông Trà Khúc là con sông lớn nhất ở tỉnh Quảng Ngãi. Nó phát nguồn từ núi Đắc Tơ Rôn với đỉnh cao 2.350 m do hợp nước của 4 con sông lớn là sông Rhe, sông Xà Lò (Selo), sông Rinh (Drinh), sông Tang (Ong). Chỗ ngã tư đó còn gọi là ngã tư Ly Lang. Sông từ đó chảy theo hướng đông qua ranh giới các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, thành phố Quảng Ngãi và đổ ra cửa Đại Cổ Lũy (Chiêm lũy lịch môn). Tổng cộng chiều dài là 150 km. Đây là con sông có độ dốc lớn. Đầu nguồn của sông có công trình thủy lợi Thạch Nham nên khi chảy về hạ lưu ở địa bàn thành phố Quảng Ngãi, huyện Tư Nghĩa và huyện Sơn Tịnh nguồn nước trở nên cạn kiệt. Mùa mưa, sông thường gây lũ lớn.

- Bờ xe nước (guồng nước) của sông đã từng là hình ảnh đi vào thi ca. Chính thức ngừng hoạt động năm 1993, mang nước tưới tiêu cho các đồng ruộng mía xứ Quảng; nhưng bây giờ bờ xe nước đã đi vào ký ức. Dự án khôi phục bờ xe nước đã được triển khai.

- Tên "Trà Khúc" mang giọng Chiêm vì "Trà" có gốc từ jaya trong tiếng Phạn, và là một trong bốn họ chính thống của các vua Chiêm: On, Ma, Trà, Chế.

- Cặp Núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc là biểu tượng của tỉnh Quảng Ngãi.


3.3. Sông Vệ:

- Sông Vệ bắt nguồn từ vùng núi phía Bắc huyện Ba Tơ ở độ cao 800 m, với thượng nguồn là sông Liên. Sông Vệ chảy xuyên qua các huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành, qua giáp ranh giữa Mộ Đức và Tư Nghĩa, rồi đổ ra biển Đông tại cửa Lở (An Chuẩn, Đức Lợi thuộc huyện Mộ Đức) và cửa Cổ Lũy. Sông vệ có các phụ lưu là Trà Nu, sông Lã, sông La Châu... Phân lưu của sông Vệ là sông Thoa tách khỏi sông Vệ ở hữu ngạn và chảy về phía Nam qua Mộ Đức và Đức Phổ. Tổng cộng chiều dài của sông Vệ là 80 km. Diện tích lưu vực 1.257 km², độ dốc trung bình 21,8%.

- Sông Vệ cũng là tên của một thị trấn ở Quảng Ngãi, đó là thị trấn Sông Vệ một thị trấn thuộc huyện Tư Nghĩa.


4. Sông tại Bình Định:

4.1. Sông Hà Thanh:

- Sông Hà Thanh bắt nguồn từ miền núi phía Tây Nam huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định ở độ cao 500 m so với mực nước biển, chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Sau khi đi qua một số xã của huyện Vân Canh sông tiếp tục chảy qua huyện Tuy Phước, đến thị trấn Diêu Trì thì sông chia làm hai nhánh là Hà Thanh và Trường Úc rồi tiếp tục đi vào địa phận thành phố Quy Nhơn và đổ vào đầm Thị Nại qua hai cửa Hưng Thạnh và Trường Úc.

- Sông có chiều dài 58 km trong đó 30 km chảy qua miền rừng núi, độ cao trung bình của lưu vực là 170 m, độ dốc trung bình của lưu vực khoảng 0,18 và diện tích toàn bộ lưu vực sông là 539 km².


4.2. Sông La Tinh”

- Sông La Tinh hay sông Phù Ly là dòng sông nhỏ nhất trong 4 con sông chính của tỉnh Bình Định. Sông La Tinh có độ cao bình quân là 150 m, chiều dài 54 km.Là một trong ba dòng sông mang tính lịch sử từ thời lập phủ Hoài Nhơn.

- Sông La Tinh bắt nguồn từ hồ Hội Sơn thuộc vùng núi phía Tây huyện Phù Cát thuộc hai xã Cát Sơn và Cát Lâm. Sau khi đến đập Cây Gai sông là đường ranh giới giữa hai huyện Phù Cát và Phù Mỹ, chảy đến vùng Vĩnh Kiên thì gặp nhánh sông Kiên Duyên từ Phù Mỹ đổ vào, nhánh sông này xuất phát từ vùng núi phía Tây huyện Phù Mỹ, với các sông nhỏ như sông Đập Hiền, sông Đập Bao và sông Đập Sung ở thượng lưu, các sông này lại nhập thành sông Bình Trị - Kiên Duyên. Sông La Tinh nhập với sông Kiên Duyên thành sông Lu Xiêm Giang, sông này đến đập Cây Ké lại chuyển hướng Tây Nam – Đông Bắc. Sau đó sông lại tách làm hai nhánh là sông Cả ở phía Nam và sông Lu Xiêm Giang ở phía Bắc chảy song song nhau.


4.3. Sông Lu Xiêm Giang: 

Sông Lu Xiêm Giang chảy qua vùng An Xuyên rồi đổ vào đầm Nước Ngọt.


4.4. Sông Cả: 

Sông Cả chảy qua vùng An Mỹ - Xuân Hải rồi đổ vào đầm Nước Ngọt.


4.5. Sông Côn:

- Sông Côn còn gọi là sông Kôn hoặc sông Kone là dòng sông lớn nhất của tỉnh Bình Định, nhưng bắt nguồn từ các tỉnh Kon Tum, Gia Lai ở độ cao 925 m từ khối núi Ngọc Roo và từ vùng núi cao huyện An Lão, rồi chảy qua huyện Vĩnh Thạnh nơi có hồ Vĩnh Sơn, thủy điện Vĩnh Sơn, hồ Định Bình.

- Sông dài 171 km. Lưu vực sông có diện tích 2980 km² thuộc các huyện An Khê (Gia Lai), An Lão, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Vân Canh, An Nhơn và Tuy Phước (Bình Định). Đoạn thượng nguồn có tên là Đắc Cron Bung. Và theo hướng đông nam nó chảy qua huyện Tây Sơn để rồi gặp các nhánh nhỏ bắt nguồn từ An Khê và Vân Canh tạo thành dòng lớn hơn. Đoạn giữa ở huyện Tây Sơn có tên là sông Hà Giao. Sau đó nó tiếp tục chảy qua huyện An Nhơn và gặp một nhánh khác từ hồ Núi Một (Vân Canh) chảy xuống. Đoạn hạ lưu chia thành vài nhánh, đổ ra đầm Thị Nại, vịnh Quy Nhơn và có tên là sông Cái.


4.6. Sông An Lão: 

Sông An Lão, chảy theo chiều Bắc-Nam, qua quận An Lão xuống đến Hoài Nhơn thì nhập vào Lại Giang, đổ ra biển ở Kim Giác.


4.7. Sông Mang: 

Sông Mang, phát nguồn là sông Hà Giao thuộc quận Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, chảy qua Bình Khê, An Nhơn và đổ ra đầm Thị Nại.


5. Sông tại Phú Yên:

- Sông Đà Rằng, Sông Hinh thuộc hệ thống Sông Ba.


6. Sông Kỳ Lộ:

- Sông Kỳ Lộ, phần thượng lưu còn được gọi là sông La Hiên, phần hạ lưu còn được gọi là sông Cái. Sông Kỳ Lộ dài 120 km, bắt nguồn từ vùng núi La Hiên cao trên 1000 m tại giáp ranh giữa Bình Định và Gia Lai, chảy qua các huyện Đồng Xuân, Tuy An, đổ ra cửa biển Tiên Châu ở Tuy An (Phú Yên) với một phân lưu đổ vào Đầm Ô Loan. Các chi lưu của nó là Cà Tơn, suối Cối, Thác Dài. Đoạn chảy trên địa phận tỉnh Phú Yên dài 76 km.

- Phần thượng lưu của sông chảy giữa các dãy núi, nên hẹp, sâu và có độ dốc lớn. Mùa mưa trên sông hay có lũ. Do có đặc điểm như vậy, hàng ngàn năm những chân núi mà sông đi qua bị bào mòn tạo ra nhiều cảnh quang thiên nhiên đẹp và nên thơ. Có nghiên cứu cho rằng cái tên Kỳ Lộ là do người Pháp khi cai trị Việt Nam đổi từ tên cũ của sông là Cà Lố mà ra.


6.1. Sông Đà Nông:

- Sông Đà Nông (phần thượng lưu gọi là sông Bàn Thạch) là con sông lớn thứ ba ở tỉnh Phú Yên. Sông dài 86 km bắt nguồn từ vùng núi Hòn Du thuộc dãy núi Trường Sơn ở phía Tây huyện Tây Hòa, chảy qua huyện Đông Hòa và đổ ra biển Đông ở cửa Đà Nông. Sông Đà Nông có các chi lưu là sông Bánh Lái và sông Trong. Sông Đà Nông góp phần bồi đắp nên đồng bằng Tuy Hòa màu mỡ.

- Cầu Đà Nông (dài 495 m, rộng 11 m) nối khu công nghiệp Hòa Hiệp với cảng Vũng Rô. Công trình thủy điện Đá Đen (công suất 4,8 MW) trên đầu nguồn sông Bàn Thạch (huyện Tây Hòa) đang được xây dựng.


7. Sông tại Khánh Hòa:

7.1. Sông Cái: Sông Cái (Nha Trang) bắt nguồn từ vùng núi Chư Giao (M'Drăk, Đăk Lăk) ở độ cao 900 m, chảy theo hướng tây bắc - đông nam ở thượng lưu và trung lưu, đổi hướng gần tây - đông ở hạ lưu, đổ ra biển Đông tại vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Dài 79 km. Diện tích lưu vực 1.904 km2. Có 15 phụ lưu với chiều dài trên 10 km. Mùa lũ từ tháng 10 đến tháng 12, chiếm khoảng 73% lượng dòng chảy cả năm. Mùa cạn từ tháng 1 đến tháng 9, chiếm khoảng 27% lượng nước cả năm. Ở bên cửa sông có thành phố du lịch Nha Trang nổi tiếng. Chảy qua Tháp Bà Pô-na-ga đổ ra cửa biển Cầu Bóng.


8. Sông tại Ninh Thuận:

8.1. Sông Pha: Sông Pha thuộc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Nằm ở phía tây của tỉnh. Nơi đây có đèo Ngoạn Mục còn được biết đến với tên đèo Sông Pha. Tên Sông Pha có xuất xứ từ tên Krong fa, nhưng sau này để đọc cho nhanh hay dễ đọc nên mới có tên là Sông Pha. Sông Pha cách Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm hơn 40km, từ Thành Phố Phan Rang - Tháp Chàm ta đi theo Quốc lộ 27A là đến địa phận Sông Pha. Nhìn chung Sông Pha không có danh lam thắng cảnh gì nổi bật. Chỉ có đèo Ngoạn Mục và Nhà máy Thủy điện Đa Nhim. Hiện nay Sông Pha được gọi theo tên cũ.


8.2. Sông Dinh: Sông Dinh, còn có tên là sông Kinh Dinh, thượng nguồn gồm nhiều phụ lưu nhỏ và một thoát lưu của đập Đa Nhim phát nguyên từ cao nguyên Lâm Viên, chảy qua địa phận tỉnh Ninh Thuận và đổ ra biển ở vũng Phan Rang.


9. Sông tại Bình Thuận:

9.1. Sông Phan: Sông Phan là một con sông nhỏ tại tỉnh Bình Thuận. Sông được bắt nguồn từ xã Đức Thuận, huyện Tánh Linh chảy tới địa phận xã Tân Nghĩa, huyện Hàm Tân đổi sang hướng đông nam và đổ ra biển Đông tại xã Tân Hải, thị xã La Gi. Sông có chiều dài khoảng 55km, đi qua và làm ranh giới giữa các huyện Hàm Tân và Hàm Thuận Nam, thị xã La Gi và Hàm Thuận Nam.


9.2. Sông Cà Ty: Sông Cà Ty là một đoạn nhánh của con sông Cái chảy qua trung tâm thành phố Phan Thiết. Sông bắt nguồn từ vùng đồi Đông Kho ở độ cao 250 m, chảy theo hướng tây bắc - đông nam, qua Mường Mán, Phan Thiết và đổ ra vũng Phan Thiết. Dài 56 km. Diện tích lưu vực 753 km2.


9.3. Sông Lũy: Sông Lũy, gồm các phụ lưu Cà Tót ở Hữu ngạn, sông Cái Giấy và sông Mao ở tả ngạn, chảy trong địa phận tỉnh Bình Thuận và đổ ra biển ở Phan Rí.

9.4. Sông Mường Mán: Sông Mường Mán ở phía Nam tỉnh Bình Thuận, đổ ra biển ở Phan Thiết.


VII. SÔNG NGÒI TẠI LÂM ĐỒNG VÀ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ:

1. Tạỉ Lâm Đồng:

- Sông La Ngà,Sông Đắc Dung thuộc hệ thống sông Đồng Nai.

- Các sông khác tại Lâm Đồng:

1.1. Sông Đa Nhim:

- Sông Đa Nhim bắt nguồn từ phía Bắc núi Gia Rích (1.923m), huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, gần ranh giới với hai tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận. Sông chảy qua các huyện Đơn Dương, Đức Trọng và đổ vào sông Đa Dâng gần thác Pongour.

- Trên sông Đa Nhim có hồ Đa Nhim (hay là hồ Đơn Dương) đây là một hồ nhân tạo trên địa bàn huyện Đơn Dương. Ở đây có đặt nhà máy thuỷ điện Đa Nhim. Từ thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, ngược quốc lộ 27 chừng 50 km, ta sẽ nhìn thấy hai ống thủy lực chạy song song, dài khoảng 2 km, dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy nằm dưới chân đèo Ngoạn Mục trông rất đẹp và kỳ vĩ.

- Sông Đa Nhim không chỉ có nguồn lợi thuỷ điện, mà còn tạo ra nhiều cảnh quan đẹp trở thành những điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Lâm Đồng. Dọc sông có 3 thác chính: thác Liên Khương, thác Gougah và thác Pongour.


2. Tại Đồng Nai: 

Sông Đồng Nai, Sông Bé,Sông La Ngà,Sông Sài Gòn,Sông Thị Vải thuộc Hệ thống sông Đồng Nai.


2.1. Sông Ray:

- Sông Ray là một con sông chảy giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Sông được bắt nguồn từ xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai. Từ đây sông chảy theo hướng tây nam tới địa phận xã Sơn Bình, Châu Đức, Bà Rịa Vũng Tàu, sông đổi hướng chảy theo hướng nam đổ ra biển Đông tại xã Lộc An, huyện Đất Đỏ.

- Sông có chiều dài khoảng 55km, chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Xuyên Mộc và huyện Cẩm Mỹ, Đồng Nai, giữa Xuyên Mộc và Châu Đức, giữa Xuyên Mộc và Đất Đỏ.

3. Tại Bình Phước: Sông Đồng Nai và Sông Bé thuộc hệ thống Sông Đồng Nai.

4. Tại Bình Dương: Sông Đồng Nai và Sông Bé thuộc hệ thống Sông Đồng Nai.

5. Tại Tây Ninh: Sông Vàm Cỏ Đông thuộc hệ thống Sông Đồng Nai.

6. Tại Sài Gòn: Bến Nghé (sông), Sông Lòng Tàu, Sông Ngã Bảy, Sông Nhà Bè, Sông Soài Rạp, Sông Cần Giuộc, Sông Sài Gòn, Sông Vàm Sát, Sông Đồng Nai, Sông Đồng Tranh thuộc hệ thống Sông Đồng Nai.

6.1. Sông Vàm Sát:

- Sông Vàm Sát là một con sông nhỏ tại huyện Cần Giờ, TP.HCM. Sông được chảy tách ra từ sông Soài Rạp tại địa phận xã Lý Nhơn, Cần Giờ, chảy quanh co theo hướng đông-nam nhập vào sông Đồng Tranh đổ ra biển tại vịnh Đồng Tranh. Sông có chiều dài khoảng 25km, hai bên bờ sông là rừng ngập mặn Vàm Sát
- Ngoài ra còn có: Rạch Ông Trúc, Tắt Nha Phương, Sông Đồng Kho, Tắt Ông Trung, Tắt Ông Cu – Tắt Bài.

6.2. Sông Đồng Tranh: Ngã ba sông Lòng Tàu Ngã ba sông Ngã Bảy.

6.3. Kênh Tẻ: Ngã ba sông Sài Gòn Ngã ba kênh Đôi.

6.4. Kênh Đôi: Ngã ba kênh Tẻ Ngã ba sông Chợ Đệm Bến Lức.

6.5. Sông Chợ Đệm: Bến Lức Ngã ba kênh Đôi Ngã ba sông Vàm Cỏ Đông. Ngoài ra còn có: Tắt Ông Nghĩa, Kênh Bà Tống, Sông Dần Xây, Sông Lò Rèn.


7. Tại Bà Rịa-Vũng Tàu:

7.1. Sông Ray:

- Sông Ray là một con sông chảy giữa hai tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu. Sông được bắt nguồn từ xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai. Từ đây sông chảy theo hướng tây nam tới địa phận xã Sơn Bình, Châu Đức, Bà Rịa Vũng Tàu, sông đổi hướng chảy theo hướng nam đổ ra biển Đông tại xã Lộc An, huyện Đất Đỏ.

- Sông có chiều dài khoảng 55km, chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Xuyên Mộc và huyện Cẩm Mỹ, Đồng Nai, giữa Xuyên Mộc và Châu Đức, giữa Xuyên Mộc và Đất Đỏ.


7.2. Sông Dinh (Bà Rịa-Vũng Tàu):

- Sông Dinh là một con sông tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sông được bắt nguồn từ hồ Kim Long, xã Kim Long, huyện Châu Đức, chảy theo hướng bắc nam, trên đường có các con suối từ các huyện Tân Thành, Châu Đức đổ vào. Sông chảy qua thị xã Bà Rịa và đổ ra vịnh Rành Gái tại thành phố Vũng Tàu.

- Sông có chiều dài khoảng 40km, đoạn thượng nguồn làm ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Tân Thành và Châu Đức, đoạn hạ nguồn tại thành phố Vũng Tàu, lòng sông sộng có nhiều cảng biển hoạt động, trong đó có cảng lớn là cảng Cát Lở.


7.3. Sông Thị Vải:

- Sông Thị Vải là con sông chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu.

- Sông được bắt nguồn từ huyện Long Thành, chảy theo hướng đông - nam, qua Nhơn Trạch, đến huyện Tân Thành đổi hướng theo hướng nam đổ ra biển tại vịnh Gành Rái.

- Sông có tổng chiều dài khoảng 76km, đoạn chảy theo hướng nam làm ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Nhơn Trạch, TP.HCM và Tân Thành, Bà Rịa Vũng Tàu.


VII. SÔNG NGÒI KHU VỰC PHÍA TÂY CAO NGUYÊN:

1. Tại Kon Tum:

- Sông Pô Kô,Sông Đakbla,Sông Côn,Sông Sê San thuộc hệ thống Sông MêKông.

- Sông Đà Rằng thuộc hệ thống Sông Ba.

- Sông La Ngà, Sông Đắc Dung thuộc hệ thống sông Đồng Nai.


2. Tại Gia Lai.

- Sông Đà Rằng thuộc hệ thống Sông Ba.

- Sông côn chảy về Bình Định.

- Sông Sêsan thuộc hệ thống Sông Mê Kông.


3. Tại Đắk Lắk:

- Sông Serepôk (Đoạn chảy trên địa phận Đăk Lăk còn được gọi là sông Đăk Krông), sông Krông Ana, sông Krông Nô,sông Ea H'leo, sông Sesan và sông Sekong thuộc Hệ thống sông Mê Kông.

- Sông Hinh, Sông Krông H’Năng thuộc hệ thống Sông Ba.

- Sông Cái - Nha Trang bắt nguồn từ vùng núi Chư Giao (M'Drăk, Đăk Lăk) ở độ cao 900 m, chảy theo hướng tây bắc - đông nam ở thượng lưu và trung lưu, đổi hướng gần tây - đông ở hạ lưu, đổ ra biển Đông tại vịnh Nha Trang.

3.1. Sông Krông Ana:

- Sông Krông Ana là một chi lưu của sông Serepôk và là một trong những con sông chính ở Đắk Lắk.

- Sông Krông Ana là hợp lưu của một số dòng sông nhỏ như Krông Buk, Krông Pắk, Krông Bông, Krông K’mar, diện tích lưu vực 3.960 km², chiều dài dòng chính 215km. Sông có dòng chảy tương đối hiền hòa, không có ghềnh thác, đoạn hạ lưu thuộc Lăk – Buôn Trấp có độ dốc 0,25%, dòng sông gấp khúc gây lũ lụt hàng năm trên phạm vi khá rộng, đồng thời cũng bồi đắp phù sa tạo nên những cánh đồng màu mở ven sông. Đây là con sông có ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh, nhất là cây lúa nước.


3.2. Sông Krông H’Năng: 

Sông Krông H’Năng bắt nguồn từ dãy núi Chư Tun có độ cao 1200m. Đây là một dòng sông nhỏ, hiền hoà vào mùa khô nhưng tương đối dữ dội vào mùa mưa. Nó là một trong những chi lưu của sông Ba, Phú Yên. Sông có chiều dài 130km. Một chi lưu của nó dài khoảng 30 km chảy từ phía nam thị trấn M'Đrắk, trong dãy Chư Prông cao 1.108 m.


3.3. Sông Krông Nô:

- Sông Krông Nô hay còn gọi là Krông Knô là một trong những con sông lớn ở Đắk Lắk, bắt nguồn từ vùng núi cao Chư Yang Sin (> 2.000m) chạy dọc ranh giới phía Nam sau đó chuyển hướng lên phía Bắc (ranh giới phía Tây) và nhập với sông Krông Ana để trở thành dòng Serepôk thác ghềnh. Tổng diện tích lưu vực sông là 3920 km² và chiều dài dòng chính là 156km.

- Krông Nô hiện đang là con sông ranh giới giữa hai tỉnh Lâm Đồng với Đắk Lắk và giữa Đắk Lắk với Đắk Nông, dọc theo con sông này là rất nhiều buôn làng người dân tộc bản địa với nhiều truyền thuyết về tên của dòng sông và vùng đất Krông Nô một huyện cùng tên thuộc tỉnh Đắk Nông.


3.4. Sông Ea H'leo: 

Sông Ea H’Leo là một trong những chi lưu của sông Serepôk. Sông bắt nguồn trên địa phận xã Dliê Ya, huyện Krông Năng ở độ cao 800 m. Sông có chiều dài 143 km, chảy qua hai huyện Ea H'leo và Ea Súp trước khi hợp lưu vào sông Serepôk. Sông Ea H’Leo có một nhánh chính quan trọng là suối Ea Súp, trên dòng suối này hiện tại có hai công trình thuỷ lợi lớn là Hồ Ea Súp Hạ và Hồ Ea Súp Thượng.


4. Tại Đắk Nông:

- Sông Đồng Nai.

- Các sông khác tại Đắk Nông:


4.1. Sông Krông Nô: 

Sông Krông Nô, phát nguồn là sông Da Troung chạy thành ranh giới ha là con sông ranh giới giữa hai tỉnh Đắk Lắk với Đắk Nông.Krông Nô cũng là tên một huyện thuộc tỉnh Đắk Nông.

4.2. Krong Knôi
Krong Knôi có hai đoạn làm ranh giới Đắk Nông-Đắc Lắc rồi vào hẳn địa phận Đắc Lắc ở phía Nam Ban Mê Thuộc, có tên Ea Krong, rồi lại đổi tên Se Bang Khan trước khi chảy sang Campuchia thành sông Séprok.

4.3. Sông Dak Dầm: Sông Dak Dầm là một phụ lưu tả ngạn của Se Bang Khan, chảy dọc biên giới Campuchia với một phần tỉnh Đắk Nông và một phần tỉnh Đắc Lắc.


IX. SÔNG NGÒI KHU VỰC TÂY NAM BỘ (ĐBSCL):


1. Tại Long An: 

Sông Vàm cỏ (Vàm cỏ Đông, Vàm cỏ Tây), Sông xoài Rạp thuồc hệ thống Sông Đồng Nai.

1.1. Sông Trà: 

Trà là một con sông nhỏ chạy giữa hai tỉnh Long An và Tiền Giang.Sông được bắt đầu từ từ rạch Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, Tiền Giang chảy tới địa phận xã Đồng Sơn, Gò Công Tây và xã Thanh Vĩnh Đông, Châu Thành, Long An. Từ đây sông chảy ngoằn ngoèo theo hướng đông đổ ra sông Vàm Cỏ. Sông có chiều dài khoảng 12km, làm ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Châu Thành, Long An và Gò Công Tây, Tiền Giang.

1.2. Rạch Lá: Ngã ba sông Vàm Cỏ Ngã kênh Chợ Gạo.

1.3. Rạch Kỳ Hôn. Ngã ba kênh Chợ Gạo Ngã ba sông Tiền.

1.4. Kênh Thủ Thừa: Ngã ba sông Vàm Cỏ Đông  đến Ngã ba sông Vàm Cỏ Tây.

1.5. Rạch Ông Lớn: Ngã ba kênh Tẻ Ngã ba kênh Cây Khô.

1.6. Kênh Cây Khô: Ngã ba sông Cần Giuộc Ngã ba rạch Ông Lớn.

1.7. Kênh Nước Mặn: Ngã ba kênh Nước Mặn - Cần Giuộc Ngã ba kênh Nước Mặn –Vàm Cỏ.


1.8. Kênh Bo Bo: Kênh Bo Bo bắt nguồn từ một nhánh kênh ở xã Bình Thành, huyện Đức Huệ, chảy dọc theo hướng Đông Nam, qua địa bàn huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Kênh Bo Bo cắt ngang rạch Cây Sơn, kênh Bà Giãi và kênh Trà Cú. Đây là nguồn cung cấp nước và tuyến giao thông thuỷ quan trọng của huyện,kênh có chiều dài 30km và chiều rộng 8m.


1.9. Kênh Bảy Thước: Kênh Bảy Thước bắt nguồn từ một con kênh khác ở xã Vĩnh Bửu, huyện Tân Hưng. Phần lớn chiều dài chảy qua địa bàn huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, phía Bắc Kênh Dương Văn Dương. Kênh nối liền Kênh Nguyễn Văn Tiếp với sông Vàm Cỏ Tây. Điểm gặp sông Vàm Cỏ Tây thuộc địa bàn xã Thạnh Phú, huyện Thạnh Hoá, tỉnh Long An. Đây cũng là nguồn cung cấp nước tưới và tuyến giao thông thủy của huyện Tân Thạnh.


1.10. Kênh Dương Văn Dương: Kênh Dương Văn Dương là con kênh lớn nhất chảy qua địa bàn huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An. mang tên anh hùng liệt sĩ Dương Văn Dương (trước đó, dòng kênh dài gần xuyên suốt vùng Đồng Tháp Mười có tên là kênh La Grandière, sau khi ông Dương Văn Dương hy sinh tại Bến Tre, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truy phong ông hàm thiếu tướng và lấy tên ông đặt cho con kênh này). Kênh nối liền với các Kênh Đông Điền, Kênh Nguyễn Văn Tiếp và Kênh Bắc Đông ở huyện Thạnh Hoá. Dẫn nước ngọt từ sông Tiền về phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của huyện. Đây cũng là tuyến giao thông thủy quan trọng nhất của huyện, song song với đường tỉnh 837. Thông qua hệ thống kênh Đông Điền-Dương Văn Dương-Bắc Đông, thuyền bè có thể qua lại từ sông Tiền đến sông Vàm Cỏ Tây rất thuận lợi.


1.11. Kênh Nguyễn Văn Tiếp: Kênh Nguyễn Văn Tiếp (trước là kênh Cậu Mười Hai) cắt ngang Đồng Tháp Mười, nối liền sông Vàm Cỏ Tây với sông Tiền. Kênh Dương Văn Dương chạy tới Gãy Cờ Đen thì giao thủy với kênh Tháp Mười rồi ăn thông với kênh Nguyễn Văn Tiếp (Kênh Dương Văn Dương song song với kênh Nguyễn Văn Tiếp).


2. Tại Tiền Giang:

- Sông Tiền Giang, Sông Rạch Gầm,Sông Soài Rạp,Sông Mỹ Tho thuộc hệ thống Sông Mê Kông.

- Sông Bảo Định, Sông Trà, Sông Gò Công, Sông Vàm cỏ, Sông Vàm Cỏ Đông, Sông Vàm Cỏ Tậy thuộc hệ thống Sông Đồng Nai.


2.1. Sông Bảo Định:

- Tục gọi là kênh Vũng Gù, Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, sông này chỉ là một con mương đào (hào) là thủy lộ nối liền rạch Vũng Gù với rạch Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang.Đến năm 1819 được vua Gia Long cho nạo vét và nó trở thành con kênh đào đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long. Thời Pháp thuộc, sông Bảo Định lại là con kênh đầu tiên ở Nam Bộ được dùng phương tiện cơ giới là chiếc xáng múc để nâng cấp dòng chảy. Kể từ khi hoàn thành, sông Bảo Định luôn giữ một vai trò quan trọng về các mặt: quân sự, thủy lợi, giao thông và cung cấp một phần nước sinh hoạt cho cư dân trong vùng.

- Trước khi có sông Bảo Định, tại đây đã có rạch Vũng Gù ở về phía Đông Bắc, chảy từ sông Vàm Cỏ Tây đến xóm Thị Cai; và rạch Mỹ Tho ở về phía Nam, chảy từ sông Tiền tới Bến Tranh (vì bán tranh lợp nhà, nay là chợ Lương Phú thuộc xã Lương Hòa Lạc, huyện Chợ Gạo). Khoảng giữa, tức từ xóm Thị Cai đến Bến Tranh thuộc thôn Lương Phú, là ruộng vườn liên tiếp.

- Năm Ất Dậu (1705), vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu, Vân Trường hầu Nguyễn Cửu Vân đem quân sang bình định đất Chân Lạp. Xong việc, để phòng giữ miền biên cảnh và vùng đất Mỹ Tho, được tạo lập và phồn vinh từ thời Dương Ngạn Địch (một võ tướng nhà Minh chạy sang xin thần phục Đại Việt thời chúa Nguyễn Phúc Tần) đến coi quản, Nguyễn Cửu Vân cho đắp một chiến lũy dài từ Thị Cai đến Bến Tranh. Bên ngoài lũy, ông còn cho đào một hào sâu rộng nối liền rạch Vũng Gù (Tân An) và rạch Mỹ Tho.Sau một thời gian dài, con mương (hào) xưa bị bùn cỏ tích tụ gây cạn lấp, thuyền lớn đi đến đây phải đợi nước lên đầy mới đi được.

- Ngày 28 tháng giêng (âm lịch) năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long đã sai quan trấn thủ Định Tường là Bửu Thiện hầu Nguyễn Văn Phong lo việc nạo vét và nới rộng dòng chảy này.Công trình khởi công ngày 23 tháng 2 năm 1819 và kết thúc ngày 28 tháng 5 năm 1819. Vua Gia Long cho đặt tên là Bảo Định hà (sông Bảo Định), và cho phép Huỳnh Công Lý được dựng bia ghi công ở bên bờ kênh gần chợ Thang Trong. Năm Ất Tỵ (1835), vua Minh Mạng cho đổi tên lại là Trí Tường giang (sông Trí Tường), có tạc bia đá dựng nơi bờ sông thôn Phú Kiết. Đời vua Thiệu Trị, không rõ năm nào, lại đổi tên thành sông An Định. Đến khi quân Pháp sang xâm lấn Việt Nam, họ lại cho đổi tên là Arroyo de la Poste (kênh Bưu Điện).

- Tuy nhiên, người dân vẫn quen gọi là sông Bảo Định hay kênh Trạm (vì trên bờ sông có đặt trạm để chuyển công văn của triều Nguyễn và sau nữa là của Pháp).


2.2. Sông Rạch Gầm:

- Sông Rạch Gầm là một con sông nhỏ tại tỉnh Tiền Giang. Sông được bắt đầu tại một phân lưu của sông Tiền thuộc địa phận xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy. Từ đây sông qua xã Long Trung-Cai Lậy, xã Vĩnh Kim-huyện Châu Thành và đổ ra sông Tiền tại địa phận xã Kim Sơn-Châu Thành cách cầu Rạch Miễu khoảng 15km về hướng đông. Sông có chiều dài khoảng 30km, lòng sông nhỏ hẹp.

- Nơi đây là vị trí của trận thuỷ chiến nổi tiếng năm 1785 giữa Đại Việt và Xiêm, trận Rạch Gầm - Xoài Mút.


2.3. Sông Gò Công:

- Sông Gò Công là một con sông nhỏ tại tỉnh Tiền Giang. Sông được bắt đầu từ một con rạch nhỏ tại huyện Gò Công Tây, chảy vào thị xã Gò Công tại địa phận xã Long Chánh, thị xã Gò Công. Từ đây sông chảy theo hướng tây bắc nhập với sông Trà và đổ ra sông Vàm Cỏ.

- Sông có chiều dài khoảng 12km, một đoạn ngắn làm thành ranh giới tự nhiên giữa huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây, đoạn còn lại chảy trong huyện Gò Công Đông.


3. Tại Bến Tre:

- Sông Ba Lai, Sông Bến Tre, Sông Cổ Chiên, Sông Hàm Luông, Sông Mỹ Tho thuộc Hệ thống Sông Mê Công.
- Sông khác tại Bến Tre có Sông Bến Tre.
3.1. Sông Bến Tre:

- Sông Bến Tre là một con sông nhỏ tại tỉnh Bến Tre.Sông bắt đầu từ xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, chảy quanh co theo hướng tây bắc đến địa phận thị xã Bến Tre thì chia làm hai nhánh, một nhánh theo hướng bắc đổ ra sông Ba Lai tại ngã tư An Hoá, một nhánh theo hướng tây-nam đổ ra sông Hàm Luông tại xã Mỹ Thạnh An, thị xã Bến Tre.

- Sông có chiều dài khoảng 30km, là tuyến đường thuỷ nội tỉnh quan trọng của Bến Tre.


4. Tại Vĩnh Long.

- Sông Hậu, Sông Cổ Chiên thuộc hệ thống Sông Mê Công.

- Sông khác tại Vĩnh Long có Sông Mang Thít.

4.1. Sông Mang Thít:

- Sông Mang Thít, còn gọi là sông Măng Thít hay sông Mân Thít, là một con sông nhỏ, dài khoảng 47 km, nối sông Tiền (nhánh Cung Hầu, Cổ Chiên) với sông Hậu, chảy trên địa phận tỉnh Vĩnh Long.

- Sông là ranh giới tự nhiên giữa các huyện Tam Bình và Mang Thít ở bờ bắc với các huyện Trà Ôn và Vũng Liêm ở bờ nam. Con sông này từng là ranh giới hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh (Vĩnh Bình), khi hai huyện Trà Ôn và Vũng Liêm còn thuộc tỉnh Trà Vinh.

- Sông Mang Thít là một nhánh của sông Hậu, không chỉ là một tuyến đường thủy quan trọng của cả đồng bằng sông Cửu Long mà còn có trữ lượng thủy sản lớn, cung cấp nguồn phù sa dồi dào; cho gạo thơm, trái ngọt đồng thời cung cấp diện tích mặt nước cho nghề nuôi cá bè đạt năng suất cao.


5. Tại Đồng Tháp:

- Sông Tiền, Sông Hậu thuộc hệ thống Sông Mê Công.

- Nhánh chính sông Đồng Nai ở khúc hạ lưu thường gọi là sông Nhà Bè. Sách xưa gọi sông này là "Phước Bình". Sông Đồng Nai hoà với nước của sông.

- Các sông khác tại Đồng Tháp:

+ Vàm Cỏ từ Long An đổ về trước khi tuôn ra biển Đông.

+ Hai phân lưu chính của sông Đồng Nai là sông Soài Rạp đổ vào vịnh Soài Rạp tại cửa Soài Rạp.


6. Tại An Giang:

- Các Sông tại An Giang gồm: Sông Bình Di, Sông Châu Đốc, Sông Hậu, Sông Vàm Nao thuộc hệ thống Sông Mekong.

- Các sông khác tại An Giang gồm: Kênh Thoại Hà, Kênh Vĩnh Tế.

- Sông Bình Di: Sông Bình Di là một chi lưu của sông Hậu khi vào địa phận Việt Nam tại huyện An Phú. Bắt nguồn từ biên giới Campuchia, sông Hậu chia làm hai nhánh tại xã Khánh Bình, bao trọn cù lao An Phú rồi hợp lưu lại tại ngã ba sông Châu Đốc. Nhánh nhỏ bên trái gọi là sông Bình Di (hoặc còn gọi là sông Châu Đốc, nhánh lớn bên phải gọi là sông Hậu. Từ nhánh sông nhỏ phía bên trái này, xuôi theo hạ lưu khoảng 7 km sẽ có một nhánh sông nhỏ dẫn vào hồ nước ngọt rộng lớn gọi là Búng Bình Thiên, xuôi tiếp theo hạ lưu khoảng hơn 3 km nữa sẽ đến ngã ba sông Châu Đốc, nơi có cửa khẩu Bắc Đai (xã Nhơn Hội), rẽ trái 25 km là đến thị xã Châu Đốc, rẽ phải là vào địa phận nước bạn Campuchia, hai bên bờ là 2 tỉnh của Campuchia bờ trái là tỉnh Takeo, còn bờ phải là tỉnh Kaldal. Từ ngã ba sông Châu Đốc-Bình Di tại cửa khẩu Bắc Đai theo hướng thị xã Châu Đốc chừng 12 km sẽ có một cửa khẩu Dung Thăng thuộc xã Vĩnh Hội Đông huyên An Phú. Tổng chiều dài sông Bình Di khoảng 33 km, trong đó đoạn đầu tiên chỉ 10 km từ xã Khánh Bình đến địa phận cửa khẩu Bắc Đai (xã Nhơn Hội) có hơn 10 khúc cua kiểu tay áo. Mùa lũ nước chảy xiết, nhiều đoạn lòng sông hẹp nhưng rất sâu. Khu vực này khi nước rút, ở các khúc sông (thường là các hàm ếch ăn sâu vào đất liên, là nơi trú ngụ của nhiều loài đá đặc dụng của sông Mê Kông như: các cóc, ngát, cá tra, cá trèn, cá heo ... đó là chưa kể đến các đặc sản phổ biến như cá linh, tôm càng ... Đây là một trong những khu vực còn thuần đặc sản nhất của An Giang nói riêng và Mê Kông nói chung.


6. Tại Cần Thơ: Sông Hậu thuộc hệ thống Sông Mekong.

7. Tại Hậu Giang:

- Sông Hậu, Sông Cổ Chiên thuộc hệ thống Sông Mê Công.

- Sông khác tại Vĩnh Long có Sông Mang Thít.

8. Tại Sóc Trăng: Sông Hậu thuộc hệ thống Sông Mekong.

8.1. Sông Mỹ Thạnh:

- Sông Mỹ Thạnh là một con sông nhỏ tại tỉnh Sóc Trăng Sông được bắt đầu từ sông Cổ Cò tại địa phận xã Thạnh Thới Thuận, huyện Mỹ Xuyên, chảy theo hướng đông bắc tới địa phận xã Viên Bình, Mỹ Xuyên đổi sang hướng đông nam và đổ ra biển Đông tại cửa Mỹ Thạnh.

- Sông có chiều dài khoảng 25km, làm ranh giới tự nhiên giữa huyện Vĩnh Châu và Mỹ Xuyên, giữa huyện Vĩnh Châu và Long Phú.

8.2. Sông Cổ Cò:

- Sông Cổ Cò là một con sông nhỏ tại tỉnh Sóc Trăng Sông được bắt đầu từ kênh Bạc Liêu của tỉnh Bạc Liêu, chảy vào Sóc Trăng tại địa phận xã Hoà Tú 2, huyện Mỹ Xuyên. Từ đây sông chảy theo hướng đông bắc và nhập vào sông Mỹ Thạnh tại địa phận xã Thạnh Thới Thuận, huyện Mỹ Xuyên.

- Sông có chiều dài khoảng 25km, làm thành ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Mỹ Xuyên và Vĩnh Châu.


9. Tại Bạc Liêu:

- Hệ thống kênh gồm: Kênh Quản Lộ- Phụng Hiệp, kênh Cạnh Đền, kênh Phó Sinh, kênh Giá Rai.

- Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của Bạc Liêu nối với biển bằng cửa Gành Hào, cửa Nhà Mát và cửa Cái Cùng.


10. Tại Cà Mau:

10.1. Sông Cửa Lớn:

- Sông Cửa Lớn hay Đại Môn Giang là một con kênh dài 58 km rộng 600 m và sâu 12 m ở tỉnh Cà Mau, nối biển Đông với biển Tây. Con kênh này đầu bên biển Đông là cửa Bồ Đề. Còn đầu bên biển Tây là cửa Mũi Ông Trang, gần mũi Cà Mau. Đoạn từ ngã ba sông Đầm Dơi và sông Cửu Lớn đến cửa Bồ Đề còn được gọi là sông Bồ Đề.

- Đại Môn Giang là ranh giới tự nhiên giữa huyện Năm Căn và huyện Ngọc Hiển, tách khu vực cuối cực nam của bán đảo Cà Mau thành một đảo, hiện chưa có cầu bắc qua đây.

- Nước ở đây là nước lợ vì có một số sông nhỏ là sông Đầm Dơi, sông Đầm Chim và sông Cái Ngang đổ nước ngọt vào lẫn nước biển ở kênh này. Sông Bồ Đề là một phân lưu ra biển của sông Cửa Lớn.

- Đại Môn Giang là một nơi khai thác các loại thủy sản nước lợ của cư dân sống quanh khu vực này. Cảng Năm Căn nằm trên sông Cửa Lớn, phía tả ngạn gần thị trấn Năm Căn.


10.2. Sông Bảy Hạp: Sông Bảy Hạp, chảy từ Quản Long (An Xuyên) ra vịnh Rạch Giá ở cửa Bảy Hạp.

10.3. Kênh Cái Nháp: Từ Ngã ba sông Bảy Hạp đến Ngã ba sông Cửa Lớn.

10.4. Sông Gành Hào: Sông Gành Hào, cũng từ Quản Long, nhưng chảy về phía Đông Hải, ra biển ở cửa Gành Hào.

10.5. Sông Bồ Đề: Sông Bồ Đề là một con sông nhỏ tại tỉnh Cà Mau.Sông được bắt đầu tại đoạn giao nhau giữa sông Cửa Lớn và sông Đầm Dơi, tại địa phận xã Tam Giang, huyện Ngọc Hiển. Từ đây sông chảy theo hướng đông nam đổ ra biển Đông. Sông có chiều dài khoảng 10km, hai bên bờ là rừng ngập mặn.


10.6. Sông Trẹm:

- Sông Trẹm (còn gọi là sông Tràm Trẹm) là một chi lưu dài 36 km của sông Ông Đốc, có nguồn là sông Cái Lớn qua kênh Chắc Băng. Sông chảy qua và làm ranh giới của huyện An Minh (tỉnh Kiên Giang) và huyện Thới Bình (tỉnh Cà Mau), hội lưu với sông Ông Đốc tại ráp gianh giữa xã Khánh An và xã Hồ Thị Kỷ. Sông Trẹm chia Rừng U Minh thành hai vùng thượng và hạ. U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang. Cầu Vĩnh Thuận trên quốc lộ 63 được khánh thành năm 2002 bắc qua sông Trẹm, nối Cà Mau với Kiên Giang.

- Hệ thống rừng ở đây có gần 300 loài thực vật và động vật phong phú. Khu vườn sưu tập này tựa như một khu rừng nguyên sinh chưa bị tác động của bàn tay con người. Vườn động thực vật Sông Trẹm có tới 30 loài bò sát cùng 21 loài thú rừng lớn nhỏ,chim có 96 loài. Ngoài ra vườn sưu tập động thực vật Sông Trẹm còn du nhập được nhiều loài mới lạ từ các hệ sinh thái khác đem về thuần dưỡng như nai rừng, cá sấu, vượn, gấu, đà điểu... Đặc biệt, đàn đà điểu ở đây phát triển rất tốt, ăn khoẻ, mau lớn. Trong đàn hiện có những con nặng trên 100 kg.

- Sông Trẹm là bối cảnh cho tiểu thuyết Bên dòng sông Trẹm của nhà văn nhà văn Dương Hà và các vở cải lương và phim truyện cùng tên.


10.7. Sông Ông Đốc:

- Sông Ông Đốc hay Sông Đốc là tên một con sông tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Sông dài 58 km, đổ ra vịnh Thái Lan. Hai bên sông có nhiều rạch: rạch Cái Tàu, rạch Giếng, rạch Cui...

- Sông này vốn có tên là Khoa Giang. Tương truyền ngày trước, Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đuổi đánh đến đây. Đô đốc thủy binh Nguyễn Văn Vàng đã xin Nguyễn Ánh được mặc hoàng bào để nghi binh cho Nguyễn Ánh trốn. Vị đô đốc này hy sinh; sau này được lập miếu thờ tại vùng này vào năm 1802. Từ đó, sông này được dân gian gọi là sông Ông Đốc.

- Hiện nay thị trấn Sông Đốc đang có thủ tục đề nghị Chính phủ nâng lên thị xã.


11. Tại Kiên Giang:

- Sông Trẹm (10.6).

11.1. Kênh Vĩnh Tế:

- Kinh Vĩnh Tế là một con kênh đào nổi tiếng, nằm tại địa phận hai tỉnh An Giang và Kiên Giang, thuộc đồng bằng sông Cửu Long.

- Vào năm 1816, khi thành Châu Đốc được đắp xong, Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh Lưu Phước Tường tâu lên, vua Gia Long xem địa đồ miền đất này liền truyền: Xứ này nếu mở đường thủy thông với Hà Tiên, thì hai đàng nông thương đều lợi. Trong tương lai, dân đến ở làng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một trấn to vậy.

- Mãi đến tháng 9 năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long mới cho lệnh đào kênh, và công việc được bắt đầu khởi công vào tháng Chạp năm ấy, trải qua mấy giai đoạn trong suốt 5 năm, đến tháng 5 năm Nhâm Thân (1824), dưới triều vua Minh Mạng mới xong.

- Kênh đào song song với đường biên giới Việt Nam- Campuchia, từ bờ tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành, thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Dưới sự chỉ huy của Trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu cùng với hai ông là Chưởng cơ Nguyễn Văn Tuyên (1763-1831), Điều Bát Nguyễn Văn Tồn (1763–1820). Sau có thêm Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt (1764-1832) cùng hai Phó tổng trấn là Trương Tấn Bửu, Trần Văn Năng và Thống chế Trần Công Lại góp sức.

- Sau khi lên ngôi, năm 1822, vua Minh Mạng lập tức ra lệnh cho Tổng trấn Lê Văn Duyệt huy động thêm nhiều dân binh thi công suốt ngày đêm. Cho nên khi tin vui về đến Huế, vua Minh Mạng rất đổi mãn nguyện vì nối được chí cha, liền sắc khen thưởng, dựng bia ở núi Sam và ở bờ kênh mới đào để ghi nhớ thành quả to lớn này. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua cho đúc Cửu đỉnh để làm quốc bảo và tượng trưng cho sự miên viễn của hoàng gia, hình kênh Vĩnh Tế được chạm khắc vào Cao đỉnh.

- Kênh hoàn thành với chiều dài 205 dặm rưỡi (91km), rộng 7 trượng 5 thước (25m), sâu 6 thước (3m) và hiện nay nhờ nhiều lần nạo vét, nên đã sâu hơn nhiều.


11.2. Kênh Thoại Hà:

- Kênh Thoại Hà (hay kênh Thụy Hà, kênh Tam Khê, kênh Đông Xuyên,Đông Xuyên Cảng đạo) nối liền Thoại Sơn (An Giang) với Rạch Giá (Kiên Giang), là một công trình thoát lũ đầu tiên của nhà Nguyễn ở đồng bằng sông Cửu Long.

- Năm 1817, khi Thoại Ngọc Hầu về trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, thấy việc giao thông thương mại ở vùng đất này gặp nhiều khó khăn do phải đi vòng đường biển thật bất tiện. Và cũng nhận thấy cần phải khơi nguồn để tháo bớt một phần nước lụt của sông Hậu ra biển Rạch Giá. Vì hai lẽ đó, ông đã nghĩ ngay đến việc phải đào một con kênh.

- Kênh khởi công vào đầu năm 1818, nối rạch Đông Xuyên (nay là sông Long Xuyên) ở Tam Khê  với ngọn Giá Khê, Rạch Giá (Kiên Giang). Kênh đào xong, ông được vua Gia Long khen ngợi và cho phép Ông lấy tên mình để đặt tên cho con kênh mới đào là Thoại Hà và núi Sập là Thoại Sơn.

- Để đánh dấu một công trình nhiều ý nghĩa này, Thoại Ngọc Hầu cho soạn một bài văn khắc vào bia đá. Đầu bia chạm to hai chữ Thoại Sơn. Năm Minh Mạng thứ ba (1822), ông long trọng làm lễ dựng bia tại miếu thờ Sơn thần (nay là ngôi đình thờ ông làm Thành Hoàng) bên triền núi Sập.


11.3. Sông Cái Lớn:

- Sông Cái Lớn là một con sông lớn tại tỉnh Kiên Giang.Sông được bắt nguồn từ rạch Cái Lớn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, dòng chảy rộng dần vào Kiên Giang tại địa phận xã Vĩnh Thắng, huyện Gò Quao. Từ đây sông chảy theo hướng tây - bắc đổ ra vịnh Rạch Giá tại thành phố Rạch Giá.

- Sông có chiều dài khoảng 60km, chảy qua và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Gò Quao, Vĩnh Thuận, An Biên và giữa huyện Châu Thành, An Biên.


11.4. Sông Giang Thạnh: Sông Giang Thạnh phát nguyên từ Campuchia vào Việt Nam ở đỉnh Bắc tỉnh Kiên Giang, đổ ra vịnh Rạch Giá ở Hà Tiên.


11.5. Sông Cái Bé: Sông Cái Bé cũng  phát nguyên từ tỉnh Hậu Giang đổ ra biển ở Rạch Giá.


C. HỆ THỐNG KÊNH ĐÀO MIỀN TÂY: 

Miền Tây Nam bộ có một hệ thống kênh đào chằng chịt, nối các sông lớn nhỏ thành một hệ thống thủy lộ và thủy nông quan trọng. Những kênh đào chính có thể liệt kê theo thứ tự địa dư từ Long An xuống tới Cà Mau như sau:

- Kênh Kỳ Hương, Mười Hai (Long An).

- Kênh Xáng An Long, Tháp Mười, Đồng Tiến (Đồng Tháp).

- Kênh Vĩnh Tế, Thần Nông, Ba Thê, Tri Tôn (An Giang).

- Kênh Mỹ Tho, Thương Mãi (Tiền Giang).

- Kênh Bốn Tổng, Kênh Cái Sắn, Kênh Thốt Nốt (An Giang - Cần Thơ).

- Kênh Lấp Vò, (Đồng Tháp).

- Kinh Hà Tiên - Rạch Giá, Rạch Giá - Thất Sơn, Rạch Giá - Long Xuyên, Cán Gáo (Kiên Giang).

- Kênh An Trường (Vĩnh Long).

- Kênh Long Vĩnh (Trà Vinh).

- Kênh Ô Môn, Kênh Xà No, Kênh Phụng Hiệp (Cần Thơ - Hậu Giang).

- Kênh Trèm, Cái Lớn (Hậu Giang - Cà Mau).

- Kênh Khánh Hưng, Quan Lộ - Phụng Hiệp, Cai Xe (Sóc Trăng).

- Bạc Liêu: Kênh Canh Đền - Quan Lộ, Quan Lộ - Bạc Liêu, Phước Long - Vĩnh Mỹ, Quan Lộ - Gia Rai, Trèm - Hộ Phòng, Gành Hào - Gia Rai, Kênh Tắc Vân.

- Cà Mau: Kênh Kiểm Lâm, Kênh Cà Mau - Gia Rai, Kênh Lương Thế Trân, Kênh Hộ Phòng - Gành Hào, Kênh Bảy Hạp - Gành Hào, Kênh Tắt - Năm Căn.


D. HỆ THỐNG SUỐI NHIỆT KHOÁNG VIỆT NAM: 

Theo đặc tính hóa chất, các suối nhiệt khoáng sulfat nằm rải rác trên các vùng cao nguyên Tây-Bắc và  Bắc Bộ, các suối nhiệt khoáng bicarbonate lại xuất hiện từ vùng cao nguyên phía Tây Trường Sơn và đồng bằng Nam Bộ:

- Loại suối sulfat calci và magné ở Yên Báy, Sơn La.

- Loại suối clorure natri, sulfure calci và magné ở Sơn La và Ninh Bình.

- Loại suối sulfure hydro và natri ở Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu.

- Loại suối bicarbonate calci ở Lào Kay, Sơn La, Hòa Bình, Thừa Thiên, và miền Nam Trung phần.

- Loại suối carbonate natri như suối Vĩnh Hảo, sông Châu Cát ở Bình Thuận.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét