Trong tư gia nhà văn treo bức mình họa của hoạ sĩ NGUYỄN MINH
Con gái đi lấy chồng
Truyện ngắn của ĐỒ BÍCH THỦY
Thào Thị Cho ôm con ngôi bên bếp
lửa nhà bố mẹ đẻ.
Cuổi xuân rồi, vẫn còn lạnh lắm.
Con bé bị ốm, sốt. Người nóng
như cục than Trời còn tối om. Suốt đêm Cho không ngủ, cứ ngồi ôm con. Đợi trời
sáng mới bế con suống trạm xá nhớ bác sĩ khám xem thế nào.
Ngọn lửa bập bùng đun sôi ấm
nước từ lâu. Nước cử sôi còn người cứ ngồi yên như cái bóng. Đứa bé thở khò
khè, hơi thở nóng phả vào ngực mẹ.
Thàng với Cho làm bạn từ lúc
còn bẻ tí. Hai đứa cùng học ở một điểm trưởng, phía bên kia khe núi. Nhà Thàng
gần hơn nhưng chiều nào tan học, Thàng cũng đưa bạn đến tận cổng rồi mới quay về.
Cho nhớ những buổi chiều ấy đến thế Con đường mòn về nhà đầy hoa cúc vàng. Gió
đưa hạt cúc từ đâu về, tải khắp trên mấy ngọn núi. Đến mùa cúc tự mọc, tự ra
hoa, ra hạt, hạt lại rụng xuống, chen lẫn với ngô với đậu tương mà lên. Hai đứa
nói đủ thứ chuyện, vui lắm. Thỉnh thoảng còn kiếm được vài thứ bỏ vào mồm.
Cứ thế mà lớn lên bên cạnh
nhau. Cứ thế mà thành chồng vợ của nhau.
Nhà Thàng nghèo. Bố mẹ mất sớm,
Thàng ở với bà nội. Bà nội giả yếu. Thàng rất thương bà. Lúc Cho xin bố mẹ được
gả cho Thàng, mẹ yên lặng, bổ không đồng ý. Bố thương con gái bố. Nhà Cho đầy đủ
hơn, bố Cho có nghề buôn bò. Từ bé đến lớn, Cho chưa bị đói rét ngày nào. Bố sợ
con gái bố khổ khi gả vào một gia đình mà gió vào cũng không có chỗ trú. Nhưng
Cho nhất định không chọn ai khác, Thàng cũng thế. Thàng hứa với bố vợ sẽ lo cho
vợ con một cuộc sống tốt, không phải đói khổ.
Biết làm thế nào được, bố cũng
đành đồng ý
Hai người lấy nhau được ba
tháng thì bà nội mất.
Đôi với Thàng mà nói, bà nội
là một phần cơ thể Thàng. Bà bỏ đi nhanh quả, Thàng còn chưa kịp chuẩn bị tinh
thần thì bà đã nằm dưới đất rồi.
Cải đêm đưa tang bà xong, hai
vợ chống thức cả đêm. Tháng nằm co trong vòng tay vợ, gầy guộc như một con mèo.
Nước mắt tưởng đã cạn lại chảy ra ào ào. Nhìn đâu cũng thấy bông dáng bà, ngồi
bên bếp cũng tưởng bà đang ở cạnh, vừa bắc chõ mèn mén vừa làu bàu câu gì đấy.
Gió thổi cảnh cửa cọt kẹt cũng nghĩ bà vừa đi đâu về
Thàng mất cả tháng trời để
quen với việc vắng bà. Tất nhiên, quen làm sao được. Cố thôi.
Bổ Cho bào hay là hai vợ chồng
về ở với bố mẹ. Cho cùng mẹ đi nương. Thàng theo bố vợ đi mua bán bò. Nhưng
Thàng không đồng ý. Thàng nói mình đủ chân đủ tay, không thể ăn bám hai ông bà
già được. Ừ, nói thì hay lắm.
Thàng cũng chăm chỉ, chịu khó,
nhưng món nợ từ đám tang bà nội để lại lớn quá, trà mãi không hết. Thế nên cuộc
sống hai vợ chồng cứ mỗi ngày lại khó khăn hơn một tí. Rồi lại còn đẻ con.
Một buổi sáng, như mọi khi,
Cho dậy sớm đồ lại mèn mén, nấu cám cho con lợn con mới mua, pha cho bò ít nước
muối. Con bò này là của hồi môn bố mẹ tặng Cho. Vốn thì nó là con bò mà Cho
chăm từ bé, rất thân thiết với Cho. Nó có một cái đốm đen ở trên mất trái,
trông rất hay.
Cho vừa mang cái chậu không từ
chuồng bò bước vào nhà thì thấy Thàng đã ngồi ở bếp, đang châm đóm hút thuốc
lào.
- Vợ à, ngồi xuống đây tôi bảo.
Cho ngạc nhiên.
- Làm gì mà đậy sớm thể? Sao
không ngủ tí nữa đi. Trời có vẻ muốn mưa, tranh thủ cày nốt mấy mành nương cho
kịp gieo ngô chồng ạ.
Vừa nói Cho vừa úp cải chậu nhựa
lên giá rồi vén váy ngồi xuống cạnh chồng.
Thảng rít một hơi thuốc, dựng
điếu sát tường, dụi đóm vào tro bếp. Im lặng.
Cho nhìn chồng:
- Có việc gì thế?
Thàng hít một hơi dài, thật
dài.
- Có gì mà khó nói thế?
Cho hỏi, ghẻ nhìn sát mặt chống.
Thàng ngập ngừng:
- Tôi muốn hỏi vợ, cho tôi...
cho tôi bản con bò được không?
Cho đành rơi cả cái cặp bếp vừa
cầm lên.
Bán con bò? Bán con bò kia á?
Cho chỉ tay ra ngoài cửa, mắt
nhìn chồng không chóp.
- Ừ.
- Để làm gì?
- Tôi có kế hoạch. Kế hoạch
hay lắm.
Không đợi Cho hỏi, Thàng làm
cho một hơi:
Mình phải làm kinh tế vợ ạ.
Mình phải nghĩ cách để làm ra tiền, chứ không thể chỉ một năm trông vào hai vụ
ngô được. Tôi... tôi thương vợ lắm. Nhìn vợ cứ mỗi ngày lại gãy đi một tí, má
thì hóp vào, người thì mỏng dính... tôi buồn lắm. Nhé! Vợ cho tôi bán con bò
nhé. Mai kia kiếm được tôi sẽ mua cho vợ con khác, ba bốn con khác cũng được.
Cho nhìn đăm đăm vào mặt chồng.
Một điều gì đó rất khó chịu vừa ùa đến, chèn lên ngực cô. Rất khó chịu.
- Chống nghe này! Mình chưa
làm kinh tế bao giờ, chồng nghĩ làm kinh tế dễ lắm à? Chồng có hỏi kinh nghiệm
làm ăn của bố tôi chưa?
Thàng lắc đầu:
- Tôi làm kiểu khác, tôi không
làm giống bố vợ đâu.
- Ừ, thể nói cho tôi nghe. Chồng
định làm gì?
Thàng xoay người ngồi đối diện
hẳn với vợ.
- Tôi cùng người ta đầu tư hôm
tây (homestay). Vợ có biết dưới Nặm Đăm người ta làm hôm tây kiếm tiền tốt lắm
không?
- Có biết. Cho kiên nhẫn. Chồng
định làm thể nào?
- Vợ có nhớ thằng Pó không? Thằng
Pó trên Tà Phìn A.
Có nhớ. Nó là con ông chú của
chồng mà. Nhưng người ta bảo nó đi làm ăn xa lắm rồi mà?
Thàng gật đầu:
Đi làm ăn xa, nhưng bây giờ nó
quay về đầu tư làm giàu quê hương đấy.
Úi chà! Nghe quan trọng thật.
Cho hỏi thêm:
- Thế chồng đầu tư cùng nó?
- Mình có bao nhiêu thì gửi đầu
tư chung với nó, có lãi thì chía. Nó bảo sẽ mua lại một căn nhà người ta đang
làm hôm tây rồi, có sẵn mọi thứ rồi, chỉ việc cho thuê thôi. Tiền sẽ về ngay.
Cho thở dài:
- Nhưng tôi không tin cái thằng
ấy. Mặt nó gian lắm.
- Ơ kìa! Nó là em họ của tôi đấy.
Dù Thàng nói thế nào. Cho cũng
không tin được. Kiếm tiền dễ thế thì nó rủ chồng mình làm gì. Ngày xưa, khi bà
nội còn sống, nó đã từng lừa hết sạch tiền của bà rồi bỏ đi. Bà mất nó cũng
không về. Một đứa như thể tin làm sao được. Nhưng Thàng thì nhất định tin nó.
Cái nghèo làm Thàng chỉ còn
nghĩ đến một việc duy nhất là kiếm tiền.
Cho nói:
- Chồng biết con bò này là thế
nào với tôi, nhưng chồng nhất định muốn bán nó. Ừ thì cũng được. Nhưng phải hứa
với tôi một việc.
- Được được! Tôi hứa. Việc gì
tôi cũng hứa.
- Nếu như... nếu như việc này
chồng làm hỏng, thì tôi sẽ bế con về nhà bố mẹ.
Mặt Thàng tái đi.
Thà giết Thàng còn hơn là mang
vợ con Thàng đi.
Cho biết thế.
Nhưng Thàng vẫn đồng ý. Thàng
cũng chỉ vì muốn vợ con đỡ khổ mà thôi.
Người với bò đi rồi, Cho ngồi
phệt ở bậu cửa.
Cho thương con bò. Nhìn đôi mắt
có hai hàng lông mi dài của nó chớp chớp, Cho cảm thấy nó muốn khóc rồi. Nó đã ở
với Cho từ lúc còn là con bê. Nhà thiếu gì bò đâu nhưng Cho nhất định xin bố
cho mang theo con bò này.
Nhưng, Cho thương chồng mình
hơn.
Cả ngày Cho đi ra đi vào, làm
việc nọ việc kia nhưng trong lòng rất bất an. Cả ngày chỉ đợi tiếng kẹt cổng. Cả
ngày chỉ hy vọng lúc chống quay về sẽ dắt theo con bò quay về, vì bất kỳ lý do
nào đấy mà Thàng lại mang con bò về.
Cả đêm Lầu Mí Thàng không về.
Từ hồi làm vợ chồng tới giờ,
chưa bao giờ Thàng đi qua đêm mà không nói với vợ. Cho không thấy giận, chỉ thấy
buồn. Buồn muốn chảy thành nước. Ừ, giá mà chảy thành nước trôi tuột đi được có
phải tốt không. Nhưng còn đứa con. Mình chảy đi thì nó ở lại với ai?
Cho nghĩ, hay là Thàng có người
khác? Hay là Thàng bắt chước người ta mang tiền đi làm việc gì xấu mà giấu vợ?
Càng nghĩ, lòng càng buồn.
Sáng sớm Thàng về.
Đầu tóc quần áo ướt sũng, một
chân đi đất, một chân vẫn còn giày.
- Mất hết rồi vợ ơi!
Thàng chỉ nói được có thể rồi
đổ gục ngay bên bậu cửa.
Thằng Pó sau khi cầm bọc tiển
Thàng đưa, nháy tót lên ô-tô khách, chạy mất biến.
Nó đã biến mất như cách mười
năm trước biến mất khỏi Tả Phìn.
Ngày hôm sau, Cho bế con về
nhà bố mẹ.
Không phải Cho hết thương chồng
đâu. Thương lắm. Thương quặn hết cả ruột gan vào. Nhưng Cho muốn chồng ở một
mình để suy nghĩ. Cho không cần giàu. Cho chỉ cần hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn,
đủ ăn đủ mặc là được. Nhưng Thàng thì không như thế.
Cứ mỗi phiên chợ, hai vợ chồng
đi bộ xuống chợ, mang mấy thứ rau củ, trứng gà xuống bản, rồi mua mắm muối về.
Trong lúc mình thì đi bộ, người ta lại chở vợ đi bằng xe máy. Xe máy phóng vụt
qua, khói phụt ra xanh lè, váy vợ người ta thì phấp phới như bướm bay. Thàng buồn,
tủi thân, Thàng thương vợ mình. Cho từng là cô gái xinh đẹp nhất nhì Tả Phìn.
Bao nhiêu người muốn xin Cho làm vợ nhưng Cho chỉ nhất định chọn Thàng. Thế mà
để vợ cứ phải đi bộ xuống chợ, Thàng buồn lắm.
Cho nói thế nào Thàng cũng
không gạt ra khỏi đầu được.
Đã thế thì Cho ôm con về nhà
ông bà ngoại.
Cho biết, vắng mình thì mấy
con gà sẽ leo lên tận giường để bới, cỏ sẽ mọc vào tận đầu hồi. Nhưng kệ. Cho
cũng được quyền giận chồng chứ.
Đã một tháng trôi qua, Thàng
ngày nào cũng vác cuốc lên nương. Không có bò thì Thàng làm thay bò. Phải làm sạch
đất để gieo ngô. Thàng biết tính vợ mình, đã nói thế nào thì sẽ làm y như thế.
Đêm nào Thàng cũng đắp cái gối
của vợ lên mặt, rồi lại đắp cái áo của con lên mặt. Đêm nào nước mắt cũng rơi
ra đến lúc thiếp đi.
Gà vừa gáy là Thàng vác cuốc
lên nương.
Trời hứng sáng, mẹ Cho từ
trong buồng bước ra thấy hai mẹ con ôm nhau ngồi bên bếp bà kêu toáng lên:
- Sao lại ngồi ở đấy?
Mọi khi giờ này con Chía vẫn
ngủ.
Cho không nhìn mẹ, vì cô sợ
mình sẽ khóc mất.
- Nó bị sốt, mẹ ạ. Con định tí
nữa đưa xuống trạm xá.
Mẹ Cho đưa tay sờ trán đứa
cháu.
- Còn hơi sốt thôi. Không sao
đâu. Đưa đây cho mẹ bế, mày đi vào nằm một tí đi.
- Có phải đi trạm xá không?
Cho hỏi mẹ. Nỗi sợ hãi bây giờ
mới giảm đi một tí.
Mẹ Cho lắc đầu:
- Không sao đâu. Nó mọc răng
thôi mà. Mày đi vào ngủ đi.
Cho thở phào một cái. Cho đâu
biết trẻ con mọc răng cũng sốt như thế.
Chìm vào giấc ngủ mệt mỏi, cho
đến lúc tiếng người lao xao ngoài sân khiến Cho tỉnh dậy.
Cô dụi mắt đi ra.
Là Thàng.
Thàng đang ôm con trong tay,
đúng ngay bậu cửa. Nhìn thấy Cho, anh khóc oà lên:
- Vợ ơi! Tôi xin lỗi. Tôi gieo
xong vụ ngô rồi.
Cho đúng như bị đóng cọc tại
chỗ.
Trong giấc ngủ mệt mỏi, cô vừa
mơ thấy mình ôm con quay về.
- Tôi gieo hết ngô rồi, thật đấy.
- Không có bò mà, anh cày bằng
gì?
Thàng một tay bế con, một tay
chìa ra.
- Bằng tay.
Bố Cho từ trong buồng đi ra, bảo
vợ:
- Bà bế con Chía đi. Thằng
Thàng đi ra đây.
Cho không biết bố định bảo gì
chồng mình, cũng vội vàng chạy theo.
Ba người đi ra sân, vòng qua đầu
hồi, đi ra vườn sau.
Cả Cho cả Thàng đều ngẩn người
ra. Trước mặt họ, đang chậm rãi đúng định nhai cỏ voi, là con bò có cái đốm đen
trên mắt. Nhìn thấy Cho, nó kêu lên ò ò.
Cho ôm chặt lấy chồng, khóc tu
tu. Khóc như thể có bao nhiêu nước mắt ở trên đời này cô phải lấy bằng hết.
Bố Cho, bằng cách nào đó đã
chuộc con bò về. Chính là con bò mà ông đã tặng con gái ngày đi lấy chồng.
Bây giờ là mùa xuân, những bông mận cuối cùng đang rụng xuống mái nhà của bố mẹ.
NGẢI ĐẮNG Ở TRÊN NÚI - Truyện
ngắn Đỗ Bích Thuý
Nhà văn Đỗ Bích Thúy
Chân
Dung Kẻ SĨ: Ngải đắng ở trên núi cùng với Sau những mùa trăng và
Đêm cá nổi là chùm ba truyện ngắn của nhà văn Đỗ Bích Thúy thắng Giải Nhất cuộc
thi sáng tác văn học hướng tới giao thừa năm 2000, tổ chức năm 1998 - 1999 của
Tạp chí Văn nghệ quân đội.
Mẹ và thằng Sinh đón tôi ở ngã
ba nơi chân dốc dẫn lên ngôi nhà sàn. Ngôi nhà nằm chênh vênh trên cao kia. Già
nua cũ kỹ và nhỏ nhoi. Khi nào nhớ về mẹ tôi cũng hình dung thấy ngôi nhà với
chín bậc cầu thang nơi chân tôi run rẩy chập chững đi ra cuộc đời và từ cuộc đời
đầy giông bão trở về.
Mắt tôi tự dưng mờ đi. Tôi
luýnh quýnh: “ềm! ềm vẫn khoẻ đấy ư? Trời ôi con lo biết chừng nào là lo!”. “Biết
tao khoẻ thì còn lâu mày mới về phải không Din?”. “Kìa… con xin ềm. ềm đừng nói
với con thế. Con vừa về tới nơi… ềm có thương con…”. Mẹ tôi ngoảnh mặt đi lặng
thinh. Tiếng thở dài nhè nhẹ mà hun hút như cơn gió quặn lồng ngực tôi. Thằng
Sinh ôm cổ dí cái mũi ươn ướt vào má tôi: “Bác ơi bà bây giờ lẩm cẩm rồi. “Hư
nào!”. “Thật… Bố cháu bảo thế mà”.
Nhà tôi chỉ có hai chị em tôi
với em Dân. Cha tôi hy sinh khi tôi mới mười tuổi mẹ tôi ở vậy nuôi mẹ chồng cả
đàn em chồng lít nhít với hai chị em tôi. Rồi bà tôi mất các cô các chú lấy vợ
lấy chồng tôi đi xa em Dân lấy vợ sớm rồi cũng đi nốt bỗng chốc mà mẹ gần như
chỉ có một mình. May mà em Dân lấy vợ quê từ ngày có thằng Sinh mẹ tôi cũng
khuây khỏa.
Mẹ đi trước tay dắt thằng Sinh
chậm chạp leo dốc. Tôi thảng thốt chẳng lẽ lưng mẹ đã còng thật rồi ư? Dấu vết
thời gian chính là nó đã hiện diện khắc nghiệt trên dáng vóc mẹ không nấn ná
không gượng nhẹ. Đôi chân cũng không còn chiều theo ý mẹ và con đường như dài
hơn dốc hơn khấp khểnh hơn. Ngày xưa cũng trên con đường cheo leo dốc này tôi đặt
em Dân lên tấm lá cọ rồi kéo sầm sập chạy xuống vừa chạy vừa la hét. Có lần cả
hai chị em ngã dúi dụi mặt vục vào đất cát không khóc thành tiếng. ấy thế mà bà
nội biết không cho mẹ đánh đứa nào. Về sau em Dân bảo: “Lúc ấy em thương mẹ
quá. Đến cả cái quyền dạy con cũng bị cấm đoán”. ý em trách bà nội. Bà nội tôi
có tiếng khắc nghiệt với con dâu ở Tả Choóng bây giờ. ấy thế mà rồi bà cũng chỉ
ở với con dâu cả cho đến cuối đời chứ không chịu đi với đứa con trai con gái
nào.
Em dâu đi nương về ngả vội
gánh thóc nếp xuống cầu thang: “Chị Din đã về rồi này! Ôi tí nữa thì em dâu
không nhận ra đấy. Ngày càng đẹp gái như bông hoa thì khổ trai bản thôi”. Em
dâu cười cái lúm đồng tiền xoáy sâu trên má. Em dâu kém tôi bốn tuổi. Ngày em về
làm dâu nhà tôi có bao nhiêu trai bản uống rượu say không về được. Người Tả
Choóng bảo nhờ em Dân có cái chữ hơn người nên ông Dìn mới chịu gả con gái cho
mà chỉ lấy ba mươi chứ người như thế phải lấy cả trăm mới xứng. Trăm đồng bạc
trắng trăm cân gà trăm cân lợn trăm lít rượu ngô không phải nhà giàu mấy đời
thì chịu thôi làm đến chết cũng không trả hết nợ. Ngày có em dâu tôi khấp khởi
mừng ít ra cũng an tâm phần nào khi đi xa. Hình như em sinh ra để làm dâu nhà
tôi. Em giống mẹ tôi từ nết ăn ở trở đi. Có em mẹ có thêm một đứa con gái. Một
đứa con gái mà mẹ mong mỏi chứ không như tôi. Tôi không nghe được mẹ muốn gì.
Tôi vùng vẫy và tôi ra đi. Có những lúc mệt mỏi rã rời vì cuộc mưu sinh nơi xứ
người tôi chỉ thèm được vùi mặt vào ngực mẹ mà khóc cho thỏa thuê. Nhưng rồi vẫn
cứ xa mẹ xa hơn và lâu hơn.
Gánh thóc nếp có tới bốn cum vậy
mà em dâu chỉ xốc nhẹ một cái đã vắt trên vai bước thoăn thoắt lên cầu thang để
lại chín vết chân ướt vững chãi đều đặn. Cầm lấy cum thóc em dẻo tay lật ngửa
xoè nó ra như bông hoa trên sàn phơi đầu hồi. Cạnh đó có tới mấy chục cum đều đặn
và đã xếp sẵn từ bao giờ. “Năm nay được nhiều thóc nếp không em?”. “Nhiều. Được
mùa mà. Đủ đồ xôi cho chị Din cưới chồng đấy. Mà… có về quê lấy chồng không chị
Din?”. “Bây giờ không ai muốn lấy người hai sáu tuổi đâu em ơi. ế mất rồi”. “Cây
cao khắc có người khoẻ trèo chị Din à.
Tôi cất đồ đạc cầm lấy đòn sóc
theo em dâu lên nương mang nốt số thóc đã “tan” về. Em dâu bước đi nhanh thoăn
thoắt mặc những cành gai chìa ra quệt vào đôi bắp chân tròn vo. “Năm nay nhà
nào cũng bỏ nương xuống dưới kia làm ruộng nước rồi. Cả lúa nếp cũng cấy dưới ấy
nhiều giống mới bây giờ mang đập như thóc tẻ được không phải vò. Nhưng bà nội
thằng Sinh bảo vẫn phải gieo một ít thóc cũ để còn đồ xôi làm bánh rằm với lại
để phần đợi chị Din…”.
Nương lúa đã đổ rạp xuống ở phần
“tan” xong. Mai kia khô rồi chỉ cần châm lửa đốt là sạch sẽ trỉa luôn được vụ mới.
Chiều chậm chạp đổ xuống từng vạt núi vàng sậm cả những cánh rừng sồi rừng dẻ
mướt óng phía xa. Gió trườn trên những triền núi; từng cơn từng cơn cuốn theo
mùi khói bếp từ những căn nhà bàng bạc thấp thoáng phía bản người Phù Lá.
Một thằng bé mặt mũi lọ lem
lùa đàn dê đông nghìn nghịt từ đỉnh núi chạy xuống. Ngang qua chỗ tôi nó khựng
lại đôi mắt hiền lành giương lên tò mò. Tôi mỉm cười thân thiện: “Em tên là
gì?”. “…”. “Nhà em ở ngay bên suối phải không?”. Tôi hỏi vậy bởi lúc lội qua
con suối đầu làng đã thấy một ngôi nhà trông giống trại chăn dê từng dãy chuồng
kế tiếp nhau san sát. Nhưng thằng bé không nói gì ngoài những âm thanh u ơ rụt
rè. Đột nhiên nó chìa cho tôi một mớ cỏ tím ngăn ngắt lè lưỡi trêu chọc rồi
quay đi roi vung lên vun vút. Em dâu khe khẽ: “Thằng Câm đấy. Có khi chị không
nhớ. Ngày chị còn ở nhà nó vẫn mang cá lên bán cho mẹ. Nay thì ở mỗi nhà một
vài ngày. Gần hai mươi tuổi rồi mà không lớn thêm được là mấy… Nó đưa cho chị
cái gì thế? Ngải đắng à? Đi xa thế thảo nào về muộn…”. Lúc này tôi mới nhận ra
một mùi hương quen thuộc xộc lên. Chính cái thứ hương cay cay ngòn ngọt nhằng
nhặng đắng đã theo riết tôi đã níu tôi với cả quãng đời thơ ấu bình yên. Có vậy
mà từ lúc nào bước chân về bản tôi nghĩ mãi không ra mình thấy thiếu thứ gì mà
cứ chông chênh trống trải. Nắm rau ngải thằng Câm mang về đã bắt đầu héo và
nóng sực.
Mãi tới lúc lên đèn em Dân mới
về thồ theo một can dầu sau xe. Trông em già và đen đi nhiều. Cứ tưởng làm cán
bộ xã thì nhàn rỗi… Mâm cơm có canh măng giang nấu với thịt ếch thịt gà rang lá
chanh và ngải đắng xào mẻ. Nhìn đĩa rau ngải tôi thèm mà không dám gắp sợ hết.
Để rồi đến cuối bữa vẫn còn nguyên. Em dâu ngạc nhiên: “Sao chị bảo thích rau
ngải lắm?”. “ừ…nhưng…”. “Nhưng lâu rồi lâu quá rồi không ăn cái đắng như thế
nên quên phải không?”. Mẹ tôi vẫn cái giọng dằn dỗi.
Tôi lặng im. Dân nén thở dài.
Trên mâm gỗ đĩa rau ngải cứ nhoà dần nhoà dần đi… Tôi nghe quặn lên từ trong tiềm
thức tiếng thác lũ thượng nguồn ào ạt tiếng vỏ cây rừng mùa khô vỡ ra lách tách
tiếng con nai tác mẹ ngẩn ngơ thăm thẳm và cả những cơn gió mùa dài lê thê hun
hút trên mái nhà. Năm ấy… Trời làm đất đai cạn kiệt tôi theo mẹ đem ống bương
đi qua hai quả núi cách Tả Choóng nửa ngày trời mới lấy được thứ nước đầy rêu
trong một cái vũng nhỏ. Rét căm căm sương muối trút xuống từng tảng sáng ra thấy
cây cối đầy lá úa dây bí ngoài vườn chưa kịp ra quả đã khô quắt queo mẹ gieo hạt
cải cả tháng chưa thấy mọc. Không có hai thứ ấy người quê tôi không còn bất cứ
thứ rau gì cho mùa đông. Một ngày hai ngày rồi cả tháng bữa nào cũng chỉ có sắn
nạo ăn với muối. Em Dân khóc ngằn ngặt rồi bà rồi mẹ cũng ứa nước mắt. Chiều
hôm ấy mẹ ra vườn quơ lấy một nắm ngải đắng bà bảo: “Đừng liều thế mẹ Din”. Mẹ
tôi ngập ngừng: “Con dê ăn được chắc mình cũng ăn được ềm à!”. Không có rau miệng
ai cũng phồng rộp cả lên. Nhưng ngải đắng xưa nay người ta chỉ lấy về khi trong
nhà có người ốm đem nướng trên phiến đá nung rồi để gối đầu chứ chưa ai ăn bao
giờ.
Mẹ đem luộc rồi xào mẻ. Mẻ
chua muối mặn vậy mà ngải vẫn nhằng nhặng đắng. Tôi còn cố nuốt được vài ngọn
chứ em Dân thì nhè ngay ra lại khóc. ấy thế nhưng tỉnh người ra thật dần dần
vài bữa rồi quen ruột gan đỡ xót đi. Bà gắp một bát đem sang hàng xóm. Thế rồi
cả bản theo nhau hái về ăn thay rau. Người ta càng hái thì ngải càng đâm nhiều
ngọn mặc cho những đợt gió mùa tới tấp ùa về quất ràn rạt trên mặt đất. Trên
nương trong vườn cả dưới gầm sàn chỗ cái ang nước khô vênh chỗ nào cũng thấy ngải
như một sự bù đắp cho sự khắc nghiệt của đất trời…
Sinh đã ngủ khoèo trật cả cái
bụng tròn phinh phính ra phía bếp lửa. Mẹ tôi mang mảnh lưới đan dở ra làm tiếp
em dâu vừa đun cám vừa vò thóc nếp. Dân ngồi rít thuốc lào. Trên bếp nồi cám bắt
đầu sôi lục bục mẹ mới cất tiếng: “Dân à! Nói gì với chị mày thì nói đi chứ.
Mong nó về lắm mà!”. Em dâu nhẩn nha: “Đi làm cán bộ nói mãi cho người ngoài
nghe được mà nói với chị gái thì khó thế à”. Dân ngọ ngoạy lúng búng: “Chị Din
về lâu lâu được thì mai em mới nói. Để chị nghỉ đã…”. “Chị không về lâu được
đâu. Một hai ngày lại đi thôi. Còn bao nhiêu việc dưới kia…”. Dân vốn thế. Người
ngoài chả nể ai về nhà lại sợ chị. Từ bé tới giờ khi nào tôi cũng đầy quyền uy.
Đâu muốn thế. Chả gì cha tôi là trưởng họ được mỗi đứa con trai…
Dân diễn đạt một cách vất vả
thỉnh thoảng lại liếc mẹ nhưng mẹ không tỏ thái độ gì. Ra em đang mâu thuẫn với
mẹ giữa cái mới và cái cũ. Xã đang đốc thúc các làng các bản thực hiện quy ước
nếp sống văn hoá phải thay đổi cách ăn ở sinh hoạt cả một số phong tục bị xem
là lạc hậu… nhưng Dân một trong những người cần gương mẫu thì vấp phải mẹ như vấp
vào ngưỡng cửa nhà mình. Khó xử nan giải là phải. Chẳng biết mấy ngày ở nhà tôi
có giúp được gì không.
Mẹ giục đi ngủ mở hòm ra lấy bộ
váy từ ngày tôi chưa đi. “Còn biết cách mặc không?”. “Dạ… nhưng tóc ngắn thế
này làm sao mà vấn được khăn đây ềm?” Mẹ tôi thở dài: “Mày lớn quá tao không giữ
nổi mày thật rồi. Núi rừng cao thế cũng không ngăn được bàn chân mày. Sau này
tao chết đi rồi mày có trở lại Tả Choóng không? Mày lấy người thế nào làm chồng
hả Din? Sao mày không đưa nó về để tao xem tay xem mặt? Mày sợ nó khinh mày
khinh quê mày phải không? Đời tao có khi không biết đến chén rượu của con rể lớn
bé thế nào…”.
Giờ thì tôi khóc nức lên. Lâu
rồi không khóc được như thế. Tôi biết nói gì với mẹ khi tôi đã ra đi vì khát vọng
của mình đã giãy giụa ra khỏi những mịt mùng heo hút đã sợ bị “định giá” như mẹ
như em dâu… thì còn có thể thanh minh giãi bày gì cho vừa lòng mẹ? Tôi ghì xiết
lấy tấm thân bé nhỏ và lạnh của mẹ. Đâu hết rồi mẹ ơi những ấm nồng đầy đặn ăm ắp
sức sống? Đâu rồi bầu ngực tròn căng của người vợ góa? Đâu rồi mái tóc đầy những
mùi thơm của lúa mùi cay nồng của ngải đắng mùi mặn mòi của cỏ tranh bị đốt cháy?
…
Đêm thanh vắng tiếng nước chảy
trong máng vầu róc rách. Không biết từ ngày tôi đi đã mấy lần em Dân phải thay
máng rồi. Bất chợt tiếng tắc kè bật lên khắc khoải. Tôi rưng rưng nhớ cha. Ngày
cha tôi còn sống ông đã từng bắt tắc kè về nuôi. Chỉ cần thả vài con tắc kè non
lên mái nhà hôm trời mưa là nó ở lại luôn thôi không đi nữa. Có lúc đàn tắc kè
sinh sôi đến gần chục con dạn người lơ láo bò qua bò lại trên bậu cửa. Hôm nào
chúng kêu tiếng lẻ là trời nắng tiếng chẵn là trời mưa cha tôi cứ theo đó mà cắt
đặt việc nhà. Chiến tranh biên giới nổ ra cả nhà bồng bế nhau đi sơ tán chỉ cha
tôi ở lại cùng dân quân du kích xã mà ông phụ trách. Cho đến khi tạm ngưng tiếng
súng thì chúng tôi trở về. Cha tôi đã hy sinh. Căn nhà cũ tan hoang mốc thếch
đàn tắc kè bỏ đi từ bao giờ. Bà nội ứa nước mắt bảo chúng đi theo cha tôi. Đêm
nay… tắc kè cũng kêu. Không biết trong số chúng có con nào là hậu duệ của đàn tắc
kè nhà tôi? Đếm mãi mà không nghe rõ tiếng chẵn hay lẻ. Mẹ tôi than mấy năm gần
đây mưa nắng thất thường mùa vụ cũng lúc được lúc mất.
“Din ơi mày vẫn thức đấy chứ?”.
“Vâng! ềm bảo gì con?”. “Mai mày nói với thằng Dân bảo nó không muốn ở nhà thì
xuống xã mà ở”. “ấy chết! Sao ềm nói thế? ý em Dân không dám như vậy đâu”. Mẹ
nghèn nghẹn: “Hơn sáu mươi năm nay tao như con suối chảy xuôi. Sắp ra đến sông
lớn rồi sắp theo cha chúng mày rồi giờ nó bắt rẽ ngang bắt chảy ngược… Nó… thằng
Dân ấy…”. “Nhưng con thấy có gì rối rắm lắm đâu mà ềm…”. “Hừ! Không à! Mày cũng
giống nó thôi Din à. Bao nhiêu năm nay người ở trên sàn nhà trâu ngựa ngan ngỗng
ở dưới gầm sàn tự dưng em mày đòi mang trâu ra ngoài vườn con trâu mẹ ốm lên ốm
xuống cho uống bao nhiêu muối không khỏi. Ngỗng đang ở yên thế tự nhiên lại lùa
ra sáng nào cũng phải đi tìm con ngủ chỗ này con ngủ chỗ khác… Cả mày cả nó đều
tập ngồi tập đi ở trên sàn nhà mới lớn được chừng ấy bây giờ còn mang bộ bàn ghế
về. Nó bảo hay có khách nên phải lịch sự. Lịch sự là cái gì? Khách nào cũng mặc
quần áo đẹp đi cả giày lên nhà. Ngồi uống nước thì quay lưng vào bàn thờ ông bà
thấy trẻ con thì vỗ má xoa đầu… Thế mà lúc tao mở miệng ra thì nó bảo để rồi
phá cái nhà này đi làm nhà ngói mà ở. Tao ốm bảo mổ dê gọi thầy mo về đuổi con
ma đi nó lắc đầu quầy quậy đưa cho một nắm thuốc xanh xanh đỏ đỏ… Bây giờ khôn
rồi cái gì cũng muốn theo người xuôi. Tao không cần. Tao không có đứa con nào
như thế. Tao chết ở đây”. Lồng ngực mong manh của mẹ căng lên những nhịp đập hối
hả ngắt quãng. Mẹ khóc không có nước mắt. Tuổi già đã mang đi những giọt đau đớn
cuối cùng của đời người.
Hồi lâu mẹ cựa mình len ra khỏi
đôi tay tôi mẹ vén lại chăn. Tôi choàng dậy: ” ềm đi đâu khuya khoắt thế?”. “Ngủ
đi. Tao đi xem con nghé mới đẻ. Dặn mẹ Sinh nhớ xúc trấu khô mà ủ chắc lại quên
rồi”. Lúc chiều ông Tào ở mãi Ngàm Đăng Vài sang đòi đặt tiền trước để con nghé
lớn tí nữa thì bắt đi. Trâu trắng không dùng cày được người ta kiêng. Nhưng bán
đi thì tiếc lại thương con trâu mẹ. Thế nên ông kia nói mãi mà mẹ vẫn chưa chịu
cầm tiền.
Tôi không sao ngủ được. Càng
đêm càng lạnh. Thời tiết ở đây vốn thế ban ngày nắng đến mấy có khô rang cả mái
nhà dày hàng gang tay thì đêm vẫn lạnh. Quanh năm không khi nào phải cất chăn.
Tấm chăn tôi đang kéo lên đến cằm nặng trình trịch toả ra một thứ mùi của ký ức.
Ngày chuẩn bị về làm dâu mẹ tôi mười sáu tuổi mẹ tôi đã dệt cả tháng trời mới
xong tấm chăn còn chưa kể những khăn và váy áo. Mẹ kể đêm đầu tiên rét lắm
nhưng mẹ dứt khoát không chịu đắp chung chăn với cha để rồi cha phải bỏ ra bếp
ngồi hút thuốc lào đến sáng. Mẹ về làm dâu là về không hầu như chẳng có gì vì
ông ngoại mất sớm mẹ ở với chú thím. Thế nên chỉ như thân con mèo nem nép bên bếp
nhà chồng từ sáng đến tối không biết ngẩng mặt lên đến bữa không dám ăn no đến
năm mười tám tuổi mà bé quắt hơn cả lúc lấy chồng. Chị cả tôi ra đời chưa đầy
tháng thì mất vì viêm phổi mãi hơn chục năm sau mới có tôi…
Ở vùng núi bao giờ mùa đông
cũng đến sớm. Khi những chiếc lá đào lá mận đầu tiên rụng xuống thì dòng suối bắt
đầu cạn nước chảy dưới phần ngầm của lớp đá cuội trắng trơ. Gió từ trong khe
núi ùa ra mang theo hơi lạnh đến ghê người của đá và lá cây lúa. Thân ngải đắng
bắt đầu khô lại rễ bám chặt lấy lớp đất chai cứng và ngả sang màu nâu đen vì
sương muối. Nhiều ngày nhiều tuần có khi cả tháng trời không có nắng giữa tuần
trăng đêm cũng chỉ lờ mờ. Đây là quãng thời gian ít việc nhất trong năm. Đám
con gái chỉ quanh quẩn ở nhà xe lanh đôi gò má bắt lửa đỏ au. Ngoài nương chỉ
còn trồng tam giác mạch. Hạt tam giác mạch ăn không ngon như hạt ngô hạt lúa
nhưng hoa tam giác mạch thì đẹp. Trời càng rét thì sắc biếc sắc hồng càng rực rỡ.
Cả dải núi nương nhà này nối với nương nhà kia cứ bừng lên như một màu tam giác
mạch ngợp trời. Cả nương tam giác mạch có khi chỉ được lưng quẩy tấu hạt nhưng
nhà ai cũng trồng. Dễ lắm. Đợi cây ngô thu hoạch xong trời bắt đầu rét thì quãi
tam giác mạch xuống. Cỏ không mọc nổi nhưng tam giác mạch thì nảy mầm lên xanh
mướt thế nên chả ai chịu để đất không.
Cho đến khi ngựa đập móng lộp
cộp đầu hồi hoa lê bật bông trắng như tuyết thì xuân sang. Các ông bố đeo bao
dao ra khỏi nhà tìm trong bản ngoài bản ai có lợn to thì chung mổ ăn Tết. Xuân
sang đấy nhưng trời còn rét mãi tới tháng ba tháng tư trẻ con đuổi bò xuống
thung lũng vẫn chưa chịu bỏ bùi nhùi rơm ở nhà mặt đứa nào cũng nứt toác cả ra.
Chỉ có đất bắt đầu tơi mềm bò dê được ăn cỏ tươi và nước thì bắt đầu chảy đầy
máng vầu trở lại. Sau Tết Nguyên đán có khi hội bản này nối sang bản kia cả
tháng trời. Chợ nào cũng đông nghìn nghịt toàn con trai con gái mặc đẹp đeo đầy
vòng bạc mua sắm thì ít mà ngắm nhau thì nhiều. Ngày xưa cha tôi cũng nhìn thấy
mẹ tôi vấn đầu trong một phiên chợ như vậy.
Trở vào mẹ không đi nằm mà ra
bếp ngồi cơi lò cho cháy lên lại mang lưới ra đan. ánh lửa chập chờn hắt lên mẹ
lên mái tóc bạc lên gương mặt đã kín vết nhăn như thực như hư. Một nỗi sợ từ
đâu ùa vào tôi. Hình ảnh chiếc áo quan mở nắp mà thằng Sinh với lũ bạn nhảy ra
nhảy vào đùa nghịch hiện lên mồn một. Mẹ tôi đã chuẩn bị cho sự ra đi lâu nhất
mãi mãi như thế từ cách đây năm sáu năm. Ba con dê đổi lấy một khúc gỗ dẻ rất lớn
mà em Dân dùng trâu kéo về…
Tôi ra ngồi với mẹ. Lát sau gà
gáy eo óc thì em dâu cũng dậy kiễng chân với mẹt muối sấy trên gác bếp xuống lật
trở cho đều. Sắp tới rằm tháng bảy ăn to lắm. Nhà nào nghèo mấy thì trẻ con
cũng phải có bộ quần áo mới trong nhà có ít nhất hai thứ bánh gù bánh chuối và
chõ xôi đỏ hoặc tím. Ngày nhỏ tôi đã từng bắt em Dân theo chúng bạn sang tận
Khuổi Nậm tụ tập đánh khăng đánh cù lúc đói bụng thì chạy vào bất cứ nhà nào
cũng được ăn bánh đầy bụng. Tháng bảy hay mưa nhưng cứ mười bốn mười rằm là tạnh
ráo. Đàn ông đi uống rượu nhà bạn bè có khi say mấy ngày liền không về.
Em dâu nhắc: “Rằm tháng bảy
năm nay thế nào chị Din cũng phải về đấy nhé. Hai cái rằm rồi làm bao nhiêu
bánh ăn mãi không hết. Làm ít bà bảo sợ chị Din về nhỡ có bạn đi cùng thì không
đủ thế là cứ cố nhiều bột nhiều chuối… ấy da…”. Tôi nhìn mẹ. Muốn hỏi có phải ềm
chỉ làm mặt giận vậy thôi chứ lúc nào cũng thương con gái nhất nhưng mẹ dường
như chẳng để ý gì.
Chưa tỏ mặt người em Dân đã đi
bảo phải lên họp ở trên huyện. Dân nhìn tôi hình như muốn nói gì nhưng ngần ngừ
rồi thôi xách cặp đi tiếng xe Min nổ phành phạch xa dần. Gương mặt buồn buồn của
đứa em trai mới lớn ngày nào còn tranh với chị từng củ sắn nướng cứ dằn vặt
tôi. Nghe đâu người ta còn muốn cất nhắc Dân lên huyện nhưng em không muốn đi.
Dân khác tôi gắn chặt với nơi mình sinh ra không sao rời đi được dù có nhiều cơ
hội cho bản thân vươn lên. Tôi vừa thương vừa biết ơn Dân em gánh cả phần trách
nhiệm của tôi đối với mẹ hẳn cha tôi dưới kia cũng mừng.
Sinh dậy chả rửa mặt gì lôi
tôi xuống cầu thang: “Mình đi tìm ngỗng về không thì bà lại mắng bố Sinh”. “Tìm
ở đâu kia?”. “Sinh biết mà. Đi nhanh nào”. Sinh kéo tôi chạy một mạch tới suối
chỗ cái cối nước đang thì thụp giã. Cả bầy ngỗng đang ngủ ở đấy thật co một
chân húc đầu vào cánh bị đánh thức chúng nhốn nháo ầm ĩ. Bản tôi nhà nào cũng
nuôi ngỗng thay cho chó canh nhà. Chỉ cần hai con ngỗng là cứ việc mở toang cửa
ngõ đi làm cả ngày.
Hai bác cháu lùa ngỗng về tới
nhà thì mẹ tôi đã đứng ở chân cầu thang có ý chờ. “Ai bảo không mặc áo mà chạy
đi sớm thế hở Sinh?”. Thằng bé tảng lờ liến láu: “Cháu với bác Din đi tìm ngỗng
về. Chúng nó ngoan lắm éme à. Chỉ cần làm một cái nhà be bé ngoài máng nước cho
chúng nó là xong. éme ơi… – nó ngập ngừng – éme đừng mắng bố cháu đừng giận bố
cháu nữa tội nghiệp lắm. éme nhé! éme gật đầu đi. Gật như Sinh đây này”. Thằng
bé làm động tác gật đầu mấy cái. Mẹ tôi nhìn thằng bé mắt hấp háy như có ánh cười.
Thằng Sinh giống em Dân tôi y hệt từ nước da ngăm ngăm đôi mắt một mí đến hai mớ
tóc hơi quăn kết chặt vào nhau. Nó thực sự là hiện thân của Dân hai chục năm về
trước… hình như thằng Sinh đang cố gắng làm cái việc mà bố nó loay hoay mãi
không biết xử trí thế nào. Và mẹ tôi thì tin cậy nó. Có lẽ vì thằng bé còn đang
trong vòng tay bà nối bà với những đứa con dang đôi cánh bay cao và bay
xa.
Dưới chân cầu thang nơi mẹ tôi
và thằng Sinh đang đứng. Có một phiến đá rất lớn. Phiến đá màu xanh bốn năm người
đứng lên vẫn đủ chỗ. Cha tôi đã kéo nó từ dưới chân suối lên sau một cơn lũ lớn.
Chính trên phiến đá này tôi đã gặp cha lần cuối cùng nghe ông dặn dò rồi tôi
khóc ròng ròng mãi mới buông vạt áo ông ra. Sau này không biết đã bao nhiêu lần
tôi đứng vào chỗ của cha hồi đó mặt hướng lên phía Tây Côn Lĩnh cao vời vợi
sương mù phủ trắng mà cảm thấy như một sự ấm áp một nguồn sinh lực nào đó để có
thể đi những bước vững vàng ngoài kia.
Mặt trời lên. Đỏ như một quầng
lửa. Báo hiệu một ngày rất nắng. Cứ nắng như thế thì chỉ ba ngày là thóc nếp
khô yên tâm xếp lên gác bếp. Năm nào cũng vậy sau mùa thu hoạch bao giờ trên
cái gác chạy dài từ đầu nhà đến cuối nhà cũng đầy chật lúa ngô. Ngô túm thành từng
túm treo lủng lẳng lúa xếp bên trên. Được mùa có khi lúa năm ngoái chưa ăn hết
thì lúa năm nay đã về cứ thế xếp lên. Mẹ tôi kể ngày xưa nhà ông bà nội còn có
những cum thóc tuổi nhiều hơn chú út.
Có tiếng leng keng lịch kịch
thì ra thằng Câm đang lùa dê lên núi. Nó dừng ở ngõ nhà tôi chờ em dâu tôi lùa
dê ra. Tôi bảo: “Để chị đi cùng nó”. “Làm gì cơ chứ. Mình nó vẫn chăn mà. Với lại
xa lắm cơ chị Din ạ”. “Xa mấy chị cũng tới được. Chị muốn tìm ngải đắng…”. “Thì
bảo nó lấy cho. Việc gì phải đi cho mệt ra”. “Không. Chị muốn tự hái về”. Mẹ lẩm
bẩm: “Ngày xưa… ngải bò vào đến gầm sàn dỗ mãi không ăn. Làm sao giờ lại thèm
khát đến thế hở!”.
Câm hớn hở ra mặt. Cặp mắt anh
ánh đàn ông lấp lánh trên gương mặt thoắt buồn thoắt vui. Chắc đi mãi một mình
nó cũng buồn. Chúng tôi đi ngược về phía mặt trời. Mặt trời đang ở phía sau dãy
núi kia mới chỉ thấy những tia nắng hình nan quạt hắt lên. Con đường đầy những
vết chân dê càng lúc càng dốc những con bọ gậy bò lổm ngổm trên đám lá vàng ướt
sũng sương đêm. Càng lên cao rừng càng âm u. ở những cánh rừng như thế này trời
tối khi nào đám trẻ mải chơi không kịp biết. Trên đầu tán cây ken dày khít ong
bay vù vù. Vất vả lắm tôi mới theo kịp Câm. Đàn dê không cần đuổi cũng đã chạy
trước sục vào những bụi cây gai mịt mùng.
Và đây tôi đang đứng trên đỉnh
của một trong những ngọn đồi hùng vĩ nhất Tây Côn Lĩnh. Gió lồng lộng thổi như
muốn cuốn tôi bay lên cao… Và kia oà ra trước tôi xanh rợp tím ngắt bàng bạc trắng
dập dềnh như những con sóng là cả triền núi mơn mởn ngải đắng vừa thức dậy từ
sương mù. Tôi lao vô tri vào đấy úp mặt lên nó một trạng thái nửa mê nửa tỉnh tựa
hồ quay về những năm tháng rất xa. Những năm tháng mà có lúc tưởng như nó chỉ
còn phảng phất trong cuộc sống cuồn cuộn chảy dữ dội vật lộn hôm nay. Tôi gặp
cha tôi ở đây. Ông vẫn cường tráng vâm vấp tôi rúc vào ông như một con gấu
non…
Tôi đã trở về nơi tôi sinh ra.
Nơi mặt trời lên muộn nhất và đi ngủ sớm nhất.
Tôi đã trở về trên núi cao.
SAU NHỮNG MÙA TRĂNG -
Truyện
ngắn Đỗ Bích Thúy
Đỗ Bích Thúy
SAU NHỮNG
MÙA TRĂNG là truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Bích Thủy đạt Giải nhất cuộc thi
sáng tác văn học hướng tới giao thừa thế kỷ 1998 - 1999 Tạp chí Văn nghệ quân đội
Không hẹn trước mà lần nào trở
về tôi cũng gặp trúng mùa trăng. Mùa trăng có ý nghĩa với người miền núi nhiều
lắm. Thường thì người ở trên nương cứ thấy khói bếp dưới bản bay lên là bảo
nhau về, nhưng vào mùa trăng thì ai cũng cố nán lại. Thêm một gùi, hai gùi cũng
cố, vì người già bảo hạt lúa, bắp ngô cuối ngày bao giờ cũng mẩy hơn, chắc hơn
buổi sáng. Thế nên nhiều hôm về đến nhà thì trẻ con đã ngồi chờ cơm gà gật bên
bếp.
Đã mấy lần trăng lên rồi trăng
tàn tôi không về. Mấy mùa trăng là mấy lần mẹ mang mẹt thuốc ra phơi, rồi lại
mang vào cất đi. Ngày tiễn tôi đi, cha tôi bùi ngùi: "Mày đi thì tốt cho
cái thân mày chứ ở đây mãi cũng như tao, như anh mày thôi, tóc bạc, mỏi chân,
cũng chỉ có chín bậc cầu thang với cái ngưỡng cửa. Cố mà học lấy cái khôn vào đầu
nhưng phải nhớ giữ cái lưng cho thẳng, giữ cái đầu không cúi xuống... Lìn
à". Lúc ấy, nhìn vào mắt cha, tôi đã định không đi, nhưng cha đẩy tôi lên
xe. Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy cha. Vào đời, chưa kịp học lấy
cái khôn vào đầu cho "mắt sáng ra, cho miệng rộng ra" để mang về khoe
với cha chì cha đã ra đi, sau cái chết đột ngột của anh Lân tôi. Từ đó, mỗi khi
nhớ về căn nhà rộng thênh thang của mình, tôi không hình dung nổi nó ra sao khi
thiếu vắng bàn tay sắp đặt kỹ lưỡng của cha.
Về đến con suối đầu bản tôi gần
như vấp phải một người đang ngồi trên phiến đá rộng như mặt bàn. Một chàng trai
còn rất trẻ, hai bắp vai vồng lên dưới lớp áo tà phủ còn thơm mùi lá nhuộm.
"Làm gì mà ngồi ở đây một mình thế?". "Ngồi chơi trăng lên
thôi". "A, lại thổi khèn gọi con gái nhà ai phải không?". Chàng
trai cuối đầu ngượng nghịu. Tôi ngồi xuống cạnh anh ta, để nguyên cả giày sục
xuống suối. Nước suối ấm, chầm chậm uốn quanh bãi lanh mọc cao hơn đầu người.
Vì thế về bản phải lội hai lần trên cùng một con suối. Ngày nhỏ, anh em tôi với
lũ bạn cứ nằm xoài ra, để nước cuốn trôi từ trên xuống dưới bãi lanh, đập nước
mỏi chân vài lần là biết bơi.
Một tốp con gái đi nương về lội
ào qua mặt tôi, phảng phất mùi của lá dẻ khô, mùi nương đồi, mùi cỏ cháy, buông
lời chòng ghẹo. "Hôm nay lại có thêm một người nữa à. Anh gì ơi, đến Vần
Chải tìm ai đấy?". "Chắc là tìm đứa con gái đẹp nhất rồi".
"Thế thì không có đâu. Con gái Vần Chải ai cũng đẹp như nhau mà". Tiếng
cười rộ lên, khuất sau bãi lanh rồi vẫn nghe tiếng cười, cả tiếng hát cất lên:
"... Dêu hẩn lầu tẩu lốc, bản nuông bàu mi lóc. Lóc hẩn lầu tẩu lải, bản
nuông bàu mi vai..." (Bản em không có nắng, lấy trời râm làm cảnh đẹp. Bản
em không mưa phùn, thì chàng ơi hãy về) ... Tiếng hát bay lên, dội vào vách núi
cao ngất, xao động cả đêm đang xuống. Tôi đi qua bãi lanh, cảm giác hơi ấm của
đám con gái vừa đi qua vẫn còn phảng phất.
Đến đoạn suối thứ hai, định lội
ào qua rồi về nhà mình luôn thì tôi bắt gặp một người đang dầm mình dưới chỗ nước
sâu. Trên bờ, một gùi củi cao ngất dựng cạnh bụi cây. Tôi ngồi thụp xuống sợ bất
chợt người con gái quay lại nhìn thấy mình thì khó xử quá. Trăng đã bắt đầu lên
phía sau ngọn Tạ Đú làm cả đoạn suối sáng bừng lên. Người con gái có đôi bờ vai
rất tròn, cái cổ cao mà trắng như đá núi vỡ. Tôi nghe rõ cả tiếng khoả nước...
Đang định đứng dậy, quay lại chỗ ban nãy, chờ cho cô gái đi trước rồi mới về. Thì
cô gái đã đứng lên. Tôi cứng đờ như thằng ăn trộm bị bắt quả tang. Cô gái ú ớ
không thành tiếng một lúc rồi kêu lên: "Ôi, chú Lìn. Chú Lìn phải không?
Làm chị hết cả hồn. Chú về sao không báo trước cho mẹ mừng?". Tôi líu ríu:
"Chị dâu! Sao đi nương về muộn thế, lại còn đi một mình!". "ừ. Cố
một tí cho xong để mai còn sang nương khác". "Đưa gùi em mang
cho." "Thôi, chú không gùi được đâu. Lâu lâu không gùi cái gì thì đau
vai lắm". Chị cúi xuống xốc gùi củi lên vai. Gùi củi cồng kềnh lại nặng
nên cả người chị phải lao về đằng trước. Đi sau, tôi nhận ra hơi nóng từ cơ thể
chị làm cho váy áo ướt như có sương mù bay lên. ở miền núi, con gái phải tập
gùi từ lúc 8-9 tuổi. Gùi mãi, đủ thứ trên lưng, già rồi vẫn gùi nên bao giờ
lưng cũng còng sớm hơn lưng đàn ông. Chị dâu tôi còn phải gùi nhiều hơn người
khác, gùi thay cả mẹ, thay cả tôi. Chẳng biết đến bao giờ mới thôi không phải
gùi nữa. Từ sáng sớm đến tối mịt, cái lưng chỉ thẳng ra mỗi lúc ngủ.
Hai chị em mải miết đi, phía
sau tiếng khèn lá đã cất lên.
Nhà tôi có ba anh em, anh cả,
tôi và em gái út. Tôi với anh giống nhau y hệt. Ngày nhỏ, nghe hàng xóm hay đùa
bảo mẹ tôi phải lấy nhọ nồi bôi lên mặt một đứa để còn biết đâu là anh, đâu là
em. Hai đứa đã cãi nhau mà cãi không xong là đánh nhau. Vì chẳng đứa nào chịu
nhận mình là người phải đánh dấu. Lớn lên tí nữa thì tôi lại cao vượt lên. Mười
tám tuổi anh Lân mới chỉ đứng đến tai tôi. Ngày anh cưới vợ, tôi đã biết cầm
dao chọc tiết con lợn gần một tạ, anh em thôi không còn cãi cọ nữa. Nhưng tôi
đi chưa đầy năm thì anh bị lợn rừng húc chết trong một đêm lên nương canh ngô.
Cha tôi đau buồn suốt mấy tháng trời vì chưa kịp có cháu nội. Không riêng gì
cha mà cả họ đều trông chờ vào anh Lân. Nhưng chị dâu lúc ấy còn đứng thấp hơn
cái khung cửa vài gang tay, một tay tôi cũng đủ sức nhấc bổng chị lên. Không biết
có phải vì thế mà anh chị chưa kịp có con hay không?
Tôi bước lên cây cầu thang
quen thuộc, kịp nhận ra sự thiếu vắng bóng đàn ông ngay trong ngôi nhà của
mình. Một bậc cầu thang bị vỡ ra một miếng từ bao giờ chưa có ai thay, cái cặp
tre cời bếp cháy nham nhở gần đến tay cầm vẫn cố dùng, cần giã gạo long ra, để
chỏng chơ... ở nhà thì thế, còn khi trong họ, ngoài bản có việc gì lớn nhà mình
không có đàn ông, đàn bà có đến cũng chỉ được ở dưới bếp, trưởng họ có nói gì
không thuận tai cũng phải nghe theo. Lâu nay mẹ tôi đau yếu thế, chắc chị dâu
cũng chẳng bao giờ mặc váy áo đẹp đi đâu. Mẹ sờ nắn khắp người tôi, bắt tôi ngửa
hai bàn tay xem vết chai còn hay mất, nhìn tôi chăm chăm suốt bữa ăn. Dường như
mẹ vẫn chưa hết ngỡ ngàng vì sự trở về đột ngột của tôi. Tôi đã xa ngôi nhà của
mình quá lâu, lâu đến nỗi quên cả chỗ ngồi của mình trên tấm phản lớn nhất bên
bếp.
Chị dâu mở tủ, lấy gói chè gói
kỹ trong mấy lần giấy ra pha. Chị biết tôi nghiện chè, mà phải thứ chè nhà tự
sao lấy. Thỉnh thoảng có người xuôi, tôi lại nhận được chè chị gửi. Chè ở đây mọc
hoang. Dưới thấp người ta còn chặt đi để lấy chỗ trồng thứ khác chứ trên cao,
tít trên đỉnh núi mặc kệ, muốn lớn đến đâu thì lớn. Mùa xuân nhà nào có người
hay uống chè lại mang gùi lên lấy về mà sao. Đi hai lần là đủ chè uống cả năm,
uống đến mùa xuân năm sau.
Mí quấn lấy tôi một lúc lại bỏ
sang ôm cổ chị dâu đòi đi ngủ. Ngày chị về nhà tôi Mí mới được hơn 2 tuổi vẫn
chưa rời vú mẹ, nó quấn quýt với chị cho đến giờ. Cả nhà chỉ mỗi mình Mí dứt
khoát không gọi chị dâu mà gọi chị gái, mẹ nói thế nào cũng không nghe.
Tôi bảo với mẹ rằng lần này
tôi về để đón mẹ xuống ở với tôi, lần sau thì đón cả chị dâu, cả em Mí, tôi muốn
mọi người ở bên mình, muốn mọi người hết khổ. Mẹ nắm chặt đôi tay trên đầu gối:
"Đấy là những gì mày học được từ khi ra khỏi nhà phải không Lìn? Mắt mày
sáng ra bằng nào tao chưa thấy, chỉ thấy mày quên hết lời cha mày dặn thôi,
quên cả lời hứa khi nào tinh như con cắt lúc rời tổ mày sẽ về, sẽ lấy vợ, có
nhiều con trai. Mày nói ở quê khổ quá à? Khổ mà tao vẫn sống đến giờ, khổ mà trẻ
con vẫn lớn được! Không có ai chết vì khổ được đâu, chỉ có chết vì trong bụng đựng
toàn điều xấu thôi...".
Tôi muốn bảo mẹ rằng ý tôi
không phải như mẹ nghĩ, nhưng không mở miệng được. Mẹ không cần tôi cho mẹ cuộc
sống khác, mẹ cần một đứa con trai để ngày mưa gió có người dọi nhà, có người
chèn cửa. Chị dâu khẽ khàng lên tiếng: "Chuyện ấy để mai hẵng nói, chú Lìn
đi nghỉ kẻo mệt". Chị đã trải chiếu, mang chăn ra chỗ ngủ cho tôi từ lúc
nào. Mệt, đau nhừ, mỏi rã rời mà không sao ngủ được.
Đã gần giữa thu, trời bắt đầu
lạnh, những cơn gió hun hút luồn qua vách nứa. ánh trăng sáng trắng lọt qua ô cửa
nhỏ, hắt cả một quầng sáng vào trong nhà. Cả bản tôi nằm gọn trong một thung
lũng, bốn phía là rừng, qua rừng đến nương ngô, nương lúa, qua nương lại đến rừng
rồi đến bản khác? Bản ở dưới thung lũng nên ngập trong ánh trăng. Ban đêm, những
nếp nhà sàn lô nhô lẫn vào rừng cây trông không rõ đâu là nhà, đâu là những tán
cây rậm rì, cao vút. Giữa mùa, trăng cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa
trước ra cửa sau. Đêm trời càng gió, trăng càng sáng thì hôm sau càng nắng to.
Hồi còn ở nhà, mùa trăng nào tôi cũng bám áo anh Lân tìm đến nhà nào có con gái
đẹp thổi sáo suốt đêm. Anh Lân thổi khèn lá tài lắm, phiên chợ nào cũng có con
gái quấn theo mãi, tối không về được. Thế mà về bản, đứng ở đầu hồi nhà người
ta có khi ba đêm liền cũng không thấy ai ra. Ba đêm không được thì bảy đêm, bảy
đêm cũng không được là hỏng rồi, sang nhà khác thôi. Lần anh đến nhà chị dâu
tôi bây giờ cũng hết đêm thứ bảy mà không được gì đã định bỏ. Cả ngày hôm sau
anh bỏ cơm, gắt om xòm. Đến đêm thứ tám lại mang mũ nồi giấu dưới gối, đi. Đêm
thứ chín, trăng lên muộn lắm, tôi đã thiu thiu ngủ lại thấy anh dậy mặc áo.
Anh bảo: "Thôi đêm nay
mày đừng theo tao nữa, muộn rồi. Tao đi, có khi ngủ luôn ngoài rừng không về".
Gần sáng thì anh về, lật chăn ra, bắt tôi dậy để anh cho xem chiếc khăn tay màu
xanh thêu mấy bông hoa trắng lấm tấm. Ít lâu sau, anh cưới vợ...
Đêm khuya, bản đã yên ắng lắm,
nghe rõ cả tiếng nước đập vào ghềnh đá rào rào ngoài sông, tiếng trâu thở phì
phì đuổi muỗi, tiếng chim lợn rít lên cuối rừng... và càng rõ hơn tiếng khèn lá
từ ngoài suối vọng vào. Tiếng khèn lúc gần lúc xa, lúc như tiếng gió dài lê
thê, lúc ào ào như nước lũ, lúc cao vun vút, rộn rã như cánh chim buổi sớm...
Tiếng khèn như thế nói được nhiều điều lắm, đủ để cô gái nào đó hiểu rằng chàng
trai sẵn sàng làm tất cả vì cô, đổi tất cả những gì mình có để lấy ánh mắt của
cô, bán tất cả để mua nụ cười của cô. Chàng trai ấy sợ đôi chân cô dẫm phải đá
sắc lên nương, sợ gai cào tay cô, làm rách vành khăn của cô lúc vào rừng. Chàng
trai ấy nhìn cô cười để vui, nhìn cô khóc để buồn... Không biết chàng trai có
đôi tay nổi bắp cuồn cuộn ấy gọi ai.
Đột nhiên có tiếng cọt kẹt của
sàn nhà. Chị dâu từ trong buồng rón rén bước ra, vừa đi vừa vấn lại mái tóc dài
đến eo lưng. Tự dưng tôi run bần bật, một cảm giác đau buốt nhói lên phía ngực.
Tôi nhắm nghiền mắt. Hẫng hụt, như người rơi xuống đáy sông sâu hun hút...
Kéo chăn lên ngang mặt, chỉ hở
hai con mắt tôi cố nén để không vùng dậy. Nhưng chị dâu chỉ đi ra bếp thổi lửa,
mang lanh ra quấn. Ánh lửa bập bùng hắt lên gương mặt tròn của chị. Hình như đến
giờ tôi mới thực sự hiểu ra vì sao ngày xưa anh Lân có thể thổi khèn lá tới đêm
thứ chín. Đôi gò má căng, đỏ rừng rực, khuy áo bên trên bật ra trễ nải, để lộ
ba ngấn cổ cao trắng ngần, khuôn ngực phập phồng nhè nhẹ... Tiếng khèn mỗi lúc
một réo rắt, đôi tay chị quấn lanh nhanh hơn, cuống quýt mà ánh mắt thẫn thờ.
Được một lúc, chị đứng dậy với thúng ngô trên gác xuống tẽ... Tiếng gà rừng tít
thăm thẳm xa đã eo óc gáy. Răng cắn chặt môi tê dại. Lát sau tôi thiếp đi mãi đến
lúc nghe tiếng cối xay ngô rền rĩ dưới gầm sàn mới tỉnh dậy. Chị dâu đã trở lại
vẻ hoạt bát, thậm chí tôi không dám tin chắc có tiếng khèn đêm qua, nếu như cuộn
lanh không rối tung nằm đó... Chị mang ấm nước nóng ra pha cho tôi rửa mặt:
"Đêm qua ngủ có phải co chân không chú Lìn?". Tôi hấp tấp: "Đặt
mình xuống là ngủ luôn chị dâu à. Lâu quá mới ngủ được một giấc ngon như thế".
Chị dâu cười. Tôi thấy đầu óc váng vất. Trời còn chưa sáng rõ chị dâu đã xay
ngô xong. Mẹ tôi bảo: "Năm nay nhà mình làm cốm được đấy con dâu?".
"Vâng, có chú Lìn về mà!".
Ở quê tôi, mùa cốm là mùa hội.
Sáng mười bốn âm lịch, mặt trời còn chưa lên đã mang đòn gánh lên nương lúa cao
nhất "tan" lúa về. Buổi chiều, đàn ông xuống gầm sàn tìm chỗ đắp bếp
đất, đàn bà nhóm lửa nướng thóc non. Đêm xuống trăng lên thì con trai con gái
trong bản kéo nhau tới giã cho từng nhà. Giã cốm thâu đêm, hết cốm thì cho rơm
vào giã, giã để còn được ngắm nhau, được nói lời hay với nhau mà không sợ ai
nghe mất. Thế nên sáng hôm sau về nhà có ai hỏi đêm qua giã được mấy mẻ cốm, cốm
năm nay có ngon hơn năm trước không cũng chẳng biết. Mấy năm rồi, đến mùa cốm
chị dâu chỉ mang một cum sang gửi hàng xóm lấy cốm cho cái Mí ăn chứ nhà không
làm. Chị dâu đi đến trưa mới về, bốn cum thóc nếp còn xanh mọng nặng trĩu hai đầu
đòn gánh. Mẹ kêu lên: "Ấy da, lấy về nhiều thế con dâu? Định cho thằng Lìn
ăn cốm thay cơm thay thịt hay sao?". "Để chú Lìn khỏi quên mùi núi rừng
thôi mẹ à”. Chập tối, hai chị em đắp bếp, nướng thóc, xếp sẵn một lượt vào cối
dài thì đám thanh niên tới, chia ra mỗi bên hai, ba đứa con trai con gái xen
nhau. Đứa con gái có cái lúm đồng tiền cất tiếng hát, hát xong, bọn con trai nhấc
chày lên, lúc con trai giã xuống, bên kia con gái nhấc lên. Vừa giã vừa chòng
ghẹo nhau, thỉnh thoảng lại rúc rích cười. Một đứa con gái nói to, át cả tiếng
chày thụm thụp: "Chị Lân à, làm sao con gái có chồng rồi mà cứ đẹp mãi,
ngày càng đẹp thế". "Em nói ai?". "Còn ai nữa. Bao nhiêu đứa
muốn hỏi chị đun nước lá gì gội đầu mà tóc đen thế, nhiều thế, đun củi gì mà má
hồng thế đấy!". "Chỉ nói lung tung thôi. Chị già rồi mà".
"Không già tí nào đâu chị ơi. Cứ đẹp mãi thế lại khối người Vần Chải khổ
thôi". "Bậy quá. Không được đùa thế đâu". Mặc kệ, tiếng cười vẫn
cứ lanh lảnh. Chị dâu bối rối, sảy mẹt cốm vãi cả ra ngoài.
Bốn cum thóc, chỉ một loáng,
trăng lên đến ngọn cây dẻ cao nhất cuối rừng thì đám thanh niên giã xong, lại
lũ lượt kéo nhau sang nhà khác. Còn một mình chị dâu lúi húi dọn dẹp. Chị khe
khẽ hát. Bất chợt tiếng khèn lá đêm trước lại dội lên, chị luống cuống bê thúng
cốm đi như chạy lên cầu thang, suýt vấp ngã. Chị cài chặt then cửa, lao vào buồng,
tôi còn nghe tiếng thở dồn dập rất lâu.
Mẹ tôi ra khỏi buồng, đến trước
bàn thờ cha tôi. Tôi chỉ nghe được tiếng thở dài nén rất nặng trong lồng ngực mỏng
manh của mẹ. Sau khi làm hai đám ma, trong nhà tôi hầu như không còn gì. Bò,
dê, gà, lợn mổ để thầy mo cúng làm lễ hết, ngô lúa cũng hết. Cha tôi mất tháng
trước thì tháng sau trời nắng to, nắng ghê gớm, nắng từ lúc mặt trời chưa lên hẳn
đến lúc mặt trời sắp lặn. Nắng từ ngày này sang ngày khác, già bản tụ tập tất cả
bô lão trong làng lập dần cầu khấn mà trời vẫn không cho một giọt mưa. Trên nương,
ngô vừa ra bắp bằng chuôi dao đã khô quắt lại, lúa ngả sang màu trắng, bông phất
phơ như lau. Rừng già lách tách tiếng vỏ cây vỡ nứt. Rồi cháy, cháy khủng khiếp,
cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng, đến sáng thứ tư thì thôi. Đứng
dưới bản nhìn lên chỉ còn thấy một màu đen của cây cháy. Đột ngột, kinh hoàng
quá, không ai còn khóc được.
Nương sắn chưa đầy năm cũng nằm
trong vùng cháy. Chị dâu mang dao, mang gùi đi từ sáng sớm đến trưa mới về, gùi
một gùi sắn đã chín, củ nào cũng chỉ như ngón chân cái. Mí hớn hở ăn, rồi say,
nôn ra máu. Nó ốm, tóc rụng trơ cả da đầu, nằm ẹp như một con mèo con, chỉ còn
thấy hai hốc mắt. Mẹ cũng kiệt sức, ngồi bó gối bên giường Mí mấy đêm liền, đến
lúc chị dâu đỡ mẹ nằm xuống, đôi chân vẫn co như đang ngồi. Ban đêm, lúc mọi
người ngủ, chị dâu đốt đuốc ra suối lật từng viên đá lên tìm cua. Sáng sớm, lúc
mọi người chưa dậy, chị đã mang ống bương qua hai quả núi đi lấy nước... Những
ngày tháng ấy nếu không có chị dâu không biết điều gì sẽ xảy ra. Còn tôi, khi về
được bản, nương lúa mới trỉa đã bắt đầu lên xanh, phủ dần màu đen của tro than.
Như một sự trả nợ, vụ ấy trời cho được mùa, lúa ngô mang về không còn chỗ để.
Chú tôi đến chơi, bảo là
"để xem bao giờ thằng Lìn mới chịu lấy vợ". Chú thím cố mãi cũng chỉ
toàn con gái. Tưởng có mỗi chuyện ấy thôi nhưng đến lúc ăn cơm xong, đợi chị
dâu mang bát đi rửa chú mới nói: "Chị à, con dâu ngày càng đẹp ra đấy,
khéo mà giữ kẻo mang tiếng họ Bàn". "Chú nói gì? Nó đi đâu mà phải giữ.
Đi từ nhà lên nương, từ nương về nhà, mặt chỉ biết cúi xuống nhìn lối
đi...". "Chị không biết rồi...". "Biết cái gì?".
"Người già mà ngủ say được thế sao chị dâu? Ngủ say quá nên không nghe đêm
trăng nào cũng có đứa đến gần nhà thổi khèn lá! Đứa ấy gọi ai? Gọi cái Mí chín,
mười tuổi à? Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không
như hoa đào thế đâu".
Tiếng nước xối ào ào rồi lặng
yên. Mẹ liếc nhìn chú, lại nhìn ra cửa. Chị dâu khệ nệ bưng chồng bát vào, nước
bắn lên váy ướt lem nhem, dính vào đôi bắp chân tròn. Con gái miền núi có đôi bắp
chân đẹp là nhớ quấn xà cạp lúc đi làm, lúc ra khỏi cửa, chỉ đêm mới tháo ra.
Chú tôi vê điếu thuốc lào phả khói mù mịt, ngồi thêm lúc nữa rồi lẳng lặng ra về.
Chị dâu rút nắm đuốc trên gác bếp châm lửa, đưa chú xuống cầu thang. Ngày trước,
chú là người phản đối việc anh trai tôi đòi cưới chị. Chú chê chị bé, chê con gái
mà ngực lép, lông mày rậm là không biết làm dâu, là có lúc cãi bố mẹ chồng. Sau
này, khi anh tôi rồi cha tôi mất, chính chú lại là người thương chị dâu nhất,
chuyện gì cũng nói như với con gái. Thế mà bây giờ...
Chú Phin về rồi, mẹ bảo tôi:
"Mày mới về, nghe chú nói, biết thế, đừng nghĩ xấu cho nó". "Mẹ
nghĩ thế nào?". "Tao làm dâu họ Bàn, nó cũng là dâu họ Bàn, chết đi
làm ma họ Bàn. Muốn gì cũng không được đâu".
Chị dâu ngồi vào khung cửi. Chị
bảo cố dệt để còn kịp đi phiên chợ tới. Tôi bảo để tôi thức cùng cho chị đỡ buồn,
chị bảo đàn ông chỉ thức đêm ngoài sông, trên rừng, không ai thức cạnh khung cửi.
Nghe tiếng lạch xạch, lúc gấp gáp, lúc trễ nải tôi không sao ngủ được.
Tiếng khèn lá vẫn réo rắt từng
đêm, từng đêm. Đêm nào chị dâu cũng ngồi bên khung cửi, đống lanh trắng chất đầy
hai quẩy tấu không hết. Từng đêm, từng đêm ấy, tôi nằm cứng đơ như khúc gỗ,
nghiến mỏi hàm răng nhìn chị hai lần, ba lần đứng lên mang dây lanh ra buộc cửa,
buộc thêm, thêm mãi, thành một đống rối tung to xù. Không biết có phải tại ánh
trăng hắt từ bên ngoài vào hay không mà tôi thấy mặt chị đã không còn hồng, mà
tái xanh, cặp mắt như mắt người say rượu. Đêm thứ tư, đêm thứ năm... đến đêm thứ
bảy thì tôi vùng dậy, lao như một con thú ra cửa, giằng tay chị ra khỏi mớ dây
lanh bùng nhùng. Chị giằng co với tôi, sợi lanh thô cứng cửa vào tay chị bật
máu...
Tôi không nhớ mình đã nói gì để
thằng con trai còn rất trẻ, tóc ướt sũng sương đêm ấy lủi thủi bỏ đi. Lúc trở về
nhà, chị dâu đang đứng ở chân cầu thang, mắt nhìn chằm chằm vào bàn tay đang nắm
chặt của tôi. Tôi đi qua chị không nói một lời nào, run lên vì hơi nóng rừng rực
đang toát ra từ đôi cánh tay trần phơi dưới ánh trăng, từ đôi mắt thăm thẳm của
chị.
Chú Phin ốm, bảo tôi lên canh
nương thay chú vài hôm. Tôi mang dao quắm, đèn pin đi. Nương ở xa nên chắc sẽ ở
lại luôn đến hôm nào chú khỏi mới về. Buổi chiều, chị dâu lên, mang theo cá nướng
với thịt dê. Chị cắm cúi dọn nồi niêu, chăn màn, không nói câu nào. Mãi đến lúc
chị định về, tôi cũng mới mở miệng được: "Chị dâu à, em bảo thằng Sìn đem
khèn lá đi nơi khác mà thổi. Nhìn vào mắt nó em không chịu được...". Chị
dâu run run: "Chị không nghĩ đến thằng Sìn bao giờ đâu, chú đừng lo".
"Thế thì chị dâu nghĩ đến ai? Ai hở chị dâu? Người ấy có ở Vần Chải
không?". "Chú đừng hỏi nữa, chị xin...". Chị dâu khóc. Tiếng
khóc bật ra như thác lũ thượng nguồn không gì ngăn được. Khóc như để trôi đi những
bức bối trong lòng. Nước mắt chảy ròng ròng trên gương mặt bợt bạt, rớt xuống ướt
ngực áo...
Cuối mùa trăng, tôi lại đi. Mẹ
vẫn không một lời ngăn cản, mẹ mặc tôi. Tiễn tôi đi chỉ có chị dâu với em Mí. Đến
chỗ con suối chảy qua chị dừng lại, cúi nhặt một viên sỏi đưa cho tôi:
"Chú mang đi để khỏi quên đường về Vần Chải". Tôi cố nhìn chị, mắt chị
rưng rưng, lấp lánh ánh trăng mờ xa cuối rừng chưa kịp lặn. Chị quay đi. Gió sớm
từ trong khe núi lùa ra thông thốc làm váy chị, váy em Mí xoè ra.
Tôi mím môi bước đi. Bãi lanh
còn đẫm sương đêm quệt vào mặt lạnh buốt. Ra đến đoạn suối bên ngoài lại nhìn
thấy ngay trước mặt, trên phiến đá rộng, một người đang gục đầu lên hai cánh
tay vòng trên đầu gối. Xung quanh, lá rừng bị xé tung tơi tả. Sìn! Đúng là Sìn.
Ngẩng đầu lên nhận ra tôi hình như nó định đứng dậy, định chạy đi, nghĩ sao lại
ngồi yên. Đầu tóc, quần áo Sìn ướt sũng, râu mọc tua tủa trên gương mặt tím
tái...
Tôi đi qua Sìn. Hòn sỏi trong
tay bỏng rát. Trăng cuối mùa vẫn chưa kịp lặn nhưng đã lẫn vào chân trời đang
sáng dần lên...
31-12-1999.
Ð.B.T
(Văn nghệ quân đội xuân Canh Thìn)
Đêm cá nổi
Truyên ngắn của Đỗ Bích
Thúy
Tôi sinh ra ở núi rừng. Tôi ăn
học ở thành phố. Núi rừng là tuổi thơ tôi. Thành phố là tuổi thanh xuân của
tôi. Núi rừng ở sau lưng. Thành phố đang ở trước mặt. Tôi đang đi từ phía trước
mặt về phía sau lưng. Đi về dòng Lô, dòng sông quê tôi…
Nửa đêm. Tôi giật mình choàng
tỉnh mới biết mình mơ. Tôi cảm thấy có ai đó đang mơn man những ngón tay mềm
trên mặt mình. Ra là ánh trăng. Trăng cuối tháng lên muộn, mới đang lấp ló trên
đỉnh Thúng Khiếu, lọt những tia sáng ngả xanh qua vách nứa. Gió vẫn rít lên khe
khẽ, trăng càng sáng thì trời càng thêm lạnh. Mùi thuốc nam còn tươi bà tôi đem
phơi sương bay vào dễ chịu…
Giữa sàn, bếp lửa vẫn còn ấm sực
nhờ hai gộc củi lớn chụm vào nhau đang ngun ngút cháy không thành ngọn. Trong
gia đình người Tày lửa không bao giờ được tắt. Khi nào bếp không có lửa ắt là
điềm gở. Người già chọn con dâu, chỉ cần nhìn cách chụm củi, cách vun bếp là đủ
biết có khéo, có đảm hay không.
Có ánh đèn pin loang loáng,
cha tôi lục sục trở dậy. "Po khó ngủ hở Po?". "Không. Tao
đi ra sông". "Làm gì cơ?". "Còn làm gì nữa. Đang mùa cá
chép đẻ mà". "A, Po đi lấy trứng về thả". "Mày
còn nhớ à. Tưởng cơm thịt Hà Nội làm mày quên rồi chứ. Con ơi! mày là người của
núi rừng…". Cha nói như dằn dỗi. Ông lẳng lặng đưa cho tôi cây đèn pin
khác, cây đèn có đai sẵn, đeo vừa lên trán. Ông với bao dao trên vách, cầm thêm
chiếc xô nhựa phăm phăm ra cửa…
Sông quê tôi đây. Những lần nhắm
mắt nhắm mũi đạp xe qua cầu trên sông Tô Lịch tôi lại thảng thốt nhớ đến quay
quắt dòng Lô quê mình. Ngày nhỏ, không biết đã bao lần tôi đẩy chị Lả ra chỗ
sâu, mặc chị uống mấy hớp nước rồi mới lôi vào. Vậy mà chị vẫn không tài nào
bơi được. Cũng tại chị tôi nhát quá, cầm con chuồn ngô, vạch áo lên cả chục lần
mà cứ dấm dứ mãi không dám để nó cắn…
Dòng sông lọt giữa hai bên là
trùng trùng những dãy núi vắt đầy mây trắng xuyên qua đất Vị Xuyên. Quanh năm
bóng núi cao vời vợi hắt xuống làm dòng sông dường như càng thêm sâu thăm thẳm.
Đêm nay, trăng núi hạ tuần nhuộm cho cả lòng sông ánh u tịch, trầm mặc. Gió lạnh
chạy đuổi nhau ào ào, hun hút trên mặt sông u u huyền bí. Sóng nước dềnh lên ì
oạp do con nước vấp phải ghềnh đá rải rác giữa dòng. Năm nào cũng vậy, cứ vào độ
này - quãng tháng Chạp ra Giêng - là mùa cá chép nổi lên tìm chỗ đẻ trứng. Cá
chép là thứ cá vừa khôn vừa dại, quanh năm kiếm ăn dưới đáy sâu, hiếm khi quăng
chài, câu hay đánh dậm, đánh đó mà tóm được chúng. Ấy vậy mà cũng chỉ nó mới
đem cái sự sinh nở duy trì nòi giống đầy thiêng liêng ngoi lên trên mặt nước mà
khoe với thiên hạ. Người bản tôi ít ăn cá chép. Người già bảo rằng cá chép là
loài chúa tể, quyết định sự tồn vong của loài cá sông, đem nó lên đĩa là một
hành động phạm thượng. Thế nên khi đánh bắt được cá chép người ta có thể vì tiền
mà đem bán chứ ít khi ăn. Cũng vì thế mà khúc sông này hình như nhiều cá chép
hơn cả, chúng không bị săn lùng ráo riết cho mấy quán ăn bình dân dưới phố huyện.
Hằng năm, cả bản ra sông vớt trứng cá đem về thả trong ao. Cuối năm, dịp ông
Táo lên chầu trời là vừa kịp có cá chép bằng bàn tay phục vụ cho người tỉnh,
người huyện mang ra sông phóng sinh.
Hai cha con tôi tắt đèn, ngồi
nấp sau bụi lau sậy um tùm. Dưới chỗ chúng tôi ngồi chỉ chừng một tầm với thôi,
đàn cá chép đang bắt đầu tụ tập quanh đám rễ cây buông xuống nước mềm mại, ấm
áp. Độ nửa giờ sau, khi vầng trăng tròn nhô lên tới ngọn cây trám giữa thôn
Nùng thì bắt đầu có tiếng lóc tóc lách tách. Cha tôi thì thầm: "Bắt đầu rồi
đây". Dần dần, tiếng lóc tóc lách tách lớn lên, âm thanh vội vã gấp gáp
hơn, rồi rõ ra thành tiếng quẫy đạp ùm ũm. Tôi nín thở dõi theo ánh đèn pin đã
che khuất hai phần ba bằng ngón tay trỏ của cha tôi, không tin nổi vào mắt
mình. Bầy cá dễ có đến cả trăm con lúc nhúc chen vào giữa đám rễ cây, bên
ngoài, những con khác nối đuôi nhau lượn thành vòng tròn. Bất chợt cha tôi vung
dao, miệng lầm bầm: "Mất dạy không nào!". Thì ra có mấy gã bống, chuối
đang tìm cách len vào, mồm há ra đón lõng những dòng trứng vừa tuôn ra chưa kịp
quấn vào đám rễ cây. Sau cái vung tay của cha tôi, lũ cá chuối, bống kia biến mất.
Bầy cá chép vẫn mê mải quấn quýt bên nhau.
Tôi để cha ngồi lại một mình rồi
xuôi xuống mé dưới. Không riêng gì cha con tôi mà người trong bản xuống lấy trứng
cá cũng đông lắm. Bụi cây nào cũng thấy có tiếng nói chuyện rì rầm. Bản tôi bám
dọc theo nửa bờ bên này, phần ruộng nương tương đối bằng phẳng chạy vào chân
núi độ nửa cây số. Bên kia sông là nương ngô, sắn của người Dao Lùng Áng, họ
làm nhà chênh vênh giữa lưng chừng núi. Thời điểm này thu hoạch nương rẫy xong
rồi họ thường vào rừng sâu kiếm mật ong…
Bản tôi ở dưới thấp, trong
thung lũng. Mà thung lũng thì như cái lòng chảo, hứng lấy mùn trên núi, mưa lũ
đưa về nên đất đai màu mỡ, trồng cấy thứ gì cũng lên như thổi. Rừng chẻ ra muôn
khe suối lớn nhỏ chảy ngoằn ngoèo qua bản làng, ra sông. Mùa cạn, trẻ con kéo
nhau ra úp mặt xuống lòng suối tập bơi. Nhưng cũng chính những khe nước nhỏ này
lại là những cánh cửa mở ra đón nước lũ tràn vào bản bạo liệt và hung dữ mỗi
mùa mưa.
Ở rừng, mùa mưa thường đến sớm.
Trên này mùa mưa chán chê rồi mà dưới xuôi có khi vẫn còn khô hạn. Trước mùa
mưa, cua bò lổm ngổm từ suối lên, sáng ra thấy cua bậu kín cả chân cầu thang. Ấy
là lúc ngô lúa, đậu lạc ngoài đồng phải mau mau mang về. Biết vậy mà hầu như
năm nào cũng có những thửa ruộng chưa kịp thu hoạch vì con lũ tràn về nhanh
quá. Thời điểm ấy những cơn mưa như trút nước nối tiếp nhau kéo dài lê thê. Một
ngày… hai ngày… một tuần… rồi hai tuần… nước đỏ ngầu nhấn chìm các con suối. Nước
tràn vào đồng thấp, nước leo lên đồng cao, nuốt chửng cả những gò đồi trồng đỗ
đen, đỗ xanh lá đã ngả vàng. Nước dâng mãi, dâng mãi ngập đến ba bậc cầu thang
thì dừng lại. Trẻ con cởi truồng ôm chậu đập bì bùm bơi sang nhà nhau chơi, hò
hét í ới. Người lớn quây quanh bếp lửa, chất thêm củi, đun nước pha chè bồm, luộc
một nồi sắn thơm lừng… Đàn ông rít thuốc lào, đàn bà mang cum thóc nếp ra vò,
tính xem vụ hè này có cần bán lợn mua phân vi sinh không.
Cái lũ dữ dằn thế, làm tơ tướp,
gẫy dập cả vườn tược cây cối, nhưng ở chán rồi cũng phải đi và để lại cả cánh đồng
đầy ứ phù sa vàng mỡ. Sau mùa lũ, sang thu, người ta không phải bỏ công cày bừa,
cứ chọc lỗ thả hạt thóc, hạt ngô xuống phù sa là an tâm rồi…
Chân tôi đang đạp trên lớp cỏ
mượt như nhung. Bờ sông không có lối bởi vì một trăm người đi là một trăm lối
đâm ngang đâm dọc, ai muốn đi lối nào thì cứ đạp cầu nối giữa Lùng Áng, Phú
Linh, Linh Hồ sang đất Đạo Đức, Vị Xuyên. Lên tỉnh hay về Hà Nội thì cũng phải
sang đây. Trong căn lều bên bến có một người đang cúi đầu vào bếp thổi phù phù.
Tôi nhận ra Huyên. Ngày xưa tôi và Huyên cùng học ở trường huyện, lớn lên tôi
được đi xa, còn Huyên phải bỏ học vì nhà neo người, cha Huyên lái đò mấy năm rồi
nhưng hay đau ốm.
Huyên rót cho tôi bát nước chè
rồi bóc sắn vùi vào bếp. Gương mặt tròn trịa, trắng ngần kín đáo dưới tấm khăn
lanh đen đang được ánh lửa hắt lên hồng rực. Huyên hỏi tôi, hỏi mà như cười giễu:
"Páo ơi, người Hà Nội còn biết chèo đò qua thác Pắng không đấy?".
"Có chứ. Quên thì không lấy được vợ đâu Huyên à". "A lúi! Páo vẫn
nhớ lời dặn của người già cơ à. Này… học xong thì về bắc được cây cầu sang Phú
Linh đấy nhỉ". "Ừ. Được… nhưng không bắc đâu. Để Huyên còn chèo đò nữa
chứ, vắng Huyên thì buồn lắm". Huyên cười thành tiếng. Tiếng cười trong vắt
vỡ ra giữa đôi hàm răng đều như hàng ngô nếp đầu mùa trắng bóng. "Huyên
ơi, hát phươn đi cho Páo nghe với. Lâu quá không được nghe rồi, nhớ lắm!".
"Thôi mà. Mặt trời chưa mọc không hát được đâu…".
Bên kia sông có tiếng í ới gọi
đò. Tôi chỉ nhìn thấy lờ mờ đám người gồng gánh gì đó hình như rất nặng.
"Người Phú Linh, Linh Hồ đi đâu sớm thế hở Huyên?". "Đi bán cam
đấy. Trời sáng là có ô tô đón ở đường quốc lộ rồi. Năm nay được mùa bán mãi
không thấy hết. Đám cưới nào cũng làm to lắm". "Huyên ơi, bao giờ thì
Huyên…". "Ôi! Không ai thèm chặn đường đâu Páo à. Xấu quá mà".
"Không phải, tại Huyên đòi nhiều bạc trắng quá thôi…". Huyên lắc đầu
quầy quậy, nhanh tay tát nước trong thuyền, tháo dây neo rồi nhẹ nhàng quay
mũi. Hai tà áo dài mềm mại bị gió hất tung lên…
"Thằng Páo đâu rồi! Páo
ơi". Cha tôi gọi. "Nhanh tay lên nào, sáng tới nơi rồi". Tôi chạy
tới giúp cha nâng mớ rễ cây, cỏ rác đã đầy ứ những trứng là trứng. Những dải trứng
trơn nhẫy, quấn chặt lấy đám rễ cây, đến nỗi chỉ túm riêng đám rễ ấy thôi mà
xách về có khi cũng không rơi ra được. Nhưng cha tôi bảo mang trứng về không
khéo để nó xóc sẽ không nở thành con được. Trong xô có hai con chép cỡ bàn tay
đang ngáp khan, cha bảo tôi đỡ chúng ra. "Con Mực vồ được lúc nãy đấy. Mất
nết quá". Con chó Mực đang nằm ẹp bên gốc cây, chừng như biết lỗi, đầu và
hai chân trước ướt sũng. Cha tôi mang hai con cá ra chỗ dòng nước xiết thả
chúng xuống.
Có tiếng gì như tiếng gà gáy,
lại như không phải. Nghe lúc gần lúc xa, eo óc. Tách te! Tách te! "Tiếng
con tắc kè đấy phải không cha?". "Tắc kè đâu ra. Tiếng gà đấy chứ.
Tai mắt ra làm sao vậy". Tiếng gà thật. Mà không đâu xa, nó cất lên ngay
sau lưng cha con tôi, từ trong khu rừng ma. Tiếng gáy nghe cô độc, day dứt, tôi
thấy lành lạnh sống lưng. Có tiếng gà nghĩa là có người mới được đưa về đây.
Theo phong tục người Tày, mỗi dòng họ trong bản đều có một khu rừng riêng dành
cho người chết, bọn trẻ trâu chúng tôi gọi là rừng mả. Trong đó rậm rạp âm u,
toàn những thân cổ thụ mấy người ôm, không ai dám bén mảng tới, kể cả lũ trẻ bạo
gan, liều lĩnh nhất. Khi có người chết, trong nhà mồ bao giờ cũng có đủ những
thứ tối thiểu cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày - nồi niêu, gạo, muối… còn thêm
cả một con gà trống cho có bạn. Chả hiểu sao con gà cứ ở mãi trong đó, một
mình, đêm nào cũng eo óc gáy sớm hơn gà nhà. Đi qua khu rừng để về theo đường bến
đò, chẳng ai bảo ai cả, cha con tôi đều đi dấn bước lên. Đây là khu rừng của
nhà ông ké Huy, dòng họ đông nhất nhì trong bản…
Vừa ra tới đường mòn, cha con
tôi vấp ngay phải một anh đang đứng nghếch chân lên chiếc Simsơn đỏ. Nhìn chằm
chằm vào chiếc xô nhựa cha tôi đang xách, anh ta nháy mắt: "Này bác, bán
cho một nửa được không?". "Không bán đâu. Thích nuôi thì cho thôi, lấy
cái gì đựng đi. Mà nhớ thả riêng cho lớn lớn một tí đã nhé". "Ấy! -
Anh kia cười - tôi làm gì có ao mà nuôi, ở dưới xuôi lên sau mà. Nước ăn còn chả
đủ nói gì nuôi cá. Mua về cho con lợn nái mới đẻ thôi". Cha tôi vo tròn
chiếc túi anh ta vừa đưa, ném phịch xuống lối đi: "Thế thì không cho được".
Nói rồi ông phăm phăm bỏ đi mặc anh kia đứng nghệt ra.
Đi tắt qua cánh đồng về nhà
cho nhanh, chân tôi giẫm lên những gốc rạ mới cắt ướt sũng sương muối. Nhà nào ủ
một đống rơm giữa ruộng còn ngọn khói bốc lên, thi thoảng cơn gió ào tới lại
làm cả đống tro than đỏ rực lên. Hình như những hạt phù sa đã nhuộm những gốc rạ
cho nó màu vàng xuộm. Chưa ở đâu tôi bắt gặp cái màu vàng ấy…
Đất trời đang ở cái khoảnh khắc
giao hòa giữa ngày và đêm. Sau lưng tôi, phía ngoài bãi ngô là một dải sương mù
trắng đục rất lớn, trời lạnh quá, hơi nước từ sông cũng chỉ dâng lên được chừng
ấy. Đám gà nhà trong xóm bây giờ mới thi nhau gáy, đập cánh phành phạch… Còn
xuôi về mé dưới, giữa cái đu đưa chín mọng của vườn cam, cái tí tách bật chồi
xanh mướt của nương chè là quầng sáng hắt lên từ nghĩa trang liệt sĩ. Như thể
đã lâu lắm rồi… cái thời đêm đêm từng đoàn xe quân sự phải bật đèn gầm khi tới
đất Vị Xuyên… Và kìa, từ phía bến đò vẳng lên tiếng hát "phươn" trong
vắt mà thanh, nhẹ như sợi chỉ căng ra giữa cái rét cắt da cắt thịt. Có lẽ Huyên
đã chở hết đám khách Phú Linh mang cam sang bên này.
"Là ới!... Hẩu lầu khảng
lưởng thếp lẩu ma. Ngọn cần phả bàu dệp. Hẩu lầu khảng lưởng thếp hẩu bản. Bản
muông bàu mi dêu… Ới a… Vai hẩn làu tẩu láu. Khít thải thử nuông tam... Khuyên
hẩu làu khảy vả. Sung nhăng mi nuông chắp...".
(Ngày hôm nay trời không mưa
sao anh lại cầm ô vào làng. Ngày hôm nay trời không nắng sao anh lại cầm ô lên
bản… Nếu anh thương em thì đưa áo em khâu đường chỉ tuột… Anh nhé, đừng phụ
công em. Đi xa phải nhớ về…).
Tôi định chạy trở lại phía
sông, nhưng mặt trời đã lên mà vầng trăng vẫn còn thấp thoáng phía chân trời…



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét