Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

19. Phụ lục: Bảng các triều đại

 


Phụ lục

Bảng các triều đại

Phụ lục I

Bảng các triều đại

Tôi theo bảng trong bộ Từ Nguyên, bảng này khác với bảng mà đa số học giả Pháp dùng, nhưng chỉ khác tới trước năm -827 thôi. Trước -827 các niên đại trong bảng Từ Nguyên xa hơn; từ năm đó trở đi, niên đại trong hai bảng y như nhau.

Tôi bỏ bớt nhiều đời vua trước đời Tần, những đời mà trong sử ít nhắc tới.

1. Thời Ngũ Đế (có ngôi sao ở trước)

Năm lên ngôi

°Hoàng Đế 2697

Thiếu Hạo (Phục Hi 2597

°Chuyên Húc 2513

°Đế Khốc 2435

Đế Chí 2365

°(Đường Nghiêu 2357

°(Ngu Thuấn 2255

2. Đời Hạ (2205 – 1766)

Năm lên ngôi 1

Vũ (cũng gọi là Đại Vũ 2205)

Khải 2197

Thái Khang 2188

Trọng Khang 2159

Tiếp theo là 12 đời vua nữa

rồi tiếp vua cuối cùng là Kiệt 1815

3. Đời Thương hay Ân (1766 – 1122)

Năm lên ngôi

Thang 1766

Thái Giáp 1753

Tiếp theo là 25 đời vua

rồi tiếp vua cuối cùng là Trụ 1122

4. Đời Chu (1122 – 255

Võ Vương 1122

Thành Vương 1115

Khang Vương 1078

Tuyên Vương 2 827

...............

bỏ 22 đời đến

Noản vương 314 – 255

(Noản Vưong bị Tần bắt đưa qua Tần – Nhà Chu chấm dứt năm 255

5. Đời Nhà Tần 3 255- 207

Chiên Tương Vương chiếm Chu 256

Hiến Văn Chương (3 ngày thì chết 250)

Trang Tương Vương 250

Thủy Hoàng Đế 246

Từ Anh 207

6. Nhà Hán – 208 +220

Tiền hoặc Tây Hán

Cao đế (Cao tổ tức Lưu Bang 206)

Huệ đế 25

Lữ Hậu (vợ Cao đế 187

Cảnh đế 156

Võ đế 4 140

Chiêu đế 86

Tuyên đế 73

Nguyên đế 48

Thành đế 32

Ai đế - 6

Bình đế + 1

(Nhà Tần Vương Mãng + 9)

Hậu hoặc Đông Hán

Quang Võ đế 50

Minh đế 58

Chương đế 76

Hòa đế 89

Thương đế 106

An đế 107

Thuận đế 126

Xung đế 145

Chất đế 146

Hoàn đế 147

Linh đế 168

Thiếu đế 189

Hiến đế 189

7. Thời Tam Quốc - Nhà Ngụy 220 – 265

Nhà Thục Hán 221 – 264

Nhà Ngô 229 – 280

Tôi bỏ bớt chỉ kể vài tên:

Ngụy Vân đế 220

Ngụy Minh đế 227

Ngụy Phế đế 224

Hán Chiêu Liệt 221

Hán Hậu chủ 223

Ngô Đại đế 222

Ngô Phế đế 252

8. Nhà Tấn 265 – 420

Tây Tấn

Võ đế (3 265

Huệ đế 290

Hoài đế 307

Mẫn đế 313

Đông Tấn

Nguyên đế 317

Minh đế 323

Thành đế 326

Khang đế 343

Mục đế 345

Ai đế 362

Phế đế 366

Giản Văn đế 371

Hiến Vũ đế 373

An đế 397

Cung đế 419

9. Nam Triều 420 – 589

Tống

Vũ đế 265

............................... bỏ bảy đời

Tề

Cao đế 479

Võ đế 482

............... bỏ 5 đời

Lương

Võ đế 502

Giản Văn đế 549

.............................. bỏ 4 đời

Trần

Võ đế 557

Văn đế 560

..................... bỏ 3 đời

10. Bắc Triều 386 – 581

Bắc ngụy 386 – 533

Đông Ngụy 534 – 557

Tây Ngụy 556 – 581

Bắc Chu 556 – 581

Những triều này sử Trung Hoa không cho là chính thống nên không chép các đời vua.

11.Tùy 589 – 618

Văn đế 589

Dạng đế 605

Cung đế 617

12. Đường 618 – 907

Cao Tổ 618

Thái Tôn 627

Cao Tôn 650

Trung Tôn 684

(bị Võ hậu phế)

Huyền Tôn 713

(Minh Hoàng)

Túc Tôn 756

Đại Tôn 763

Đức Tôn 780

Thuận Tôn 805

Hiếu Tôn 806

Duệ đế (do Võ hậu lập 684

Võ hậu xưng đế 684

chết ................. 705

Trung Tôn (phục vị 705)

Duệ Tôn 710

Mục Tôn 821

Kính Tôn 825

Văn Tôn 827

Tuyên Tôn 847

Ý Tôn 860

Hi Tôn 874

Chiêu Tôn 889

Chiêu Tuyên đế 904

13. Ngũ Đại 907 – 960

(Tôi bỏ các vua Liêu, gốc Kiết Đan)

Hậu Lương

Thái tổ 907

Mạt đế 913

Hậu Đường

Trang Tôn 923

Minh Tôn 926

Hậu Tấn

Cao tổ 936

Xuất đế 942

Hậu Hán

Ẩn đế 948

Hậu Chu 951

Mẫn đế 933

Thái tổ 951

Thế Tôn 954

Cung đế 959

14 - Tống 960 – 1279

(Tôi bỏ các vua Liêu và Kim)

Bắc Tống

Thái tổ 960

Thái Tôn 976

Chân Tôn 998

Nhân Tôn 1.063

Anh Tôn 1.063

Thần Tôn 1.067

Triết Tôn 1.086

Nam Tống

Cao Tôn 1.127

Hiếu Tôn 1.062

Quang Tôn 1.189

Ninh Tôn 1.194

Lý Tôn 1.224

Độ Tôn 1.265

Cung đế 1.275

Huy Tôn 1.100

Khâm Tôn 1.126

15 - Nguyên 1206 – 1279 (Mông Cổ)

Thái tổ (Jengis 1.206)

Thái Tôn (Ogodéi 1.229)

Định Tôn .... Chết

Hoàng hậu lên 1.246

Hiến Tôn (Mongka 1.260)

Thế Tôn (Khoubilai 1.260)

Thành Tôn 1.294

Vũ Tôn 1.307

Nhân Tôn 1.311

Anh Tôn 1.320

Thái Định đế 1.323

Minh Tôn 1.329

Ninh Tôn 1.332

Thuận đế 1.333

16 - Đời Minh 1368 – 1644

Thái tổ - Hồng Vũ 5 1368

Huệ đế - Kiến Văn 1402

Nhân Tôn - Hồng Hi 1424

Tuyên Tôn – Tuyên Đức 1424

Anh Tôn – Chính Thống 1435

Cảnh Tôn - Cảnh Thái 1449

(Khi lên ngôi trở lại -

Thiên Thuận 1457

Hiến Tôn – Thành Hóa 1465

Hiếu Tôn - Hoằng Trị 1487

Võ Tôn – (Chính Đức 1505)

Thế Tôn – Gia Tĩnh 1522

Mục Tôn – Long Khánh 1566

Thần Tôn - Vạn Lịch 1572

Quang Tôn – Thái Xương 1620

Hi Tôn – Thiên Khải 1620

Tư Tôn – Sùng Trinh 1627

17. Đời Thanh 1583 – 1912 (Mãn Châu)

Thái tổ 1583

Thái Tôn 1627

Thế Tổ - Thuận Trị 1644

Thánh Tổ - Khang Hi 1661

Thế Tôn – Ung Chính 1723

Cao Tôn- Càn Long 1736

Nhân Tôn – Gia Khánh 1796

Tuyên Tôn – Đao Quang 1821

Văn Tôn – Hàm Phong 1851

Mục Tôn - Đồng Trị 1862

Đức Tôn – Quang Tự 1875

Phổ Nghi – Tuyên Thống 1900

Từ Hi thái hậu cầm quyền suốt đời Quang Tự

PHỤ LỤC II

SỰ VIỆC QUAN TRỌNG TỪ 1911 đến 1973

(Tôi tóm tắt tài liệu của Alain Peyrefitte trong Quand la Chine s’ éveillera...tr 445 – 455)

A. CỘNG HÒA TIỂU TƯ SẢN (1911 – 1927)

10. 10.1911. Cách mạng Vũ Xương (Hán Khẩu). Trong 50 ngày, cách mạng lan tới 14 trong số 18 tỉnh, tuyên bố không tùy thuộc Mãn Thanh nữa.

1.1.1912 Thành lập, Chính phủ cộng hòa ở Nam Kinh, Tôn Văn ở Mỹ về, được bầu làm Tổng Thống.

Dùng Tây lịch.

Thân Vương Cung, phụ chính đại thần, cầu cứu Viên Thế Khải, Viên đòi được toàn quyền.

12.2.1912  Viên thuyết phục được Phổ Nghi phải thoái vị. Viên nắm hết quyền.

15. 2. 1912 Tôn Văn nhường chức Tổng Thống cho Viên.

8.4.1923 Quốc Hội họp ở Bắc Kinh, phản đối Viên, bị Viên giải tán. Viên dẹp luôn Quốc Dân đảng. Tôn Văn lánh qua Nhật.

1914 Nhật tuyên chiến với Đức (thế chiến I), rồi chiếm Sơn Đông cùng các nhượng địa khác của Đức.

12.1.1915 Nhật đưa 21 điều “yêu cầu” cho Bắc Kinh, muốn biến Trung Hoa thành một nước bảo hộ của Nhật. Viên điều đình không được, khắp nước nổi lên phong trào chống Nhật.

1915 – 23.3.1916 Viên vận động để được bầu làm hoàng đế. Phe cộng hoà và các tướng nổi lên chống đối. Viên phải bỏ ý đó non 100 ngày sau, và chết tháng 6 – 1916.

1916 - Thời quân phiệt làm loạn bắt đầu. Ở Bắc, còn một chính phủ hữu danh vô thực tại Bắc Kinh. Ở Nam, Tôn Văn lập một chính phủ Cộng hòa tại Nam Kinh. Sự thực các đốc quân chia nhau mỗi người chiếm một nơi, làm chúa trong miền và đánh nhau lung tung.

1918 – 1919 Trung Hoa cho 175.000 thợ qua Pháp giúp đồng minh, và 400 sinh viên thợ, trong số đó có Chu Ân Lai và Chen Yi.

4.5.1916 Ngũ tứ vận động

Phong trào vận động dân tộc đầu tiên do sinh viên Bắc Kinh phát động rồi lan khắp nước để phản đối hội nghị Versailles cho Nhật hưởng những quyền của Đức ở Sơn Đông.

Một số trí thức ghét Tây Phương hướng về Nga Sô vì Nga Sô tuyên bố bỏ hết các quyền lợi thời Nga hoàng ở Trung Hoa (nhưng không trả lại các đất Nga đã chiếm được thời trước ở Sibérie và ở các tỉnh bờ biển).

1921 Hội nghị Washington yêu cầu Nhật trả Sơn Đông cho Trung Hoa.

1.7.1921 Thành lập đảng Cộng sản Trung Hoa ở Thượng Hải gồm 12 người tới dự. Trần Độc Tú được bầu làm tổng thư ký, Mao Trạch Đông làm thư ký đảng ở Hồ Nam.

1921 – 1922 Thành lập những tổ Cộng sản Trung Hoa ở Pháp, Bỉ, Đức.

1923 – 1927 Mặt trận thống nhất đầu tiên Quốc Cộng (do sự thoả hiệp giữa Tôn Văn và Joff), đại diện cho Lénine. Cộng sản được nhận vào Quốc dân đảng,

1923 Mao được làm ủy viên trung ương của đảng, chủ tịch phòng (cũng gọi là bộ tổ chức.)

1924 Ngoại Mông tuyên bố thành lập Chính phủ Cộng Hoà Xô Viết.

30. 5. 1925 Ngũ táp vận động. Tẩy chay ngoại nhân, đình công.

Tôn Văn chết, Tưởng Giới Thạch cầm đầu Quốc dân đảng.

Mao vận động nông dân ở Hồ nam

1925 – 1926 Tưởng Giới Thạch và Cộng Sản chống đối nhau.

B. NỘI CHIẾN ĐẦU TIÊN (1927 – 1936)

1927 Mao trong bài điều tra về phong trào nông dân ở Hồ nam cho nông dân là lực lượng chính của cách mạng. Chủ trương đó bị ủy ban trung ương Đảng gạt bỏ. Mao mất chân trong phòng chính trị của Đảng.

Tháng 4, Tưởng Giới Thạch tấn công Cộng sản ở các thị trấn lớn nhất là Thượng Hải. Đảng mất đầu, lui vào bóng tối hoạt động.

1928 Tưởng Giới Thạch vô Bắc Kinh, dùng chế độ độc tài quân nhân. Mao Trạc Đông và Chu Đức trốn vào miền núi Hồ Nam và Giang Tây lập đạo hồng quân thứ nhất và một Xô Viết trong miền.

1929 Mao và Chu lập chính phủ Xô Viết ở Giang Tây. Anh trả vài nhượng địa cho Trung Hoa.

1930 Trung Hoa thừa nhận quyền của Pháp ở Đông Dương. Mao và Lý Lập Tam bất đồng ý kiến: Mao dùng nông dân, Lý dùng thợ thuyền làm chủ lực cách mạng (Lý làm chủ tịch đảng).

Tưởng lại tấn công - Vợ Mao bị Tưởng giết.

Cộng lại thất bại ở vài thị trấn: Tràng sà, Vũ Hán, Nam Xương.

1931 Nhật chiếm Mãn Châu, lập Mãn Châu quốc.

Đại hộu thứ I của đảng Cộng sản hợp ở Thụy Kim, bầu Mao làm chủ tịch chính phủ đầu tiên Cộng Hoà Xô Viết (ở Giang Tây) – và Chu Đức làm tổng tư lệnh Hồng Quân.

1933. Nhật chiếm một phần Hà Bắc (tỉnh có kinh đô Bắc kinh).

Từ 10. 1934 đến 10. 1935 Hồng quân ở Giang Tây bị Tưởng bao vây; Mao và Chu Đức dẫn đầu Hồng Quân, làm cuộc trường hành tới Thiểm Tây dài 12.000 cây số, tới Thiểm Tây. Mất một năm.

1935 – 1936 Ba đạo quân khác cũng trường hành tới Thiểm Tây, hợp với quân của Mao – Chu.

12 – 1936 Thành lập một chính phủ kháng Nhật ở Diên An. Mao làm chủ tịch.

C. MẶT TRẬN THỐNG NHẤT QUỐC - CỘNG ĐỂ KHÁNG NHẬT

12- 1936 Vụ Tây An - Tưởng bị bộ hạ là Trương Học Lương bắt cóc. Chu Ân Lai ở Diên An lại thuyết phục Tưởng cùng với Cộng lập mặt trận thống nhất kháng Nhật. Tưởng được thả.

1937 Nhật chiếm Hoa Bắc và miền Thượng Hải.

1940. Tưởng và chính phủ Quốc dân đảng rút lên Trùng Khánh (Tứ Xuyên)

1940 – 1941 Mặt trận thống nhất kháng Nhật tan rã.

1942. Một phong trào chỉnh phong trong đảng Cộng sản; phe thân Nga sô bị "chỉnh"

1943. Lưu Khiết Kỳ nhận rằng Mao đã tạo một thứ "Mác xít Trung Hoa". Theo Chu Ân Lai đảng có 800.000 đảng viên.

1945. Hiệp ước thân thiện Nga - Tưởng Giới Thạch. Sau khi Nhật đầu hàng. Hồng quân chiếm Hoa Bắc và Mãn Châu trước các đạo quân của Tưởng, những đạo quân này được Mỹ giúp cho phương tiện di chuyển.

D. NỘI CHIẾN THỨ NHÌ (1947 – 1949)

Cộng sản tiếp tục tuyên truyền trong giới nông dân về tinh thần dân tộc, cải cách điền địa, Nga vẫn chính thức ủng hộ Tưởng Giới Thạch.

1948 Lâm Bưu diệt quân tộc, cải cách điền địa, Nga vẫn chính thức ủng hộ Tưởng Giới Thạch.

1 – 1949 Hồng quân vô Bắc Kinh.

1949 Quân đội của Tưởng thua, rút ra Đài Loan.

E. THÀNH LẬP CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG QUỐC (1949 - 1957)

1949-1952. Thời theo chế độ "Tân dân chủ". Diệt kẻ chống đối và uốn nắn ý thức của dân chúng.

1-10-1949.Tuyên bố thành lập chính phủ Cộng Hoà. Mao làm chủ tịch.

1950 Ký hiệp ước thân thiện với Nga Sô.

Chiến tranh Triều Tiên. Do Nga thúc, Mao phải gởi "chí nguyện quân" qua Bắc Triều Tiên. Đài Loan được Mỹ bảo vệ cho.

Cải cách đìền địa.

1953 - 1957 Thời xây dựng kinh tế

1953. Đình chiến ở Triều Tiên.

Staline chết.

1954. Kroutchev qua thăm Bắc Kinh lần đầu.

1956 - 1957 "Trăm hoa đua nở"

Đảng hứa cho các nhà trí thức được hưởng tự do hơn. Trong mấy tuần phong trào chỉ trích đường lối văn nghệ của chính quyền nổi lên mạnh quá. Phải đản áp dữ dội; mấy trăm ngàn trí thức phải đi cải tạo.

F. THỜI NHẢY VỌT VÀ TỰ DO VỀ KINH TẾ 1958 – 1965

1958 Kế hoạch năm năm thứ nhì.

Năm " Nhảy vọt ", dự tính thực hiện xong trong hai năm mục tiêu của kế hoạch 5 năm.

Thành lập công xã nhân dân.

Kroutchev rút lời hứa giúp Trung Hoa chế tạo bom hạch tâm.

Trung Hoa không chịu ở dưới quyền chỉ huy quân sự của Nga nữa.

1959 – 1962 Thời khó khăn về kinh tế.

1959. Mao từ chức chủ tịch nhà nước.

Lưu Thiếu Kỳ lên thay.

Mao vẫn giữ chức chủ tịch Đảng.

8 – 1959 Ủy ban trung ương Đảng họp ở Lư Sơn. Hai phe "hữu" và "tả" chống nhau dữ dội. Bành Đức Hoài, Bộ trưởng Quốc phòng bị cách chức.

8 – 1960 Moscou gọi tất cả các kỹ thuật gia và cố vấn về nước. Trung Hoa kết tội Kroutchev là "xét lại".

1961. Trong cuộc đại hội đảng Sô Viết ở Moscou, Chu Ân Lai bỏ phòng họp khi Kroutchev vạch lỗi của Đảng Cộng sản Albanie.

Luôn ba năm 1959 – 1960 – 1961 Trung Hoa mất mùa. Đói kém tột bực.

9-1962. Lại họp ở Lư Sơn. Ý thức hệ hóa cứng rắn hơn.

- Mở "phong trào giáo dục xã hội" để nâng cao tinh thần cách mạng của trí thức và nông dân.

- Tôn thờ "tư tưởng Mao Trạch Đông".

- Lâm Bưu sửa lại ý thức hệ trong quân đội.

1963 – 1965. Giai đoạn phục hồi kinh tế.

1963 Chu Ân Lai đi thăm các nước châu Phi dể tuyên truyền lối cách mạng của Trung Hoa.

1-1964. Pháp và Hoa lục bàn việc trao đổi đại sứ.

Nga – Hoa càng thù hằn nhau.

G. CUỘC CÁCH MẠNG VĂN HÓA VÀ PHẢN ỨNG (1966 – 1973)

Từ 11-1965 đến 4-1969 biến cố rất phức tạp, khó sắp đặt cách nào để phản ánh được đúng sự thực, sự sắp đặt dưới đây chỉ mong được hợp lý phần nào thôi, như Peyrefitte đã nhận. Vì vậy tôi chỉ chép một số ít sự việc thôi.

Tháng 4 và 5–1966. Chuẩn bị đại tấn công Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình, Lưu là phó chủ tịch Đảng. Đặng là tổng thư ký ủy ban trung ương Đảng vì họ cho lời Bành Đức Hoài trách Mao tiến mau quá, làm dân khổ là đúng.

Bọn vệ binh đỏ chiếm Đại học Bắc Kinh. Các trường đại học đóng cửa.

Từ 1 đến 12 tháng 8 năm 1966. Bắt đầu cuộc Cách mạng văn hóa. Mao tung đại chúng ra tấn công phe xét lại trong đẳng. Lâm Bưu thành phó chủ tịch Đảng, thay Lưu Thiếu Kỳ.

Tháng 8 tới tháng 11–1966. Vệ binh đỏ tấn công các cán bộ cùa Đảng. Ngày 18–8, mấy trăm ngàn vệ binh đỏ diễn qua Thiên An môn, trước mặt Mao. Rồi họ đi từng đoàn khắp nước để thanh trừng cán bộ Đảng tại các thị trấn, đập phá các di tích thời phong kiến (đền, đài, nghệ, phẩm). Sau phong trào lan tới nông thôn. Lưu Thiếu Kỳ phải tự kiểm phê (23 – 10). Họ quá khích, nội bộ vệ binh đỏ chia rẽ, các cơ quan của Đảng tê liệt.

Từ tháng giêng đến tháng 9 – 1967

Tháng giêng, hai Phong trào lan tới giai cấp thợ thuyền, ở Thượng Hải có những cuộc chiến đấu dữ dội. Ngày 5-2. Ở Thượng Hải thành lập công xã Thượng Hải, tả khuynh. Quân đội phải dẹp cuộc hỗn loạn.

Từ tháng 3 đến tháng 8.

Khắp nước đâu đâu cũng có những cuộc đổ máu, nhất là ở Vũ Hán và Quảng Châu, có chiến tranh, nội loạn thật sự.

Bọn "thiên tả" bắt đầu tấn công Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ lại phải tự kiểm phê lần nữa.

Tháng 9 Chu Ân Lai rán lập lại trật tự bằng quân đội.

Tháng 9 – 1968 đến cuối năm 1968. Mao thắng.

Mao đập lung tung phe hữu và phe tả, ủng hộ triệt để Chu. Lâm Bưu mở lớp dạy tư tưởng Mao Trạch Đông trong quân đội.

Tháng 7 tới tháng 10 – 1968

Lưu Thiếu Kỳ bị trục xuất khỏi Đảng. Mao thắng (nghĩa là dẹp được phe Lưu Thiếu Kỳ, nhưng rồi phải thay đổi đường lối).

Tháng 4-1969. Đại học thí IX của Đảng. Bầu Ủy ban trung ương mới. Cải cách kinh tế, hành chánh và đại học. Lưu Thiếu Kỳ chết.

1970 Trung Hoa băng bó lại vết thương.

Tháng 8,9: Họp ủy ban trung ương ở Lư Sơn. Lâm Bưu và Mao bắt đầu chống nhau.

7 – 1971 Trung Hoa và Mỹ thương thuyết ngầm với nhau về việc tổng thống Nixon qua Trung Hoa. Hướng mới về đường lối ngoại giao đó gây bất hòa nội bộ. Mao trục xuất Lâm Bưu và Lâm mất tích (13.9.1971)

H. HƯỚNG MỚI NGOẠI GIAO

25 – 26 thánh 10-1971. Trung Hoa được vô Liên Hiệp quốc (nhờ Mỹ)

1-1972. Tướng Chen Yi (chết)

2-1942 Nixon qua Bắc Kinh.

7–1972 Maurice Schuman qua Trung Hoa.

Trung Hoa bảo Châu Âu phải đoàn kết với nhau để chống Nga.

Mùa hè 1972. Tuyên bố chính thức rằng Lâm Bưu bị trục xuất.

Tháng 9 – 1972. Thủ tướng Nhật Tanaka qua Bắc Kinh.

Tháng 2 – 1973. Henry Kissinger qua Bắc Kinh thành lập phòng liên lạc ngoại giao giữa Bắc Kinh và Washington (tức như sứ quán mà không mang tên sứ quán).

Cũng tháng đó: Hội nghị quốc tế ở Paris về Việt Nam- Từ 1961 – 1962, sau hội nghị về Lào bây giờ Trung Hoa mới lại dự hội nghị này.

Tháng 3 – 1973. Trung Hoa lập lại bang giao với Y Pha Nho, rồi với tất cả các nước Châu Âu, trừ Ái Nhĩ Lan (Irlande), Bồ Đào Nha và Tòa Thánh Vatican. Vậy là Trung Hoa lập bang giao được 88 nước.

Tháng 8 – 1973. Trong đại hội thứ X của Đảng, người ta xác nhận rằng đã thay đổi hẳn đường lối:diệt phe "tả ", Lâm Bưu ; cách mạng văn hòa thóai trào, xích lại với phương Tây, chống Nga hơn, Mao bớt quyền hành mà quyền hành của Chu Ân Lai tăng lên.

Tổng thống Pháp Pompidou qua Bắc Kinh (ông là người đầu tiên trong các nhà lãnh đạo phương Tây qua Trung Hoa).

1976 Mao Trạch Đông chết, Hoa Quốc Phong kế vị.

--------------------------------

1

Năm cuối của một ông vua thuộc trọn về ông đó, dù ông chết vào khoảng đầu năm. Năm sau mới thuộc về vua sau.

2

Từ đây mới thật có tín sử.

3

Từ đây tôi chép đủ các đời vua của những triều đại quan trọng.

4

Những tên Võ đế, Cảnh đế, Vạn đế.... đều là miếu hiệu, tên để thờ trong tôn miếu của mõi nhà. Hán Võ đế là ông vua đầu tiên dùng thêm niên hiệu (nom de prériode), như năm 140 dùng niên hiệu Kiến Nguyên, năm 134 dùng niên hiệu Nguyên quang..... ông dùng tới 11 niên hiệu. Vua Cao Tôn đời Đường dùng tới 14 niên hiệu. Tôi bỏ hết các niên hiệu đó. Đời Minh và Thanh, mỗi vua chỉ dùng một niên hiệu, và các sử giça ưa dùng niên hiệu hơn miếu hiệu để gọi, nên từ đời Minh tôi mới chép thêm niên hiệu.

5

Từ đây tôi chép cả niên hiệu.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét