Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

Phù Sinh Lục Ký của Vương Thao

 


 

Phù Sinh Lục Ký của Vương Thao

Mục Lục

Lời giớithiệu

Về tácgiả

Vui khuê phòng

Thú nhân tình

Sầu trắc trở

Khoái lãng du

TrảiTrung Sơn

Nhàndưỡng sinh

Phụ lục

Đề Phù Sinh Lục Ký của xử sĩ Thẩm Tam Bạch

Lời tựa sách “Phù Sinh Lục Ký” của Cận Tăng

Lời tựa sách “Phù Sinh Lục Ký” của Dương Dẫn Truyền cư sĩ

Lời bạt sách “Phù Sinh Lục Ký” của Vương Thao

 

Tặng Tâm Thần muội muội, mong muội muội luôn vui vẻ, dù trong tình cảnh nào!

Hốn Nịn Ca Ca!


Nguồn


Lời giới thiệu Phù sinh lục ký

 


Lời giới thiệu

Cách đây ít năm, tôi tình cờ đọc một bài trả lời phỏng vấn trên báo của nhà văn nổi tiếng Trung Quốc - Phùng Ký Tài về công việc sáng tác tản văn, trong đó có một đoạn hỏi đáp khiến tôi chú ý; khi phóng viên hỏi: “Nếu phải ở trên một hòn đảo cách biệt được chăm lo đầy đủ, nhưng chỉ được mang theo một cuốn tản văn yêu thích, thì ông sẽ mang theo cuốn sách nào? Vì sao?” Phùng Ký Tài đã không ngần ngại trả lời ngay rằng: “Cuốn sách ấy là Phù sinh lục ký, vì nó có thể đọc đi đọc lại, giống như thơ vậy, đọc lên thấy thích thú và gợi cho mình nhiều suy nghĩ khác nhau.”

Câu trả lời ấy của Phùng Ký Tài khiến tôi rất tò mò về cuốn Phù sinh lục ký mà ông nhắc đến, đồng thời, cũng thấy một cảm giác rất quen thuộc, tựa hồ mình đã được nghe về cuốn sách đó ở đâu rồi. Sau khi lục soát lại trí nhớ của mình, tôi mới à lên một tiếng: Hóa ra tôi đã từng được nghe đến tên cuốn sách, và được đọc một vài phiến đoạn của nó qua cuốn Sống đẹp của Lâm Ngữ Đường, được Nguyễn Hiến Lê dịch. Trong tôi chợt dấy lên một mong muốn tìm hiểu trọn vẹn tác phẩm mà Lâm Ngữ Đường Phùng Ký Tài đều đánh giá cao, thậm chí dẫn dụng trong tác phẩm của mình này, cũng như về tác giả của nó.

Phù sinh lục ký là một tiểu thuyết tản văn, thể tự truyện đặc sắc của nhà văn đời Thanh - Thẩm Phục. Thẩm Phục tự Tam Bạch hiệu Mai Dật, xuất thân trong một gia đình sĩ tộc Tô Châu. Theo như tự thuật trong tác phẩm, ông sinh năm 1763, không rõ năm mất. Có thể nói, Phù sinh lục ký là một bông hoa lạ trong khu vườn văn học Trung Quốc. Tác giả là một người có tình cảm phong phú, tính cách hào sảng, tài hoa dồi dào, có thể gây lên một tình điệu cao nhã, và phát hiện ra những điều thú vị độc đáo ngay từ cuộc sống bình thường. Cho nên, tuy phải sống trong cảnh nghèo khó, trải qua nhiều nỗi trắc trở, ông vẫn có một tâm thái lạc quan trước cuộc đời, khiến cho cuộc sống bình thường trở nên tràn đầy xúc cảm nghệ thuật. Trên một bình diện nào đó, cuốn sách đã trở thành kim chỉ nam cho việc phẩm vị hóa cuộc sống cũng như nhã thú của văn nhân.

Tiếc rằng, do tác giả của cuốn sách không có danh vị cao trong xã hội, gia cảnh lại khốn quẫn, nên tác phẩm đã không được ấn hành ngay thời ông còn sinh tiền, mà chỉ có bản chép tay lưu truyền ở đời. Đến năm Quang Tự thứ ba (1877), khi Dương Dẫn Truyền lần đầu tiên ấn hành tác phẩm, thì “sáu ký đã mất hai”, khiến cho bản Phù sinh lục ký truyền thế giống như bức tượng thần Vệ Nữ bị mất cánh tay, chỉ còn lại bốn ký đầu mà thôi. Tuy nhiên, văn chương của Phù sinh lục ký đã lập tức khiến văn đàn sửng sốt và hâm mộ, đến nỗi không lâu sau đó, trên thị trường đã xuất hiện một bản được gọi là Túc bản Phù sinh lục ký (Phù sinh lục ký bản đầy đủ), bổ sung thêm quyền kỷ thứ 5: Trải Trung Sơn, và thứ 6: Nhàn dưỡng sinh. Song, qua khảo chứng của rất nhiều học giả, thì đều có một nhận định chung rằng: hai quyển ký bổ sung ấy đều là ngụy tác. Có thể nói, trong lịch sử văn học Trung Quốc, các tác phẩm, hoặc một phần tác phẩm nguy tác là không ít, song một tác phẩm xuất hiện muộn, ngay trong đời Thanh mà có những phần được ngụy tác, cũng là hiếm có và phải vô cùng đặc biệt.

Lâm Ngữ Đường, trong lời tựa bản dịch tiếng Anh cuốn Phù sinh lục ký năm 1936, có nói: “Tôi đoán chừng rằng, trong các tầng thư gia đình ở Tô Châu, hay các tiệm sách cũ, nhất định sẽ có một bản toàn vẹn, nếu có may mắn ấy, thì có thể chúng ta sẽ phát hiện được.” Đến nay, tuy chưa ai phát hiện được một bản toàn vẹn như Lâm Ngữ Đường nói (không tính bản ngụy tác), nhưng cũng rất may mắn, vào năm 2005, nhà sưu tập Bành Lệnh, đã sưu tầm được một cuốn sách viết tay có nhan đề là Ký sự châu của Tiền Vịnh - học giả, nhà thư pháp nổi tiếng đời Thanh, người sống cùng thời với Thẩm Tam Bạch, trong đó đã tìm thấy có những đoạn ghi chép của Tiền Vịnh về Phù sinh lục ký, đặc biệt là thiên: Sách phong Lưu Cầu quốc ký lược,((1) Lưu Cầu: tức quần đảo Ryukyu, thuộc tỉnh Okinawa, cực nam của Nhật Bản ngày nay.) đã được rất nhiều học giả nhận định là sao lục từ quyển thứ 5 - Trải Trung Sơn (hay còn gọi Hải quốc ký) của Thẩm Tam Bạch. Tuy những phần Tiền Vịnh sao lục chưa đầy đủ quyển kỷ thứ 5 - Trải Trung Sơn - đã thất truyền của Thẩm Tam Bạch, nhưng cũng cho chúng ta thấy phần nào trong nguyên tác của ông.

Kể từ lần đầu tiên ấn hành cho đến nay, Phù sinh lục ký đã được xuất hơn 120 lần ở Trung Quốc. Quyển 2 – Thú nhàn tình của tác phẩm còn được trích một đoạn dùng trong sách Ngữ văn cho học sinh phổ thông Trung Quốc như là một khuôn mẫu về cổ văn. Đồng thời, tác phẩm được dịch ra nhiều ngôn ngữ như: Anh, Đức, Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển, Nhật Bản, Mã Lai... và ở nhiều nước khác. Tuy nhiên cho đến nay, tác phẩm vẫn chưa từng được dịch và giới thiệu một cách đầy đủ ở Việt Nam. Trong lần xuất bản đầu tiên này, chúng tôi lựa chọn cách giới thiệu tác phẩm tới các bạn độc giả như là một “Túc bản” với phần chính đầy đủ sáu quyển ký, để độc giả có thể hình dung được diện mạo chung của tác phẩm, dẫu rằng hai quyển sau được cho là ngụy tác. Ngoài ra, chúng tôi có dịch bổ sung thiên Sách phong Lưu Cầu quốc ký lược từ Ký sự châu của Tiền Vịnh, cùng một số lời tựa, lời đề bạt của sách trong phần Phụ lục để độc giả tiện tham khảo.

Văn chương Phù sinh lục ký cô đọng, súc tích, giàu chất thơ, dịch giả tuy đã cố gắng, nhưng cũng chưa thể truyền đạt hết được cái hay cái đẹp của tác phẩm, rất mong các bậc cao minh bác nhà lượng tình cảm thông (chỉ giáo giúp thêm ý kiến để tác phẩm có thể hoàn thiện hơn nữa.

Tháng đầu thu, Mậu Tuất, 2018

Dịch giả

 

 Về tác giả

Thẩm Phục tự Tam Bạch hiệu Mai Dật, xuất thân trong một gia đình sĩ tộc ở Tô Châu. Theo như tự thuật trong tác phẩm, ông sinh năm 1763, không rõ năm mất.

Có thể nói, Phù sinh lục ký là một bông hoa lạ trong khu vườn văn học Trung Quốc. Tác giả là một người có tình cảm phong phú, tính cách hào sảng, tài hoa dồi dào, có thể gây lên một tình điệu cao nhã, và phát hiện ra những điều thú vị độc đáo ngay từ cuộc sống bình thường.

Cho nên, tuy phải sống trong cảnh nghèo khó, trải qua nhiều nỗi trắc trở, ông vẫn có một tâm thái lạc quan trước cuộc đời, khiến cho cuộc sống bình thường trở nên tràn đầy xúc cảm nghệ thuật. Trên một bình diện nào đó, cuốn sách đã trở thành kim chỉ nam cho việc phẩm vị hóa cuộc sống cũng như nhã thú của văn nhân.

 

 

 

1. Vui khuê phòng

 


Vui khuê phòng

 

Tôi sinh ngày hăm hai tháng Mười một, mùa đông năm Quý Mùi niên hiệu Càn Long, (Tức năm 1763) gặp thuở thái bình thịnh thế, lại xuất thân nhà áo mũ, ở bên đình Thương Lang, Tô Châu. Ông trời hậu đãi tôi, có thể nói là rất mực vậy. Đông Pha có câu: “Việc như xuân mộng, hết khôn lưu!”, (Nguyên văn chữ Hán: Sự như xuân mộng liễu vô ngân. Đây là câu thơ trong bài Nữ Vương thành họa thi của Tô Đông Pha) nếu chẳng đem bút mực mà ghi lại thì sao khỏi có lỗi với tình hậu ái của ông xanh. Nhân nghĩ đến thơ Quan thư là đứng đầu trong ba trăm thiên (Ba trăm thiên: chỉ Kinh Thi. Sách Luận ngữ có câu “Thi tam bách thiên” nghĩa là Kinh Thi có ba trăm bài (thực tế hiện có 305 bài), nên người ta dùng chữ “Tam bách thiên” để chỉ Kinh Thi. Bài Quan thư thuộc Chu Nam - Quốc Phong, là bài đầu tiên trong Kinh Thi, nói về tình yêu đôi lứa), nên mới sắp chuyện phu phụ ở đầu tiên, rồi sẽ lần lượt mà nói đến những chuyện khác. Chỉ thẹn rằng tuổi trẻ thất học, biết dăm ba chữ xoàng, chẳng qua là ghi lại tình thực việc thực mà thôi. Nếu như có ai khảo đính đến văn pháp, thì tất thành ra tấm gương mờ vậy.

Lúc còn nhỏ tôi có hỏi cưới Vu thị ở Kim Sa, nhưng khi tám tuổi thì yêu vong. Lại lấy Trần thị. Nàng tên là Vân, tự Thục Trần, là con gái Tâm Dư tiên sinh, cậu của tôi. Vân sinh ra đã dĩnh ngộ thông tuệ, khi học nói, được dạy truyền khẩu bài Tì Bà hành liên thuộc ngay. Lên bốn thì mất cha, chỉ còn mẹ là Kim thị, em trai là Khắc Xương, nhà chỉ có bốn bức tường trống. Vần lớn lên, giỏi kim chỉ thêu thùa, nhà ba miệng ăn đều nhờ vào mười ngón tay nàng cung cấp, Khắc Xương theo thầy học chữ, tiền lưng gạo góp không thiếu bao giờ. Một bữa, Vân tìm được một bản Tì Bà hành trong rương sách, lần lượt theo từng câu mà nhận mặt, bèn biết chữ. Những lúc thêu thùa rảnh rỗi, dần hiểu việc ngâm vịnh, từng làm câu thơ rằng: “Sương giăng hoa cúc mập; Thu lấn bóng người gầy.”

Năm tôi mười ba, theo mẹ về quê, hai đứa bé chúng tôi không tị hiềm gì, được thấy văn chương của nhau, tuy khen ngợi tài tứ dung nhan, mà trộm lo mình chẳng dày phúc trạch, nhưng trong lòng tôi luôn thương nhớ không nguôi, bảo với mẹ rằng: “Nếu muốn chọn vợ cho con, thì phi chị Thục sẽ chẳng lấy ai” Mẹ tôi cũng mến Vân tính nết nhu mì, bèn lập tức tháo chiếc nhẫn vàng trên tay mà đính nhân duyên. Hôm ấy là ngày mười sáu tháng Bảy, năm Ất Mùi niên hiệu Càn Long.

Đông năm ấy, nhân có người em gái họ xuất giá, tôi lại theo mẹ về quê. Vân cùng tuổi với tôi, mà hơn tôi mười tháng, từ nhỏ đã gọi nhau là chị em, nên vẫn gọi là chị Thục. Bấy giờ thấy đầy nhà quần áo tươi mới rực rỡ, duy Vân mặc quần áo trắng giản dị, chỉ có đôi hài là mới mà thôi. Thấy hài được thêu may tinh xảo, hỏi ra là vẫn tự mình làm lấy, mới biết thêm rằng tuệ tâm của nàng chẳng phải chỉ ở bút mực vậy. Hình dong Vân vai nhỏ cổ cao, gầy mà không lộ cốt, mày cong mắt đẹp, ánh nhìn đầy thần thái, chỉ có hai chiếc răng hơi lộ, tựa hồ không phải tướng tốt. Một vẻ yểu điệu thướt tha, thật khiến người khác phải tiêu hồn. Tôi đòi xem thi cảo của nàng, thấy có khi chỉ có một cặp đối, hoặc ba, bốn câu, phần đa chưa tròn bài. Vặn hỏi duyên do, Vân cười nói: “Thiếp viết mà chẳng ai dạy dỗ, mong được người tri kỷ chịu làm thầy mà sửa cho thành vậy.” Tôi đùa đề trên đầu tập mấy chữ “Cẩm nang giai cú” (Câu thơ đẹp trong túi gấm) (Lý Thượng Ẩn trong Lý Hạ tiểu truyện có: “Lý Hạ mỗi khi cưỡi lừa ra ngoài, lại dẫn theo một tiểu đồng đeo chiếc túi gấm, gặp khi nghĩ được câu thơ hay nào thì liền ghi lại bỏ vào túi.” Vì Lý Hạ chết khi mới hai mươi chín tuổi, nên tác giả mới nói câu mình đề trên đầu tập cho nàng Vân là điềm xấu). Nào có ngờ đâu cái cơ thọ yểu đã ẩn tàng sẵn trong đó vậy.

Tối hôm đó, đưa dâu ra ngoài thành, đến khi quay về thì giọt đồng hồ đã điểm canh ba, tôi đói bụng đi tìm cái gì ăn, mấy bà bõ đem mứt táo ra, nhưng tôi không thích đồ ngọt. Vân thầm kéo tay áo tôi, đi theo đến phòng mình, thì thấy có để sẵn cháo ấm và mấy món nhỏ, tôi mừng quá cầm ngay lấy đũa. Bỗng nghe tiếng anh họ của Vân là Ngọc Hành gọi: “Thục muội, mau lại đây!” Vân vội vàng đóng cửa nói: “Em mệt lắm, sắp đi nằm rồi.” Ngọc Hành lách mình chen vào, thấy tôi đang sắp ăn cháo, bèn cười nháy mắt với Vân, bảo: “Vừa nãy ta hỏi cháo thì muội nói “Hết rồi. Hóa ra là đem giấu ở đây đợi cho riêng cậu rể đấy?” Vân ngượng cuống chạy đi, khắp mọi người trên dưới đều cười ồ cả lên. Tôi cũng tức mình, kéo lão bộc về trước.

Từ khi cho tôi ăn cháo bị trêu chọc, lần sau tôi trở lại, là Vân lại lẩn tránh, tôi biết là nàng sợ bị người khác trêu cười vậy.

Cho đến đêm hoa chúc ngày hăm hai tháng Giêng năm Canh Tý, niên hiệu Càn Long, tôi vẫn thấy Vân vóc người gầy nhỏ sợ sệt y như thuở trước. Khăn phủ đầu gỡ xuống, bốn mắt ngây ngất nhìn nhau. Uống chén hợp cần xong, chúng tôi cùng sánh vai ngồi ăn bữa tối. Tôi ngầm nắm chặt lấy cổ tay nàng dưới bàn, thấy cổ tay nhỏ ấm, trơn mịn, trống ngực bất giác đập thình thịch. Tôi mời Vân ăn trước, khi ấy đúng dịp nàng ăn chay, thói quen ấy đã mấy năm nay rồi. Tôi thầm tính, khi Vân mới bắt đầu ăn chay là đúng khi tôi bị lên đậu, bèn cười bảo: “Nay tôi mình mẩy trơn tru bóng bẩy không hề gì, nàng có thể thôi ăn chay từ giờ được chứ?” Vân gật gật đầu ánh mắt tươi cười.

Hôm hăm tư là ngày nàng vu quy, hăm ba là ngày quốc kỵ, không được nổi nhạc, nên tối hăm hai là ngày chúng tôi mời tiệc cưới. Vân ra nhà ngoài mời tiệc, tôi ở buồng trong uống rượu với mấy người phù dâu, chơi đoán ngón tay bị thua hoài, uống say nằm ngủ, đến khi tỉnh dậy thì Vân đang trang điểm buổi sáng chưa xong.

Hôm ấy, thân bằng nối gót nhau đến, sau khi lên đèn mới nổi nhạc.

Đúng giờ Tý ngày hăm tư, tôi làm chàng rể mới tiễn bên đằng vợ về, cuối giờ Sửu mới quay về nhà, thì đèn đã tắt, mọi người đều ngủ cả. Lặng lẽ vào buồng, vú già ngủ gật dưới giường, còn Vân đã gỡ đồ trang sức nhưng chưa đi nằm, đuốc bạc còn chầm cao, cổ phần đường cúi thấp, không biết đọc sách gì mà say sưa như thế. Tôi nhận vỗ vai hỏi: “Nàng mấy ngày nay vất vả, sao vẫn còn không biết mệt như thế?” Vân vội ngoảnh lại, đứng dậy nói: “Vừa nãy thiếp đã định đi nằm, mở tủ thấy cuốn sách này, đọc xem mà bất giác quên cả mệt. Cái tên Tây sương, nghe quen đã lâu, mà nay mới được thấy, thực không hổ danh tài tử, nhưng không tránh khỏi hình dung khắc bạc vậy.” Tôi cười bảo: “Duy có tài tử, bút mực mới có thể khắc bạc được như thế.” Vú già ở bên giục giã đi ngủ, bảo đóng cửa rồi đi trước. Hai chúng tôi bèn ngồi sánh vai cười đùa, tựa như đôi bạn thân vừa gặp lại. Tôi đùa sờ vào ngực áo nàng, thấy rõ tim nàng đang đập rộn. Tôi cúi đầu ghé tai nàng nói nhỏ: “Sao tim đập mạnh thế?” Vân đưa mắt nhìn tôi mỉm cười. Tôi cảm thấy như có một sợi tơ tình lay động cả hồn phách, bèn ôm nàng bế vào trong màn, chẳng biết ngoài kia hừng đông đã rạng.

Vân làm dâu mới, ban đầu rất ít nói, trọn ngày không có chút nóng giận bao giờ, cùng nói chuyện thì chỉ biết mỉm cười mà thôi. Thờ người trên thì cung kính, với kẻ dưới thì ôn hòa, lúc nào cũng nghiêm cẩn chưa từng lầm lỗi bao giờ. Mỗi khi thấy ánh mặt trời vừa lên cửa sổ, là liền khoác áo trở dậy, như có người thúc gọi vậy. Tôi cười bảo: “Nay đâu phải thuở ăn cháo khi trước, mà còn sợ người trêu chọc?” Vân nói: “Xưa giấu cháo đãi chàng, thành ra câu chuyện cười cho người ta. Bây giờ không phải sợ trêu cười, mà là e cha mẹ nhà trên bảo nàng dâu lười nhác.” Tôi tuy tham ngủ lười, nhưng khen Vân như vậy là đúng, nên cũng dậy sớm theo. Từ đó chúng tôi đầu gối má kề, như hình với bóng, tình yêu dấu chẳng lời nào có thể tả xiết được.

Nhưng vui sướng dễ qua, chớp mắt đã hơn một tháng. Khi ấy cha tôi là Giá Phu công (Giá Phu là tên hiệu, công là cách gọi tôn kính) ở mạc phủ Cối Kê, sai người đặc biệt đến đón tôi tới thụ nghiệp dưới của Triệu Tỉnh Trai tiên sinh ở Vũ Lâm(Vũ Lâm: một biệt danh xưa của Hàng Châu). Tiên sinh dẫn dụ dạy bảo lần lần, đến ngày nay tôi có thể cầm bút mà viết được thế này, ấy là nhờ công sức của tiên sinh vậy. Hôm tôi về nhà thành hôn, vốn có hẹn ngày sẽ trở lại học quán hầu thầy. Nay thầy gửi thư tới hỏi, tôi nhận thư mà lòng buồn bã vô cùng, sợ rằng Vân biết chuyện sẽ khóc với mình. Nhưng ngược lại, Vân gượng tỏ ra vui vẻ mà khuyên nhủ, rồi giúp tôi chuẩn bị hành trang. Tối ấy, chỉ thấy thần sắc nàng hơi khác một chút mà thôi. Lúc lên đường, Vân nhìn tôi nói nhỏ: “Không có ai chăm giúp đỡ, xin chàng hãy tự giữ lòng cẩn trọng.

Kịp lên thuyền, nhổ sào, buổi ấy chính mùa đào mận tranh nhau khoe sắc, thế mà tôi thì chỉ thấy hốt hoảng như chim rừng lạc bầy, trời đất tối sầm một sắc!

Đến học quán rồi, cha tôi lại lập tức qua sông sang miền đông. Ở đó ba tháng mà thấy xa cách tựa mười năm. Vân tuy Ở thi thoảng vẫn có thư qua, nhưng thảy chỉ hỏi hai đáp một, quá nửa là những câu khuyên nhủ, còn lại đều là những lời phù phiếm, trong lòng tôi buồn bực vô cùng. Mỗi khi gió qua sân trúc, trăng hiện song tiêu, trông cảnh nhớ người, mộng hồn điên đảo. Thầy tôi biết tình ấy, liền gửi thư cho cha tôi, ra mười đề bài, rồi cho về nhà tạm nghỉ. Tôi vui sướng không khác gì lính thú được tha vậy.

Lên thuyền về rồi, càng thấy một khắc tựa năm. Kịp tới nhà, qua chỗ mẹ tôi vấn an xong, liền vội vào buồng, Vân đứng lên đón, cầm tay chửa nói nên lời, mà cả hai hồn phách phiêu diêu như hóa thành mây thành khói, thấy trong tai như có tiếng nổ ùng, chẳng hay rằng vẫn còn tấm thân này vậy.

Khi ấy là tháng Sáu, trong buồng nóng như hun, may là chúng tôi ở vách mé tây của Ái Liên cư, đình Thương Lang, trong cầu ván có cái hiên vươn ra dòng nước, đặt tên là “Ngã Thủ”, lấy ý từ câu “Thanh tứ trạc anh, trọc tư trực túc” (trong thì ta giặt lèo mũ, đục thì ta rửa chân)(Câu này trong thiên Ly lâu thượng sách Mạnh Tử, nói về nước sông Thương Lang, đầy đủ là: “Thanh tư trực anh, trọc tư trực túc, tự thủ chi dã.” (Trong thì giặt lèo mũ, đục thì rửa chân, ấy là (nước) tự giành lấy cho mình như vậy.) Nên tác giả mới giải thích về ý nghĩa cái tên hiên “Ngã thử” như vậy) vậy. Trước mái hiên có một cây cổ thụ, bóng rợp che song cửa, khiến mặt người cũng hóa màu xanh. Bên bờ đối diện khách du lại qua không ngớt. Ấy là nơi Giá Phu công - cha tôi, buông rèm tiếp khách. Tôi bèn bẩm mệnh với mẹ, rồi dắt Vân ra ở đó đến qua hết mùa hè. Vì nắng nóng nên lần thôi việc thêu thùa, cả ngày chỉ cùng đọc sách luận cổ, phẩm nguyệt bình hoa với tôi mà thôi. Vân không giỏi uống rượu, ép lắm thì được ba chén, tôi bèn bày cho trò xạ phúc (Xạ phúc: một trò chơi dùng làm tửu lệnh khi uống rượu thời xưa. Cách chơi là người ta dùng âu hay bát... úp kín một vật gì đó, rồi để mọi người đoán xem là thứ gì. Nếu đoán sai thì phải uống một chén rượu) để làm tửu lệnh, tự cho rằng sự hoan lạc ở nhân gian, chẳng có gì hơn được thế nữa.

Một hôm, Vân hỏi: “Các loại cổ văn, tông theo đầu là hơn?”

Tôi nói: “Quốc sách, Nam hoa thì hay ở chỗ linh hoạt; Khuông Hành, Lưu Hướng thì hay ở chỗ nhã khỏe; Sử Thiên, Ban Cố thì hay ở chỗ rộng lớn; Xương Lê thì hay ở chỗ hồn hậu; Liễu Châu thì hay ở chỗ cao vọi, Lư Lăng thì hay ở chỗ mênh mang; Tam Tô thì hay ở chỗ biện bác; Còn các cái khác như: sách đối của Giả, Đổng, biến thể của Dữu, Từ tấu nghị của Lục Chí, những cái có thể lấy làm vốn chẳng thể nói ra hết được, chỉ ở tuệ tâm lĩnh hội của người ta thôi.” (Trong đoạn này: Quốc sách chỉ Chiến Quốc sách - một tác phẩm sử học về thời kỳ Tiên Tần, không rõ tác giả, sau được Lưu Hướng biên tập san định lại. Nam Hoa tức Nam Hoa kinh của Trang tử. Khuông Hành, Lưu Hướng: hai học giả nổi tiếng đời Tây Hán. Khuông Hình nổi tiếng về chú giải Kinh Thi, Lưu Hướng cũng có nhiều tác phẩm, như Biệt lục, Thuyết uyển, Liệt nữ truyện... Sử Thiên: tức Tư Mã Thiên, nhà sử học đời Tây Hán, tác giả bộ Sử ký. Ban Cố: cũng là nhà sử học đời Tây Hán, tác giả bộ Hán thư. Xương Lê: tức Hàn Dũ, tự Xương Lê, nhà văn đời Đường. Liễu Châu: tức Liễu Tông Nguyên, nhà văn đời Đường, từng làm chức Liễu Châu Tư mã. Lư Lăng: tức Âu Dương Tu, nhà văn đời Tống, vốn sinh ở Cát Thủy, Lư Lăng. Tam Tô: chỉ ba cha con anh em: Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt đời Tống. Giả, Đồng: chỉ nhà văn Giả Nghị, và nhà Kinh học Đồng Trọng Thư đời Hán. Dữu, Từ: chỉ hai nhà văn Dữu Tín và Từ Lăng đời Nam Bắc triều. Lục Chí: tác gia đời Đường, sở trường về văn chính luận)

Vân nói: “Cổ văn thảy đều kiến thức cao vời, khí thế hùng vĩ, nữ nhân e khó học đến nơi được. Riêng có môn làm thơ, thì thiếp còn hơi có chút lĩnh ngộ.”

Tôi nói: “Nhà Đường lấy thơ để chọn kẻ sĩ, mà những bậc thầy về thơ tất phải suy tôn Lý, Đỗ” (Lý, Đỗ: chỉ hai nhà thơ lớn đời Đường Lý Bạch và Đỗ Phủ). Nàng muốn tông theo người nào?”

Vân luận rằng: “Đỗ thị thì lão luyện tinh thuần, Lý thi thì tiêu sái tự nhiên. Học theo cái thầm nghiêm của họ Đỗ, chẳng bằng học theo cái hoạt bát của họ Lý vậy.”

Tôi nói: “Công Bộ (Công Bộ: chỉ Đỗ Phủ. Vì ông từng làm chức Kiếm hiệu Công bộ Viên ngoại lang, nên được người đời gọi là Đỗ Công Bộ) là bậc đại thành của thi gia, những kẻ học giả phần nhiều đều tông theo, riêng nàng lại học theo họ Lý là như thế nào?”

Vân nói: “Cách luật nghiêm cẩn, ngôn từ lão luyện, thực là sở trường riêng có của Đỗ. Nhưng thơ của Lý uyển chuyển như tiên nữ trên núi Cô Xạ (Theo Trung tử - Tiêu Diêu du núi Cô Xạ là nơi thần tiên cư ngụ), có cái thú vị của hoa rơi nước chảy, khiến người ta yêu mến. Không phải là Đỗ kém hơn Lý một bậc, chẳng qua là ý riêng của thiếp, nhẹ lòng học Đỗ, mà nặng lòng mến Lý vậy.”

Tôi cười bảo: “Thật lúc đầu ko thể ngờ rằng Trần Thục Trân chính là tri kỷ của Lý Thanh Liên.” (Thanh Liên: là tên hiệu của Lý Bạch)

Vẫn cười nói: “Thiếp còn có người thầy vỡ lòng là tiên sinh Bạch Lạc Thiên (Bạch Lạc Thiên: tức Bạch Cư Dị tự Lạc Thiên, là tác giả bài Tì bà hành), thiếp vẫn luôn cảm kích trong lòng, chưa quên bao giờ.”

Tôi nói: “Nói vậy là thế nào?”

Vân nói: “Chẳng phải đó là người đã viết bài Tì bà hành ư?” Tôi cười bảo: “Lạ thay! Lý Thái Bạch là tri kỷ, Bạch Lạc Thiên là thầy vỡ lòng, ta là chồng nàng, lại vừa vặn có tên tự là Tam Bạch. Nàng sao mà có duyên với chữ Bạch đến thế?”

Van cười nói: “Có duyên với chữ Bạch, sau này e là lại gắn liền với chữ Biệt vậy.” (Giọng đất Ngô, đọc chữ Biệt thành Bạch). Rồi, cả hai cùng cười lớn với nhau.

Tôi nói: “Nàng đã hiểu thơ, hẳn cũng biết cái hay cái dở của phú.”

Vân nói: “Sở từ là ông tổ của thể phú, thiếp học cạn khó mà hiểu được. Còn trong số những người đời Hán, đời Tấn, tình điệu cao vợi, ngôn ngữ điêu luyện, thì dường Tương Như (Tương Như: tức Tư Mã Tương Như, tự Trường Khanh, người Tứ Xuyên, là nhà từ phủ nổi tiếng đời Tây Hán) là hơn nhất.”

Tôi đùa bảo: “Thuở ấy, Văn Quân (Văn Quân: tức Trác Văn Quân, là con gái Trác Vương Tôn, dung mạo xinh đẹp, ở góa tại nhà, Tư Mã Tương Như trông thấy, bèn gảy đàn cầm trêu ghẹo. Văn Quân nghe đàn, bèn bỏ nhà theo Tư Mã Tương Như) chạy theo Trường Khanh, nhẽ chẳng phải vì ở tiếng đàn, mà là ở lời phú ấy chăng?” Cả hai lại cùng cả cười với nhau, rồi thôi.

Tính tôi hào sảng thẳng thắn, thoải mái không câu nệ. Vân lại như kẻ hủ nho, tuân thủ theo nhiều nghi lễ. Ngẫu nhiên có khi tôi làm việc chỉnh áo, sửa tà giúp cho, thì nàng tất liên mồm nói câu: “Đắc tội!”. Hoặc có khi tôi đưa khăn, trao quạt cho, cũng tất đứng dậy đón nhận. Tôi lấy làm không thích, nói: “Nàng muốn lấy lễ mà trói buộc ta ư? Có câu: Lễ nghi nhiều tất là giả dối đấy.” Vân hai má đỏ bừng nói: “Thiếp cung kính nên giữ lễ, làm sao lại nói rằng giả dối?” Tôi nói: “Cung kính là ở trong lòng, chứ đâu phải ở lời nói bên ngoài.” Vân nói: “Chí thân chẳng ai bằng cha mẹ, nhưng có thể chỉ kính trong lòng mà bề ngoài tùy ý buông thả ư?” Tôi bảo: “Câu ta nói khi nãy là đùa nàng thế thôi.” Vân nói: “Người thế gian giao giờ với nhau, phần đa do đùa cợt gây nên. Từ sau xin chớ nói oan cho thiếp, khiến người ta ức chết như thế!” Tôi bèn kéo Vân ôm vào lòng mà an ủi, nàng mới nguôi lòng vui vẻ mỉm cười. Từ đó những câu “Không dám”, “Đắc tội” càng thành những câu trợ ngữ không thể thiếu vậy.

Nâng án ngang mày (Đây chỉ tích vợ chồng Lương Hồng, Mạnh Quang kính trọng lẫn nhau như khách, mỗi khi vợ mang cơm cho chồng đều nâng mâm cao đến ngang mày) ăn ở với nhau hai mươi ba năm, thời gian càng dài tình càng khắng khít. Ở trong gia đình, có khi gặp nhau nơi ngõ hẹp, chốn buồng không, tất cũng cầm tay nhau hỏi: “Mình đi đâu thế?” mà trong lòng thấp thỏm như sợ người ngoài trông thấy. Thực thì chuyện cùng đi cùng ngồi, lúc đầu còn tránh người, lâu rồi mới không còn để ý nữa. Có khi Vân đang ngồi nói chuyện với người khác, trông thấy tôi đến, tất khép nép đứng dậy, tôi đến bên cạnh, đôi bên đều chẳng biết phải làm thế nào, mới đầu cũng lấy làm thẹn, về sau quen đi dần cho là thường. Riêng lấy làm lạ rằng, những vợ chồng lâu năm vẫn hay nhìn nhau như cừu thù, chẳng biết là ý thế nào? Có người lại nói: “Chẳng như ў thế, thì làm sao được bạch đầu giai lão?” Câu ấy là đúng ru?

Thất tịch năm ấy, Vân bày hương nến dưa quả, để cùng lễ bái Thiên Tôn (Thiên Tôn: tên sao, tức Chức Nữ. THÁNH THÀNH) ở hiên Ngã Thủ. Tôi khắc câu “Nguyện sinh sinh thế thế gi phu phụ” (Nguyện đời đời kiếp kiếp làm vợ chồng) làm hai con dấu, tôi giữ con dấu khắc nổi, vẫn giữ con dấu khắc chìm, để dùng khi viết thư qua lại cho nhau. Tối ấy, trăng sáng rất đẹp, cái nhìn dòng sông, sóng vờn như lụa, chúng tôi cầm cây quạt lụa mỏng, ngồi bên nhau cạnh song cửa trên bờ nước, ngừng nhìn mây bay ngang trời, biến hóa muôn hình vạn trạng.

Vân nói: “Vũ trụ bao la, cũng như một mặt trăng này. Chẳng biết trên thế gian hôm nay, còn ai cũng có tình thú như hai ta chăng?”

Tôi nói: “Hóng mát trông trăng, nơi nào chả có. Nhưng nếu là phẩm bình mây ráng, hay tầm cầu buồng thêu khuê các, thì hẳn những kẻ tuệ tâm thấu ngộ cố nhiên không ít. Còn như chúng ta, phu phụ cùng thưởng trắng thì cái điều thưởng thức phẩm bình e chẳng phải là ở mây ráng này vậy.”

Không mấy lâu, thì nến tắt trăng tàn, bèn dọn quả bánh về buồng nằm.

Rằm tháng Bảy, tục gọi là Tết vong. Vân chuẩn bị chút rượu nhắm, dự tính vợ chồng trông trăng uống rượu vui. Đến tối, bỗng mây đen như đêm ba mươi, Vân rầu rĩ nói: “Nếu thiếp có thể sống cùng chàng đến bạch đầu giai lão, thì trăng sẽ ló ra.” Tôi cũng buồn bã. Chỉ thấy bờ bên kia muôn vàn ánh đóm chập chờn khi sáng khi tối, đan dệt giữa những bãi rong ngàn liễu. Tôi với Vân cùng nổi thơ liên cú giải khuây, mà mới được đôi vần, càng nối càng rời rạc, không ăn nhập ý tứ gì, chỉ tiện miệng đọc bừa. Vẫn cười không ra tiếng, chảy cả nước mắt nước mũi, gục vào lòng tôi. Tôi chợt thấy bên tóc mai nàng, mùi hương nhài ngan ngát đưa vào cánh mũi, bèn vỗ lưng Vân, lựa lời hỏi dò: “Cứ ngỡ cổ nhân cho hoa nhài hình dạng màu sắc tựa như ngọc châu, cho nên dùng cài lên mái tóc mà trang điểm, nào hay hoa này đem sức cho tóc keo má phấn, mùi hương thơm lại càng đáng yêu, hương phật thủ vẫn dùng đáng phải chịu lui ba xá (Một xá là ba mươi dặm) vậy.” Vân liền ngừng cười, nói: “Phật thủ là quân tử trong đám hương thơm, chỉ phảng phất trong khoảng hữu ý vô ý. Còn hoa nhài là tiểu nhân trong đám hương thơm, cho nên phải mượn thế người khác, hương của nó cũng tựa như so vai cười nịnh vậy.” Tôi nói: “Thế sao nàng lại xa quân tử mà gần tiểu nhân?” Vân bảo: “Thiếp cười bậc quân tử yêu kẻ tiểu nhân đấy!”

Đang còn trò chuyện, thì giọt đồng hồ đã điểm canh ba, dần thấy gió đưa mây tản, một vầng trăng vụt hiện ra, hai chúng tôi đều mừng rỡ. Tựa song đối ẩm, rượu chưa được ba tuần, bỗng nghe thấy dưới cầu thăm một tiếng, như có người rơi xuống nước. Chạy ra cửa sổ nhìn kĩ, thì thấy mặt nước sáng phẳng như gương, chẳng thấy một vật gì, chỉ nghe tiếng con vịt chạy vội trên bãi sông. Tôi biết bên đình Thương Lang vốn có ma chết đuối, nhưng sợ Vân khiếp hãi, chẳng dám nói ra. Vân nói: “Ôi chao! Cái tiếng ấy ở đâu mà ra thế nhỉ?” Rồi không ngăn được sởn cả gai ốc, vội vàng đóng cửa sổ, xách rượu về buồng. Một ngọn đèn hạt đậu, màn trưởng chừng buông, mà thần hồn nát thần tính, mãi vẫn chưa hết sợ hãi. Tắt đèn vào màn, Vân đã hàn nhiệt phát bệnh. Tôi cũng kế theo ốm, khốn đốn mất hai chục ngày. Đúng thực như người ta nói “vui quá hóa buồn”, cũng là cái điềm chẳng trọn bạc đầu vậy.

Ngày Trung thu, bệnh tôi mới khỏi. Thấy Vân về làm dâu đã nửa năm mà chưa từng đến đình Thương Lang ở ngay sát vách nhà bao giờ, bèn trước hết bảo lão bộc sang hẹn với người coi đình, chớ để cho người vãng lai vào. Chiều gần tối, tôi cùng Vân, và em gái nhỏ của mình, có một vú già và một con sen theo hầu đỡ, có lão bộc đi trước dẫn đường, qua cầu đá, vào cửa rồi rẽ sang phía đông, theo lối quanh co đi vào. Có đá xếp thành núi, cây cối xanh um. Đình dựng trên đỉnh núi đất, men theo bậc mà lên đến giữa đình, nhìn ra khắp xung quanh có thể xa tới mấy dặm, chỉ trong bốn phía khói mờ, ráng chiều rực rỡ. Nơi bờ đối diện gọi là Cận Sơn lâm, là nơi tụ hội yến ẩm của Đại hiến, Hành đài, (Đại hiến: chỉ các chức Tuần phủ, Án sát; Hành đài: chỉ chức Hành thượng thư đài) bấy giờ Chính Nghị thư viện còn chưa được dựng. Chúng tôi mang theo một tấm thảm, trải ra giữa đình, rồi cùng ngồi quây tròn dưới đất, người coi đình đã pha trà dâng lên.

Một lát, vầng trăng sáng đã lên đến đầu cây, dần thấy gió đùa tay áo, trăng in lòng sông, nỗi tục lòng trần, chợt tan biến thư thái. Vân nói: “Buổi du ngoạn hôm nay vui quá! Giá được cưỡi một lá thuyền con, qua lại dưới đình, chẳng phải càng khoái ý ư!” Bấy giờ đã lên đèn, nhớ lại nỗi kinh hãi tối hôm rằm tháng Bảy, chúng tôi bèn đỡ nhau xuống định về nhà. Tục đất Ngô, tối hôm Trung thu này, phụ nữ chẳng phân biệt nhà giàu nhà nghèo thảy đều ra đường kết từng đội đi chơi, gọi là “đi chơi giăng”. Đình Thương Lang u nhã thoáng rộng, thì lại chẳng có một ai đến cả.

Giá Phu công - cha tôi, thích nhân nghĩa tử, vì cớ ấy mà tôi có tới hai mươi sáu người anh em khác họ. Mẹ tôi cũng có chín người nghĩa nữ, trong số chín người ấy, thì có hai Vương, cô sáu Du là thân thiết với Vân nhất. Vương ngờ nghệch mà giỏi uống rượu, Du thì hào sảng lại hay chuyện. Mỗi khi mấy người ấy cùng nhau tụ tập, tất đuổi tôi ra ở phòng ngoài, để được ba chị em nằm một giường. Đó chính là kế của cô sáu Du. Tôi cười bảo: “Đợi sau khi cô lấy chồng, tôi sẽ mời chồng cô đến, mỗi lần ở chục hôm liền cho biết.” Du nói: “Em cũng đến đây, ngủ cùng giường với chị dâu, thế chẳng hay lắm ư?” Vân với Vương nghe vậy chỉ mỉm cười mà thôi.

Lúc em trai tôi là Khải Đường lấy vợ, chúng tôi dời sang ngõ Thương Mễ, gần cầu Ẩm Mã. Phòng ốc tuy rộng rãi, nhưng không có được cái u nhã như ở đình Thương Lang.

Bữa sinh nhật mẹ tôi, nhà mời gánh kịch tới diễn, Vân mới thấy cho là lạ lẫm lắm. Cha tôi vốn chẳng kiêng kỵ gì, bèn chọn diễn mấy vở buồn như Thảm Biệt, nhà trò khéo diễn, ai xem cũng cảm động. Tôi nhìn qua rèm, thấy Vân bỗng đứng dậy đi vào, rất lâu vẫn không quay ra. Tôi đi vào buồng tìm, Du và Vương cũng nối gót đến sau. Chỉ thấy Vân hai tay chống cằm, ngồi một mình bên hộp gương trang điểm. Tôi hỏi: “Làm sao nàng lại không vui thế?” Vân nói: “Xem kịch vốn để thư thái tâm tình, vở kịch hôm nay lại khiến người ta đau lòng làm vậy.” Du với Vương đều cười. Tôi bảo: “Đây đúng là người nặng tình.” Du nói: “Chị dâu định ngồi một mình ở trong này cả ngày ư?” Vân nói: “Đợi có vở nào khá hơn thì chị lại ra vậy.” Vương nghe thấy thế đi ra trước, xin mẹ tôi chọn mấy vở như Thích Lương, Hậu Sách, (Thích Lương: tên một màn trong vở Ngư Gia Lạc của Chu Tá Triều - nhà viết kịch đời Thanh, nói về chuyện cô gái thuyền chài] Phi Hà đâm chết Lương Ký báo thù cho cha. Hậu Sách: tên một màn trong vở Hậu Tầm Thần Ký của nhà viết kịch Diêu Từ Ý đời Thanh) rồi mời Vân ra xem, bấy giờ nàng mới lộ vẻ vui thích.

Bác tôi là Tố Tồn công mất sớm, không có con trai, cha tôi cho tôi thừa tự bác. Mộ bác ở bên cạnh mộ ông nội tôi trên núi Phúc Thọ, cạnh đầm Tây Khoa. Hàng năm, cứ đến tiết xuân, tôi đều đưa Vân đến tảo mộ bái tế. Cô hai Vương nghe nói ở đó có Qua Viên là nơi cảnh đẹp, cũng xin cùng đi theo. Vân trông thấy đá cuội dưới đất có rêu bám thành hoa văn, loang lổ rất đẹp, bèn chỉ cho tôi xem, rồi nói: “Lấy đá này về xếp thành hòn non bộ, thì còn có vẻ cổ kính tinh tế hơn đá bạch thạch của Tuyên Châu.” Tôi nói: “Những viên như thế e là chẳng nhiều.” Vương nói: “Nếu chị dâu thích thì em nhặt cho.” Rồi liền mượn của người coi mộ một cái túi gai, nhảy chân sáo đi nhặt đá, mỗi khi được một viên, tôi khen “Đẹp”, thì bèn thu lấy, tôi bảo “Không!” thì lại vứt đi. Chả bao lâu, Vương đã mồ hôi mồ kê nhễ nhại, kéo túi quay về nói: “Nhặt thêm nữa thì không có sức đâu mà xách nổi!” Vân vừa nhặt vừa bảo rằng: “Tôi nghe người ta thu hoạch trái cây trên núi, tất phải nhờ đến sức lũ khỉ, quả nhiên là vậy!” Vương tức giận, giơ mười đầu ngọn tay ra bộ chực cào, tôi vội ngăn lại, trách Vân: “Người ta vất vả cho nàng được nhàn, lại còn nói câu ấy, chớ trách em Vương tức giận nhé!”

Trên đường về, vào chơi vườn Qua Viên, hoa đỏ lá xanh, đua nhau khoe sắc. Vương vốn ngốc nghếch, thấy bông hoa nào cũng bứt, Vân nạt rằng: “Đã chẳng có bình cắm, lại không cài tóc, em hái nhiều thể làm gì?” Vương nói: “Chúng có biết đau đớn đầu, hái thì hại gì?” Tôi cười trêu bảo: “Sau này phạt em gả cho chàng rể mặt rỗ rậm râu, để rửa hờn cho hoa!” Vương lừ mắt nhìn tôi vẻ tức giận, ném hoa xuống đất, lại lấy chân đá xuống dưới hồ, bảo: “Sao bắt nạt người ta quá thế!” Vân cười xòa khuyên giải đi mới thôi.

Vân hồi đầu thường lặng lẽ ít nói, chỉ thích nghe tôi nghị luận. Tôi đem lời khiêu khích, như người ta lấy lá cỏ khích dế chọi, nàng mới dần dà cùng tranh luận. Vân hàng ngày ăn cơm đều lấy nước trà chan, lại thích ăn cải muối đậu phụ, tục đất Ngô gọi là “đậu phụ thối”, và thích ăn trái dưa muối tôm. Hai món ấy, bình sinh tôi chúa ghét, nhân nói đùa Vân rằng: “Chó không có dạ cho nên ăn được phân, là vì không biết đến mùi xú uế; Bọ hung về phân mà hóa thành ve, (Truyền thuyết xưa cho rằng bọ hung sau hóa thành ve sầu) là vì muốn rèn sửa bản thân cho trở nên cao cả vậy. Nàng là chó chăng? Hay là ve chăng?” Vân nói: “Đậu phụ thì giá rẻ mà có thể ăn được với cháo với cơm, từ nhỏ thiếp ăn quen rồi, nay đến nhà chàng, đã như bọ hung hóa ra ve, nhưng vẫn còn thích ăn, là vì không quên gốc vậy. Đến như vị dưa muối tôm, thì tới đây mới được nếm” Tôi nói: “Như vậy thì nhà ta là cái ổ chó hẳn?” Vân quẫn bí, nhưng vẫn gắng giảng giải rằng: “Phân thì người ta ai mà chẳng có, khác nhau chủ yếu là ở chỗ ăn với không ăn mà thôi. Như chàng thích ăn tỏi, thiếp cũng gượng mà ăn. Đậu phụ thiếp không dám ép, nhưng dưa muối thì chàng có thể bịt mũi mà nếm thử, nuốt vào cổ rồi sẽ thấy mùi ngon của nó, ấy cũng như Vô Diêm (Vô Diêm: tức Chung Ly Xuân, người ấp Vô Diêm đời Chiến Quốc, nên còn được gọi là Chung Vô Diêm (sau ngoa truyền thành Chung Vô Diệm/Diễm), dung mạo xấu xí, nhưng có đức, từng tự đến gặp Tề Tuyên vương, và được nạp làm Vương hậu) vẻ ngoài xấu xí mà có đức tốt vậy.” Tôi cười nói: “Nàng buộc ta phải làm chó ư?” Vân nói: “Thiếp làm chó đã lâu rồi, phiền chàng thử nếm xem sao.” Nói rồi, gắp một đũa cứ nhét vào miệng tôi. Tôi bịt mũi mà nhai, tựa hồ cũng thấy vị giòn ngon. Thả mũi ra nhai, rốt lại thành một mùi vị khác, từ đó cũng thích ăn món ấy. Vẫn dùng dầu vừng, cho thêm chút đường trắng đánh đều cùng với đậu phụ muối, cũng thành một thứ rất ngon. Lấy dưa muối giã nát, nguấy với đậu phụ muối, gọi tên là “Song tiên tương”, cũng có một vị rất lạ. Tôi nói: “Ta mới đầu ghét món này mà rốt cuộc lại thích, thật không hiểu là lẽ gì?” Vân nói: “Vì tình chung đúc nên, dù xấu cũng chẳng hiềm.”

Người vợ của Khải Đường - em trai tôi, là cháu gái của Vương Hư Chu tiên sinh. Khi “thôi trang” (Thôi trang: tục hôn lễ xưa, khi con gái xuất giá, nhà trai phải nhiều lần đưa đồ trang sức giục giã, mới trang điểm khởi hành (để tỏ ý quyến luyến nhà cha mẹ), gọi là “thôi trang”) ngẫu nhiên thiếu một chiếc hoa ngọc, Vân bèn đem cái mà mình nhận được hôm làm lễ nạp thái đưa trình mẹ tôi. Mấy vú già, đứa ở đứng bên lấy làm tiếc, Vân bảo: “Phàm là đàn bà, đã thuộc khí thuần âm, mà ngọc châu lại là tinh của khí thuần âm, đem dùng trang sức, sẽ khắc hết dương khí, có gì mà quý hóa?” Ấy thế nhưng với những bức họa tàn, sách nát, thì nàng lại cực kỳ trân quý. Những cuốn sách nào tàn khuyết không toàn vẹn, thì tất sưu tập các chương, gom đóng lại thành quyển, thảy đều đặt tên là “Đoạn giản tàn biên”(Tức giấy rách, quyển tàn). Những bức thư họa rách hỏng, tất đều tìm giấy cũ dán bồi thành bức, có chỗ nào khuyết thiếu, lại bảo tôi bổ vào cho đầy đủ, rồi làm thành trục cuốn, gọi là “Khí dự tập thưởng” (Tức thu thập thưởng ngoạn từ những thứ đã bị vứt bỏ). Ngoài những khi làm việc nữ công bếp núc, nàng lại bận rộn cả ngày với những việc lặt vặt, nhưng chẳng hề kêu ca mệt nhọc gì. Trong những đống giấy nát quyển rách, ngẫu nhiên tìm thấy mảnh nào chữ nghĩa đẹp đẽ, thì Vân cứ như bắt được của báu. Bà lão Phùng hàng xóm vẫn thường gom những sách vở cũ đem sang bán cho.

Sở thích của Vân cũng giống tôi, lại giỏi hiểu ý, ánh mắt nét mày, nhất cử nhất động, chỉ cần lộ ra vẻ mặt, là chẳng gì nàng không hiểu rõ.

Tôi từng nói: “Tiếc rằng nàng là phận gái, chứ nếu có thể hóa nữ thành nam, rồi chúng ta cùng đi thăm danh sơn, tìm thắng tích, ngao du thiên hạ, chẳng cũng thích lắm à?”

Vân nói: “Việc ấy nào có khó gì, đợi đến khi thiếp bạc mái đầu rồi, tuy chẳng thể xa chơi Ngũ Nhạc, nhưng những chỗ gần đây như Hổ Phụ, Linh Nham, (Tên hai ngọn núi ngoài thành Tô Châu) nam đến Tây Hồ, bắc đến Bình Sơn, thảy đều có thể cùng chàng tới chơi được.”

Tôi nói: “E là khi nàng bạc mái đầu, thì một bước đi cũng khó.”

Vân nói: “Kiếp này chẳng thể, thì hẹn kiếp sau.”

Tôi nói: “Kiếp sau nàng nên là trai, còn ta là gái theo nàng.” Vân nói: “Tất không được quên kiếp này, thì mới thấy hết tình thú.”

Tôi cười bảo: “Chuyện một bát cháo hồi nhỏ mà còn nói mãi không hết, nếu như kiếp sau lại không quên kiếp này, thì đêm hợp cần, nói lại chuyện kiếp trước, chắc chúng ta cả đêm không chợp mắt được.”

Vân bảo: “Người đời truyền rằng Nguyệt Hạ lão nhân chuyên lo việc hôn nhân của thế gian, kiếp này vợ chồng ta đã nhờ ơn tác hợp, chuyện nhân duyên kiếp sau cũng nên nhờ ở sức thần, sao chúng ta không họa một bức chân dung ngài mà thờ cúng?”

Bấy giờ có Thích Liễu Đê, tên là Tuân, người Thiều Khê, rất giỏi vẽ tranh nhân vật. Tôi bèn nhờ vẽ bức tranh Nguyệt lão, một tay cầm dây tơ đỏ, một tay cầm cây gậy, trên treo cuốn sổ nhân duyên, vẻ mặt như trẻ con, mà tóc bạc như cước, đi lại giữa khoảng chẳng phải mây chẳng phải khói. Đó là một bức tranh đắc ý của Thích quân. Người bạn tôi là Thạch Trác Đường (Thạch Trác Đường: tên là vấn Ngọc, tự Chấp Như, người Ngô Giang, Tô Châu, đã Trạng nguyên năm Càn Long thứ 5, từng làm Sơn Đông Án sát sứ, sau bãi quan và chủ trì Tử Dương thư viện ở Tô Châu hơn hai mươi năm) lại đề cho lời tán ở phía trên, rồi đem treo trong nhà. Mỗi khi gặp tuần sóc, vọng, vợ chồng tôi thảy đều thắp hương cầu khấn. Về sau, vì gia đình xảy nhiều biến cố, bức tranh ấy rốt cuộc bị mất, chẳng biết là đã lưu lạc đến nhà nào vậy. “Kiếp sau chưa bói, kiếp này xong!”, hai kẻ si tình, chẳng biết có được thần minh chứng giám cho chăng?

Dời sang ở ngõ Thương Mễ, tôi bèn đề biển ngạch chỗ ở buồng ngủ trên gác của mình là Tân Hương các, ấy là lấy ý từ tên của Vân và hàm nghĩa Tương kính như tân (Trọng nhau như khách) vậy. Sân hẹp, tường cao, không có gì đáng kể. Phía sau, có lầu chái, thông đến chỗ cất sách, mở cửa sổ là nhìn ra khu vườn bỏ không của nhà họ Lục, duy chỉ thấy một vẻ hoang lạnh. Vân lúc nào cũng khắc khoải trong lòng phong cảnh ở Thương Lang.

Có bà lão sống ở phía đông cầu Kim Mẫu, mé bắc ngõ Canh, vây quanh nhà đều là vườn rau, ken hàng rào làm cửa, ngoài cửa có ao rộng ước một mẫu, bóng cây sắc hoa, xen nhau bên dậu. Đất ấy chính là nền cũ vương phủ của Trương Sĩ Thành (Trương Sĩ Thành: cuối đời Nguyên, từng khởi binh chống lại triều đình, sau phải đầu hàng, bị tướng nhà Minh bắt làm tù binh rồi tự tử) cuối đời Nguyên vậy. Mẹ tây nhà, cách mấy bước chân, mảnh gạch ngói còn chất đống thành núi. Trèo lên trên đỉnh, có thể nhìn được ra mãi xa, đất rộng người thưa, thú quê dào dạt. Bà lão ngẫu nhiên kể chuyện cho hay, Vân bèn canh cánh ghi lòng, bảo tôi rằng: “Từ khi xa cách Thương Lang, mộng hồn vẫn thường vấn vít. Nay không làm sao được, chợt nghĩ đến chỗ khác, là chỗ mà bà lão ở ấy!” Tôi bảo: “Liền mấy bữa nắng thu hun người ta cũng đang nghĩ muốn tìm một nơi mát mẻ để tránh nóng ít hôm. Nếu nàng muốn tới đó, ta sẽ tới trước xem nhà cửa ở đây có thể ở được không, rồi lập tức sắp xếp hành lý tới đó, ở lại một tháng, có được không?” Vân nói: “Chỉ emẹ không cho.” Tôi bảo: “Ta tự sẽ xin mẹ.” Qua hôm sau, tôi tới nơi ấy, thấy nhà chỉ có hai gian, trước sau cách biệt, mà chia làm bốn buồng, cửa giấy giường tre, rất có nhã thú. Bà lão biết ý tôi, vui vẻ đem buồng ngủ cho thuê, bốn bên vách lại lấy giấy trắng dán lại, chốc lát chợt thấy khác hẳn.

Tôi bèn bẩm mệnh với mẹ, rồi dắt Vân đến đó ở. Hàng xóm chỉ có một đôi vợ chồng già, sống bằng nghề trồng rau. Biết vợ chồng tôi đến nghỉ mát ở đó, bèn sang trước thăm hỏi ân cần, lại câu cá dưới ao, hái rau trong vườn đem cho. Chúng tôi trả tiền, hai người không lấy. Vẫn bèn khâu hài tặng lại, họ mới cảm tạ mà nhận.

Bấy giờ mới tháng Bảy, cây xanh rợp bóng, mặt nước gió đùa, tiếng ve ra rả. Ông lão hàng xóm lại làm cần câu cho, tôi với Vân cùng ẩn sâu trong bóng liễu ngồi câu cá. Khi mặt trời lặn, thì lên núi ngắm ráng chiều tịch dương, tùy ý nối thơ ngâm ngợi, có câu rằng: “Con thú mây nuốt dừng dương lặn; Câu cung trăng bắn đạn sao sa.” Chốc lát, ánh trăng in xuống mặt ao, tiếng trùng nổi lên bốn phía, kể chống tre dưới dậu, bà lão nói rượu đã ấm, Cơm đã chín, bèn cùng nhau chuốc chén dưới trăng, ngà say thì ăn cơm. Đi tắm xong, xẻ đôi dép lê cầm quạt lá chuối, hoặc nằm hoặc ngồi, nghe ông lão hàng xóm kể chuyện nhân quả báo ứng. Trống canh ba, thì về buồng ngủ, thân thể thanh mát, tựa hồ không còn biết mình từng ở nơi phố thị vậy.

Tôi lại nhờ ông lão hàng xóm mua hoa cúc về trồng đầy dưới dậu. Tháng Chín, hoa nở, lại cùng Vân đến đó ở mươi ngày. Mẹ tôi cũng vui vẻ đến thăm, mang theo cua để vừa ăn vừa ngắm cúc, (Tục tiết Trùng cửu, người Trung Quốc hay ngắm hoa cúc, ăn thịt cua, vì cua mùa này thịt ngon chắc) thưởng ngoạn cả ngày. Vân vui vẻ bảo: “Sau này, thiếp với chàng tìm chỗ làm nhà ở đây mà ở, mua chục mẫu vườn rau quanh nhà, bảo ban thì bộc trồng rau dưa mà lấy tiền củi gạo. Chàng vẽ tranh, thiếp thêu thùa, để có cái mua rượu. Mặc áo vải, ăn cơm rau, mà khá trọn đời vui thú, bất tất phải tính kế viễn du làm chi.” Tôi rất lấy làm phải. Nay, đã có được mảnh đất như thế, thì tri kỷ lại không còn nữa, làm sao cho khỏi thở than!

Cách nhà tôi độ nửa dặm, ở ngõ Thổ Khố có đền thờ Động Đình quân, tục vẫn gọi là miếu Thủy Tiên. Trong miếu, hành lang quanh co uốn khúc, có tòa đình trên vườn hoa nhỏ. Vào dịp đản nhật của thần, mỗi dòng họ trong vùng lại nhận một góc, treo đầy đèn pha lê, ở giữa đặt cỗ ngai báu, bên cạnh đặt bình, kỷ, cắm hoa bày biện, để thi đua với nhau xem họ nào đẹp hơn. Ban ngày chỉ có diễn kịch, đến đêm thì cắm đầy những đèn nến giữa các bình hoa, cái cao cái thấp, gọi là “Hoa chiếu”. Ánh đèn sắc hoa, đỉnh hương khói tỏa, tựa như dạ yến dưới long cung. Những người chấp sự, hoặc đàn sáo xướng ca, hoặc pha trà đàm đạo, người đến xem đông như kiến, dưới hiên đều phải dựng hàng rào lan can để giới hạn. Tôi được các bạn mời đi, cắm hoa xếp đặt, nhân đó được đích thân vào xem thịnh điển.

Về nhà, tôi cứ khen ngợi mãi mà kể cho Vân nghe, Vân nói: “Tiếc rằng thiếp chẳng phải nam nhi, nên không được tới đó.” Tôi nói: “Nàng đội mũ của ta, mặc áo của ta, thì cũng là cách biến nữ thành nam vậy.” Vì vậy, bèn chải lại tóc thành đuôi sam, vẽ đậm thêm nét mày, chụp cái mũ của tôi vào, hai bên tóc mai hơi lộ, cũng có thể che dấu được. Vân mặc áo của tôi, bị dài mất một tấc rưỡi, bèn kéo gấp chỗ eo lên khâu lại, bên ngoài lại mặc thêm cái áo cánh. Vân nói: “Dưới chân thì làm thế nào?” Tôi bảo: “Ở các cửa tiệm có bán hài con bướm, cỡ lớn cỡ nhỏ có cả, mua dễ như bỡn, hơn nữa, khi sớm khi tối, lại có thể dùng thay cho dép lê, chẳng cũng tốt hay sao?” Văn vẻ hớn hở lắm.

Tới chiều tối, ăn cơm xong, nai nịt đâu đấy, Vân lại bắt chước học cách chắp tay, bước đi của cánh nam giới hồi lâu, xong chợt đổi ý bảo: “Thiếp chẳng đi nữa đâu. Bị người ta nhận ra thì thật bất tiện, mà mẹ nghe biết chuyện cũng không hay.” Tôi khuyên dụ rằng: “Những người chấp sự trong miếu, ai chẳng biết ta, nếu như có nhận ra chẳng qua cũng chỉ cười xòa mà thôi. Còn mẹ giờ đang ở bên nhà chồng của em chín, chúng ta bí mật đi, bí mật về, làm sao bà biết được.”

Vân cầm gương lên soi, cười ngặt ngõo mãi không thôi. Tôi cứ kéo nàng, lẳng lặng đi thẳng ra cửa. Chúng tôi đi xem chơi khắp trong miếu, mà chẳng một ai nhận ra đó là con gái cả. Hoặc có người hỏi là ai, tôi lại đáp là em họ bên ngoài, còn nàng chỉ vòng tay với chào mà thôi. Cuối cùng, đến một nơi, có những thiếu phụ và bé gái ngồi sau một chỗ đặt cỗ ngai báu, chính là quyến thuộc của chấp sự họ Dương. Vân bỗng tiến tới chào hỏi, vừa mới nghiêng mình, thì bất giác chạm vào vai một thiếu phụ. Mấy vú già, con ở đứng bên cạnh tức giận đứng dậy nói: “Tên cuồng sinh nào thế này, sao chẳng hiểu phép tắc gì cả?” Tôi định kiếm câu nói dối lấp đi, thì Vân thấy tình thế không hay, bèn bỏ mũ, giơ chân ra cho họ thấy, bảo: “Tôi cũng là nữ nhi đây thôi.” Mấy người ấy nhìn nhau ngạc nhiên, rồi chuyển giận làm vui, giữ lại uống trà ăn bánh, và gọi kiệu đưa về.

Tiền Sư Trúc ở Ngô Giang bị bệnh qua đời, cha tôi gửi thư về, sai tôi tới phúng điếu. Vẫn bảo riêng với tôi: “Đi Ngô Giang tất phải qua Thái Hồ, thiếp muốn đi cùng chàng, để được mở mang tầm mắt.” Tôi nói: “Ta đang lo phải đi một mình đơn độc, có nàng đi cùng cố nhiên là tuyệt, nhưng không biết mượn cớ gì mà xin cho phải.” Vân nói: “Lấy cớ là về quê thăm nhà. Chàng lên thuyền trước, thiếp sẽ theo sau mà tới.” Tôi nói: “Nếu như vậy, trên đường về chúng ta sẽ đậu thuyền dưới cầu Vạn Niên, ta với nàng lại cùng hóng mát trông trăng, nối tiếp chuyện phong nha đình Thương Lang thuở trước.” Hôm đó là ngày mười tám tháng Sáu.

Sáng ấy trời mát mẻ, tôi dắt một tên người nhà đến bến Tư Giang trước, lên thuyền ngồi đợi, Vân quả nhiên ngồi kiệu tới. Thuyền nhổ neo ra đến cầu Hổ Khiếu, dần đã thấy âu bay, buồm lướt, trời nước một màu. Vân bảo: “Đây là chỗ người ta vẫn gọi là Thái Hồ chăng? Nay được thấy vẻ rộng lớn của đất trời, kiếp này coi như không uổng. Thiết tưởng, những người trong chốn buồng khuê hẳn có kẻ hết đời cũng không được thấy cảnh này!” Chuyện phiếm chưa bao lâu, chợt thấy gió đùa bờ liễu, chúng tôi đã tới Giang thành.

Tôi lên bờ vào điếu tế xong, quay về thuyền thấy trống trơn không có một ai, vội hỏi người lái đò. Người lái đò chỉ tay bảo: “Ông không thấy mấy người đang đứng dưới gốc liễu bên Trường Kiều, xem chim cốc bắt cá kia à?” Hóa ra Vân đã theo con gái nhà đò lên bờ rồi. Tôi đi đến phía sau, thấy Vân mồ hôi đầm đìa đang đứng tựa cô con gái nhà đò, đăm đắm nhìn ra phía xa. Tôi vỗ vai nàng bảo: “Áo là ngấm hết mồ hôi rồi!” Vân ngoảnh đầu lại bảo: “Thiếp sợ nhà họ Tiền có người tới thuyền, nên tạm lánh mặt đi. Sao chàng về mau thế?” Tôi cười bảo: “Vì muốn bắt kẻ chạy trốn!” Nói rồi cùng đỡ về thuyền, quay sào đến dưới cầu Vạn Niên, mặt trời vẫn còn chưa xuống núi. Cửa sổ trên thuyền mở hết, gió mát nhẹ đưa, chúng tôi quạt lụa áo là, cùng nhau bổ dưa giải khát. Lúc sau, ráng ánh cầu son, khói lồng liễu tối, vừng trắng bạc sắp nhô lên, lửa thuyền chài đầy mặt nước. Tôi bảo tên người nhà lên đầu thuyền cùng uống rượu với người lái đò.

Cô con gái nhà đó tên là Tố Vân, có uống chén rượu xã giao với tôi, con người cũng không tục, tôi bèn mời lại cùng ngồi với Vân. Trên thuyền không thắp đèn nến, chúng tôi trông trăng chuốc chén, cùng chơi trò xạ phúc để làm tửu lệnh. Tố Vân hai mắt sáng ngời, nghe xem hồi lâu, nói: “Các trò trên bàn rượu tôi cũng biết nhiều lắm, nhưng trước giờ chưa nghe thấy kiểu tửu lệnh này, xin dạy cho biết.” Vẫn bèn thử lấy ví dụ ra mà chỉ dẫn cho, nhưng rốt cô ta vẫn mơ mơ hồ hồ. Tôi cười bảo: “Xin bà giáo chớ giảng bài nữa, tôi có một câu tỉ dụ này, lập tức hiểu ngay nhé.” Vân nói: “Chàng tỉ dụ ra làm sao?” Tôi bảo: “Hạc giỏi múa mà chẳng biết cày, trâu giỏi cày mà chẳng biết múa, ấy là tính tự nhiên của muôn vật vậy. Bà giáo lại định làm ngược lại đạo lý ấy mà dạy, chẳng cũng nhọc Công ư?”

Tố Vân cười đánh vào vai tôi nói: “Ông chửi tôi đấy hả?” Vân ra tửu lệnh rằng: “Chỉ được động khẩu, không được động thủ. Ai vi phạm phạt một cốc lớn.” Tố Vân tửu lượng cao, rót đầy cốc to, uống một hơi cạn. Tôi nói: “Động thủ chỉ cho sờ mó, không cho đánh người.” Vân cười, kéo Tố Vân đẩy vào lòng tôi, bảo: “Mời chàng sờ mó cho thỏa chí đi.” Tôi cười bảo: “Nàng chẳng hiểu ý người khác gì cả, sờ mó chỉ làm giữa lúc nửa vô tình nửa hữu ý thôi. Chứ ôm lấy mà sờ mó lung tung, thì chỉ có bọn giai cày mới làm thế!”

Lúc ấy, hoa nhài cài bên tóc mai hai người, bị hơi rượu quyện vào, hòa cùng mùi hương phấn sáp, nồng nàn xông vào cánh mũi. Tôi đùa bảo: “Mùi vị tiểu nhân đầy khắp một thuyền, khiến người phát ớn.” Tố Vân không ngăn được lại nắm tay đấm tôi thùm thụp, nói: “Ai bảo ông ra sức ngửi lấy?” Văn hộ bảo: “Trái lệnh! Phạt hai cốc lớn.” Tố Vân nói: “Ông ấy lại mắng tôi là tiểu nhân, chẳng phải đáng bị đánh sao?” Vân nói: “Tiểu nhân mà ông ấy nói là có duyên do đấy. Xin uống cạn cốc rượu này đi, rồi tôi nói cho hay.” Tố Vân uống cạn liền hai cốc, Vân bèn đem chuyện khi xưa chúng tôi ngồi hóng mát ở nhà cũ bên đình Thương Lang ra kể lại cho nghe. Tố Vân nói: “Nếu đúng thế, thì đúng là tôi đã trách nhầm ông ấy rồi, phải phạt thêm lần nữa.” Rồi lại uống cạn một cốc.

Vân nói: “Từ lâu đã nghe cô Tố hát hay, có thể cho chúng tôi được nghe diệu âm một lần chăng?” Tố bèn cầm đũa ngà gõ vào đĩa mà hát. Vân vui thích uống mãi, say lúc nào không biết, bèn đi kiệu về trước. Tôi ở lại uống trà nói chuyện với Tố Vân một lúc, rồi đi bộ dưới trăng mà về.

Bấy giờ, tôi ở nhờ trong lầu Tiêu Sáng của nhà người bạn là Lỗ Bán Phảng. Qua mấy hôm, Lỗ phu nhân nghe lầm đâu, nói riêng với Vân rằng: “Hôm trước tôi có nghe người ta nói, anh nhà đem theo hai đứa kĩ nữ, uống rượu trên thuyền dưới cầu Vạn Niên, chị có biết không?” Vân nói: “Dạ có. Một trong hai đứa ấy là tôi đây.” Nhân đem chuyện cùng đi chơi kể hết lại đầu đuôi rành rọt cho nghe, Lỗ phu nhân cả cười, rồi vui vẻ ra về.

Tháng Bảy, năm Giáp Dần niên hiệu Càn Long, (Tức năm 1794) tôi từ Việt Đông về nhà. Có người đồng bạn, tên là Từ Tú Phong - chồng của cô em họ ngoại của tôi - cũng dẫn người thiếp về, hết sức khen sắc đẹp người thiếp mới lấy, mời Vân tới xem mặt. Đến hôm khác, Vân mới nói với Tú Phong rằng: “Đẹp thì có đẹp rồi, nhưng chưa thấy phong vận.” Tú Phong nói: “Thế chồng chị mà nạp thiếp, thì nhất định phải tìm người vừa đẹp, vừa phong vận, nhỉ?” Vấn đáp: “Đúng thế.” Từ đấy, Vân ra sức để ý tìm một người như vậy cho tôi, nhưng chẳng sẵn tiền mà tốn vào việc ấy.

Khi ấy, có kĩ nữ người Triết Giang tên là Ôn Lãnh Hương, ngụ cư ở đất Ngô, có bốn bài thơ luật Vịnh Liễu Nhứ, xôn xao lưu truyền khắp vùng Ngô Hạ, những kẻ hiếu sự phần đa họa vần theo. Người bạn tôi là Trương Nhàn Hàm vốn vẫn hận thưởng Lãnh Hương, mới đem bài Liễu nhứ đến bảo tôi họa thơ. Vân coi thường hạng người ấy, nên gạt đi không xem. Tôi nhất thời ngứa nghề nên họa lại, trong đó có câu: “Gợi tớ sầu xuân thêm khắc khoải; Trêu người hân biệt lại miên man”, Vân rất lấy làm khen ngợi.

Năm sau, là năm Ất Mão, mùa thu, ngày mồng năm tháng Tám, mẹ tôi sắp đưa Vân đi chơi Hổ Khâu, thì Nhàn Hàm chợt đến, bảo: “Cháu cũng định đến Hổ Khâu chơi, hôm nay xin đặc ý nhờ bác gái làm sứ giả thăm hoa vậy.” Nhân xin mẹ tôi cứ đi trước, hẹn sẽ cùng hội ngộ ở Bán Đường, Hổ Khâu, rồi kéo tôi đến chỗ Lãnh Hương đang ngụ. Lãnh Hương đã lớn tuổi, có người con gái tên là Hàm Viên, tuổi chừng đôi tám còn chưa gả chồng, vẻ đẹp đẽ như ngọc, thật đúng như câu “một khoảnh hồ thu chiều lạnh người” vậy. Trong khi chuyện trò khoản đãi, Hàm Viên cũng tỏ ra hiểu biết văn chương bút mực. Lại còn đứa em gái tên là Văn Viên, vẫn còn nhỏ.

Bấy giờ, tôi chẳng có si tưởng gì cả, chỉ nghĩ cuộc rượu tâm tình nơi kĩ viện thế này, một kẻ hàn sẽ chẳng thể có tiền trả nổi. Nay đã bước chân vào đó rồi, lòng riêng chẳng khỏi lo lắng thấp thỏm, chỉ miễn cưỡng thù đáp. Nhân nói nhỏ với Nhàn Hàm rằng: “Tôi chỉ là một kẻ bần sĩ, ngài lại đem vưu vật ra mà đùa bỡn ư?” Nhàn Hàm cười nói: “Không phải thế, hôm nay có người bạn mời Hàm Viên đến để đáp tạ tôi, nhưng ông chủ tiệc lại bị một vị tôn khách kéo đi rồi, nên tôi là khách lại thay mời khách, ông không phải lo nghĩ làm gì.” Tôi nghe vậy mới an tâm.

Đến Bán Đường, thì hai thuyền gặp nhau, tôi bảo Hàm Viên sang thuyền mẹ tôi lạy chào. Vân và Hàm Viên gặp nhau, vui mừng như đã gặp người quen cũ, dắt tay nhau lên núi, xem khắp các nơi danh thắng. Vân riêng mến nơi cảnh “Thiên khoảnh sân” (Ngàn khoảnh mây) cao rộng, ngồi thưởng ngoạn hồi lâu. Quay lại đến bến Dã Phương, hai thuyền kề bên nhau đậu lại, cùng sướng ẩm vô cùng vui vẻ. Tới lúc nhổ neo, Vân bảo tôi rằng: “Chàng sang cùng Trương quân, để Hàm Viên bên này với thiếp có được chăng?” Tôi bằng lòng. Quay chèo về đến cầu Đô Đình, chúng tôi mới sang lại thuyền mà chia biệt. Lúc về tới nhà thì đã trống canh ba.

Vân nói: “Hôm nay mới được thấy người đẹp mà có phong vận. Vừa rồi thiếp đã hẹn Hàm Viên ngày mai qua chơi nhà mình, để thiếp liệu tính cho chàng.”

Tôi kinh hãi bảo: “Người ấy nếu chẳng phải nơi nhà vàng thì sao chịu ở, học trò nghèo như ta đâu dám có cái vọng tưởng ấy? Huống chi, hai chúng ta đang đôi lứa nồng nàn, hà tất phải tìm thêm ai nữa?”

Vẫn cười bảo: “Thiếp tự thấy mến cô ấy, chàng cứ tạm chờ đi.”

Trưa hôm sau, Hàm Viên quả nhiên tới nhà. Vân ân cần khoản đãi, trong tiệc lại chơi trò đoán thẻ, người thắng ngâm thơ, người thua uống rượu, để làm tửu lệnh, cho tận đến tàn tiệc cũng không nói một câu nào ý muốn săn đón về nhà mình. Kịp tới khi Hàm Viên ra về rồi, Vân mới nói với tôi: “Vừa nãy, thiếp lại có hẹn riêng với cô ấy, ngày mười tám sang đây để cùng kết nghĩa chị em. Chàng hãy chuẩn bị cho mấy thứ muông sinh làm lễ để đợi sẵn.” Rồi lại cười, chỉ chiếc vòng phỉ thúy trên tay bảo: “Nếu chàng thấy cái vòng này đã được trao cho Hàm Viên, thì ấy là việc tất sẽ thành. Khi nãy, thiếp đã ngỏ ý, nhưng còn chưa giao kết đậm sâu trong lòng thôi.” Tôi chỉ đành tạm nghe theo thế.

Ngày mười tám, mưa to. Hàm Viên vẫn đội mưa mà đến. Hàm vào nhà rất lâu, Vân mới dắt tay dẫn ra. Trông thấy tôi, vẻ mặt có ý thẹn thùng, vì cái vòng phỉ thúy đã đeo trên tay Hàm rồi. Thắp hương kết bái xong, định lại nối tiếp bữa tiệc rượu lần trước, thì gặp khi Hàm Viên có cuộc du ngoạn Thạch Hồ, nên phải các biệt. Vần vui vẻ nói với tôi: “Người đẹp đã có được rồi, chàng lấy gì để cảm tạ bà mối đây?

Tôi hỏi rõ ngọn ngành, Vân nói: “Trước giờ thiếp vẫn không nói gì với Hàm Viên cả, vì sợ cô ấy đã có nơi có chốn rồi. Vừa nãy thiếp dò hỏi, biết cô ấy chưa có nơi nào khác, mới bảo rằng: “Em có biết ý chị ngày hôm nay là gì không? Hàm nói: “Đội ơn phu nhân nâng đỡ, thật là như sợi cỏ bồng được tựa gốc cây ngọc, nhưng mẹ em trông mong ở em nhiều lắm, chỉ e khó mà tự chủ trương được, xin cho đó với đây cùng từ từ tính liệu vậy. Lúc thiếp tháo cái vòng trên tay đưa cho Hàm, lại bảo: Ngọc thì vốn chắc bền, mà vòng đây lại có ý đoàn viên không đứt. Em hãy đeo chiếc vòng này để lấy điềm lành ban đầu? Hàm nói: “Cái quyền cho tụ hội thảy đều ở phu nhân vậy. Cứ đó mà xem, thì Hàm Viên trong lòng đã ưng rồi đó. Khó là ở một chỗ Lãnh Hương thôi, tất lại phải tính toán mới được.” Tôi cười bảo: “Nàng định bắt chước theo truyện Lân hương bạn của Lạp Ông (Lạp Ông: tức Lý Ngư (1610-1680), nhà viết kịch đời Thanh Lân hương bạn còn gọi Mỹ nhân hương là một vở kịch của ông, trong đó có nói về một người vợ nạp thiếp cho chồng) ư?” Vân đáp: “Chính thế.”

Từ hôm ấy, chẳng hôm nào chúng tôi không nói đến Hàm Viên. Về sau, Hàm Viên bị một kẻ có thế lực đoạt mất, việc ấy bèn không thành. Vân rốt vì chuyện đó mà chết.

 

 

2. Thú nhân tình

 

Thú nhân tình

Tôi nhớ khi còn thơ ấu, có thể mở mắt trông thẳng mặt trời, tinh tới mức nhìn từng chân tơ kẽ tóc. Thấy những vật nhỏ bé tinh vi, tất xem xét kĩ từng đường nét, cho nên thường Có những điều thú vị vượt ra ngoài sự vật.

Mùa hè, muỗi vo vo như sấm, tôi lại tự nghĩ ra đó là một đàn chim hạc đang múa lượn giữa từng không. Lòng đã nghĩ vậy, thì lập tức cả trăm, hay cả ngàn con muỗi, quả nhiên hóa thành chim hạc. Tôi vươn đầu nhìn chăm chú, đến nỗi cổ cứng cả ra. Rồi tôi lại nhốt lũ muỗi trong màn, từ từ thổi khói vào, khiến cho lũ muỗi bay lượn vo ve trong làn khói, để làm cảnh bạch hạc thanh cân, quả nhiên thấy đúng như đàn hạc kêu trong mây, khiến tôi vô cùng thích thú.

Ở những hốc lồi lõm trên bờ tường đất, hay nơi có những bụi cỏ rậm rạp trên bệ chậu hoa, tôi thường ngồi xổm, để tầm mắt cao ngang bệ, rồi định thần nhìn kĩ, coi bụi cỏ là một khu rừng, những con sâu, kiến là thú rừng, coi những khối đất nhô cao là núi đồi, những chỗ lõm sâu là khe suối, để mặc thần trí ngao du trong ấy, vô cùng khoái hoạt tự đắc.

Một hôm, tôi thấy có hai con bọ chọi nhau trong bụi cỏ, đang say sưa quan sát, thì bỗng thấy một con vật lớn khổng lồ, đổ cây bạt núi xông tới. Hóa ra đó là một con cóc. Nó vừa phóng nhanh lưỡi ra, thì cả hai con bọ đã đều bị nuốt gọn. Khi ấy tôi còn nhỏ, đang khi chăm chú nhìn xem, bỗng dưng bị nó làm cho bất ngờ kinh hoảng. Đến lúc định thần lại rồi, tôi bèn bắt con cóc, đánh cho mấy chục roi, rồi đuổi đi nơi khác. Sau lớn, nghĩ lại, hai con bọ chọi nhau ấy, chính là chúng đang tơ tít gian tình với nhau vậy. Cổ ngữ nói: “Gian cận sát” (Chuyện gian tà thì cận kề cái chết), hai con bọ ấy chẳng phải đúng thế hay sao? Tôi hay lê la đất cát như vậy, nên “trứng” (tục đất Ngô gọi dương vật là “trứng”) bị giun đốt, sưng to, không đi tiểu được. Người nhà bắt con vịt, vành miệng nó để lấy dãi bôi cho tôi giải độc, mấy vú già người ở ngẫu nhiên tuột tay, con vịt liền vươn cổ đớp như chực mổ nuốt, khiến tôi sợ quá khóc rống lên. Việc ấy sau thành một câu chuyện cười để mọi người kể với nhau. Đó đều là những chuyện nhàn tình của tôi thuở bé vậy.

Kịp đến khi lớn, tôi yêu hoa đến thành nghiện, thích cắt tỉa chậu cảnh. Sau khi quen biết với Trương Lan Pha, tôi mới tinh thông phép cắt cành dưỡng đốt, tiếp đó lại hiểu cách ken hoa xếp đá. Hoa lấy lan làm bậc nhất, vì ở chỗ có u hương nhã vận, thế nhưng những giống lan hơi được xếp hạng, liệt vào hoa phổ cũng chẳng thể dễ mà có được. Lúc Lan Pha lâm chung, có tặng cho tôi một chậu lan xuân Tố Tâm cánh sen. Loại lan này cánh đều, nhị lớn, cuống nhỏ mà bông tinh khiết, đáng được xếp vào hoa phổ, tôi trân trọng như được viên ngọc quý. Khi tôi làm mạc liêu ở ngoài, Vân lại đích thân tưới tắm chăm sóc, nên chậu lan vẫn hoa lá tốt tươi. Chưa đầy hai năm, một buổi bỗng chúng chết khô hết cả. Tôi nhổ lên xem, thấy rễ lan đều trắng như ngọc lại có những mầm mới đang mọc rất nhiều. Mới đầu, tôi không thể hiểu nổi, cho là mình không có phúc được thưởng thức thứ hoa này, chỉ biết than thở mà thôi. Về sau mới hay, có kẻ muốn xin một nhánh mà không được, cho nên đã đem nước sôi dội chết chậu hoa. Từ đó, tôi thì không trồng hoa lan nữa.

Thứ đến là đỗ quyên, tuy đỗ quyên không có hương thơm, nhưng sắc hoa bền có thể chơi được lâu, vả cây cũng dễ cắt tỉa. Song, vì Vân hay tiếc cành thương lá, không nhẫn tâm cắt xén, cho nên khó thành dáng. Những thứ cây bồn cảnh khác cũng đều như thế.

Riêng hàng năm, mỗi khi dậu đồng hoa cúc nở vàng, tôi đều yêu đến thành nghiện. Nhưng tôi thường thích hái về cắm bình, chứ không thích trồng chậu. Chẳng phải vì cúc trồng chậu không đẹp, mà là vì nhà tôi không có vườn tược, không thể tự trồng được. Còn mua ở chợ, thì họ đều trồng thành bụi tạp không đủ tinh tế vận vị, cho nên tôi không chọn các chậu. Hoa cắm bình, số bông nên lẻ, không nên chắn. Mỗi bình cắm một loại hoa, chứ không cắm hai thứ. Miệng bình chọn loại to rộng, không dùng loại bình hẹp miệng. Miệng bình lớn thì mới có thể khiến hoa vươn ra thoải mái không bị gò bó. Từ năm, bảy bông, cho tới ba, bốn chục bông, tất phải thành khóm trên miệng bình mà cùng nở rộ. Làm sao cho hoa không được tản mát, cũng không được chen chúc rối loạn, không được dựa vào miệng bình là đẹp, thế gọi là “Cắm giữ phải chặt” vậy. Có bông vươn cao đứng thẳng, có bống bay múa xiên nghiêng, hoa phải cái cao cái thấp, bông nhụy đan xen, để tránh mắc lỗi để chồng chất đống như bát đĩa. Lá thì không được rối loạn, cành không được cứng nhắc. Nếu dùng kim để ghim, thì phải che giấu, kim dài thà là bẻ ngắn, chứ không được để lộ từng mũi, từng mũi kim ra ngoài cành hoa, thế gọi là “Miệng bình phải thanh” vậy. Lại xem, bàn lớn hay nhỏ, mà một bàn để từ ba cho tới bảy bình thì thôi, nếu nhiều quá thì rối mắt không phân biệt được, chẳng khác gì hàng hoa cúc ở ngoài chợ cả. Kỷ để bình hoa, cao thấp từ ba, bốn tấc, cho tới hai thước năm, sáu tấc thì thôi, tất phải dài ngắn cao thấp khác biệt, mà chiếu ứng với nhau, sao cho khí thế liền nối là hơn nhất. Nếu ở giữa cao, mà hai bên thấp, hay sau cao mà trước thấp, thành hàng đối xứng, thì lại phạm vào lỗi mà tục vẫn gọi là “Cầm hối đôi” (Đống tro gấm)(Cầm hối đôi: tương truyền Tiền Tuyển - họa gia đời Nguyên - trong một lần say rượu đã nổi hứng đem những tàn vật ngổn ngang trên bàn ăn sau bữa tiệc như: chân cua, vỏ sò, xương cá... tùy ý về thành một cuốn tranh trường quyển, và đề danh là Cẩm hôi đôi - Đống tro gấm. Về sau người ta dùng chữ “Cẩm hôi đôi” để chỉ những tác phẩm viết, vẽ chơi bằng những bút tàn, mực dư sau khi viết, vẽ của họa sĩ. Ở đây, chữ “Cầm hối đôi” ý nói hoa cúc để chất đống không được để tâm sắp đặt) vậy. Hoặc dày hoặc thưa, hoặc ra hoặc vào, tất cả đều ở để tâm tinh tế, sao cho đạt họa ý là hay.

Nếu dùng chậu, bát, đĩa, ang để cắm hoa, thì dùng phiếu thanh, tùng hương, vỏ cây du, bột mì, trộn với dầu, trước tiên đun bằng trấu, sẽ thu được một thứ keo. Lấy miếng đồng đóng đinh hướng mũi nhọn lên trên, rồi lấy keo đốt cho chảy ra để gắn miếng đồng xuống đáy chậu, bát, hay đĩa, ang. Đợi keo đã khô, thì dùng dây thép nhỏ buộc hoa thành bó, cắm lên trên định. Nên cắm hoa dịch sang một bên, mà nghiêng xiên để tạo thế, chứ không được để chính giữa, lại càng nên chú ý cành thưa, lá thanh, không được chen chúc chật chội. Sau đó cho nước, lại dùng một ít cát để che lấp miếng đồng đi, để người ngắm ngỡ như khóm hoa được trồng trong bát mới là đẹp.

Nếu là cắm những cành hoa quả thân gỗ vào bình, thì phép cắt tỉa (nếu chẳng thể từng cành từng cành tự mình tìm kiếm, mà nhờ người bẻ hộ thì thường chẳng được hợp ý) tất trước tiên cầm cành trên tay, nhìn ngang, nhìn nghiêng để xem thế, trông sau trông trước để xem dáng. Sau khi đã tạm có chủ định rồi, mới cắt bỏ những nhánh tạp, sao cho có vẻ thưa gầy, cổ quái là đẹp. Rồi lại suy nghĩ xem cắm cành vào bình như thế nào, mà uốn hay bẻ, thì khi cắm vào bình rồi, mới tránh không mắc phải lỗi lật lá, nghiêng hoa. Nếu có trong tay một cành hoa, nếu cứ theo thẳng như cành vốn có mà cắm luôn vào bình, thì thế tất sẽ là cánh cứng nhánh rối, lá lật hoa nghiêng, đã không ra dáng thế gì, mà càng chẳng nên vận vị vậy.

Cách bẻ cành uốn cong, thì cưa một nửa cành, rồi lấy mảnh gạch đá chen vào chỗ cưa cắt ấy, thì thẳng sẽ thành cong vậy. Nếu như lo cành bị đổ, thì đóng một, hai cái định để giữ. Như vậy thì dù là cảnh phong, cành trúc, CỎ rối, táo gai cũng có thể cắm bình được. Có khi chỉ cần một cành trúc biếc, kết hợp cùng mấy trái cẩu kỷ, hay vài cây cỏ nhỏ bạn cùng đôi nhánh táo gai, nhưng nếu được để vào vị trí thích đáng, cũng có cái thú vị khác biệt vậy. Nếu là hoa, cây mới trồng, thì chớ ngại cho chúng có cây nghiêng cây tà để lấy thế, dù có lá bị nghiêng lật cũng được, một năm sau thì cành lá sẽ tự có thể hướng lên trên. Chứ nếu cây nào cây nấy đều trồng thẳng cả, thì sẽ khó mà tạo thế.

Đến như việc cắt tỉa cây trồng trong chậu, trước hết nên chọn những cây có rễ lộ như móng gà, hai bên trái phải cắt đi ba đốt, sau đó mới để nhánh. Mỗi nhánh một đốt, bảy nhánh thì tới ngọn, hoặc chín nhánh thì tới ngọn cây. Nhánh thì tối kỵ để đối xứng như hai tay người, đốt thì tối kỵ để nổi u cục như gối hạc. Nên để các nhánh phân tán tròn bốn xung quanh, không được để hai phía nào đó trụi không, để tránh mắc lỗi hở lưng lộ ngực, lại cũng không thể để nhánh phía trước và sau đâm thẳng ra được. Cái gọi là Song khởi, Tam khởi, tức là từ một gốc rễ mà mọc lên hai hay ba cây vậy. Nếu như rễ cây không nổi vồng lên như hình móng, thì sẽ thành cắm cành, cho nên không dùng được. Nhưng cắt tỉa được một cây, chí ít cũng phải mất ba, bốn mươi năm. Bình sinh, tôi đã thấy ở quê mình có ông họ Vạn, tên gọi Thái Chương, một đời chỉ cắt tỉa được vài cây. Lại ở nhà một người buôn bán ở Dương Châu thấy có vị khách du từ Ngu Sơn mang đến tặng hai chậu cây, một chậu hoàng dương một chậu thúy bách, chỉ tiếc là ngọc sáng ném vào nơi không ai thấy, tôi chưa cho là xứng đáng. Còn nữa, nếu để cành xoay tròn xung quanh thân cây như ngọn tháp, hay nắn cành uốn éo như giun bò, thì sẽ lộ rõ dấu vết nhân tạo vậy.

Điểm xuyết hoa, đá trong bồn, cảnh nhỏ có thể vẽ tranh, cảnh lớn có thể nhập thần. Pha một ấm trà thơm, tinh thần có thể đắm chìm vào đó được, thì bồn cảnh ấy mới đáng để thưởng ngoạn ở chốn u trai vậy.

Trồng thủy tiên, không có đá Linh Bích, tôi từng lấy những viên than có vẻ giống đá mà thay vào. Lôi cải thảo có sắc trắng như ngọc, lấy năm, bảy cái lớn nhỏ, thêm cát đổ vào bồn hình chữ nhật mà trồng, rồi lấy than thay đá xếp dưới gốc, màu đen trắng phân minh, cũng rất có ý vị. Cứ đó mà suy, có thể nói là nhã thú vô cùng, khó có thể nêu ra hết được. Ví như lấy hạt thạch xương bồ, nhai cùng với nước cháo hồ để nguội, ngậm phun lên than cục, rồi để vào nơi mát ẩm, chúng có thể nảy lên những cây xương bồ con, mang ra tùy ý đặt dưỡng trong bồn, trong bát, sẽ được những đám xương bồ xanh mướt đáng yêu. Lấy hạt sen già mài mỏng hai đầu, bỏ vào vỏ trứng gà đem cho gà ấp, đợi khi ổ gà nở con, thì lấy ra. Dùng đất tổ yến lâu năm, gia thêm vị thiên môn đông độ hai phần mười, giã nát trộn đều, rồi đem trồng hạt sen trong ang nhỏ, cho nước sông vào, để dưới nơi có ánh nắng, sen mọc lên sẽ nở hoa nhỏ như chén uống rượu, lá cũng co lại bằng miệng bát, rất xinh xắn khả ái.

Phàm viên đình lầu gác, phòng ốc hành lang, xếp đá làm núi, trồng hoa tạo dáng, lại phải trong lớn thấy nhỏ, trong nhỏ thấy lớn, trong hư có thực, trong thực có hư, hoặc ẩn hoặc lộ, hoặc nông hoặc sâu. Chẳng phải chỉ ở bốn chữ “chu - hồi - khúc - chiết” (Tức vòng quanh, uốn khúc), lại chẳng phải ở đất rộng đá nhiều, tốn công lao của. Có khi chỉ cần đào đất đắp lên thành núi, thỉnh thoảng điểm vài khối đá, trồng cỏ hoa xen kẽ vào, dậu trồng cây mai mà ken, tường kéo dây leo mà phủ, thì dẫu không có núi cũng thành núi. Trong lớn thấy nhỏ là ở nơi tản mạn thoáng rộng thì trồng thứ trúc lớn nhanh, ken giống mai mau rậm, để làm bình phong ngăn ra. Trong nhỏ thấy lớn là tường ở trong sân nhỏ thì nên tạo hình lồi lõm, lấy màu lục mà trang trí, bắt dây leo bò vào, xếp đá tảng, khắc chữ làm bia đề cảnh, mở cửa sổ ra như trông vách núi, ắt có cảm giác cao vội vô cùng. Trong hư có thực là ví như hoặc nơi hết non dứt suối, lại ngoặt ra một chỗ sáng sủa rộng rãi, hoặc nơi đặt tủ trong biên gác, mở ra lại thông sang biệt viện. Trong thực có hư là: ví như làm cửa ở chỗ sân không thông đi đâu được, rồi lấy trúc thạch mà ẩn che đi, tưởng như có (cửa) mà thật là không có. Hay, đặt lan can thấp trên đầu tường, tựa như trên đó có đài trông trăng, mà thực thì không có vậy.

Nhà nghèo, buồng chật người đông, nên phỏng theo như cách bài trí chỗ khoang sau trong thuyền Thái Bình ở quê tôi, dời đổi thêm một chút trong đó. Lấy bệ bậc làm giường, trước sau kê gá với nhau, có thể làm được ba phản, dùng ván dán giấy ngăn cách, thì trước sau trên dưới đều cách tuyệt, tỉ như đi chỗ đường dài, thì sẽ không cảm thấy chật hẹp nữa vậy.

Khi vợ chồng tôi ngụ cư ở Dương Châu, từng học theo cách ấy. Nhà chỉ có hai buồng, nhưng trên dưới, buồng ngủ, nhà bếp, phòng khách đều cách tuyệt, mà vẫn thừa rộng rãi. Vẫn từng cười bảo: “Bài trí tuy tinh tường, nhưng rốt chẳng phải là khí tượng của nhà phú quý vậy.” Thực là như thế ư?

Tôi đi tảo mộ trên núi, nhặt lấy những viên đá có hoa văn đẹp về, bàn với Vân rằng: “Dùng hồ vôi gắn đá Tuyên Châu trong bồn đá trắng, là cốt màu sắc hòa đều nhau. Đá vàng ở núi này tuy cổ phác, nhưng nếu cũng dùng hồ vôi thì màu vàng trắng gián cách, vết ngấn tất lộ ra, làm sao bây giờ?” Vân nói: “Mình chọn lấy những viên không dùng được, đập nhỏ mà rắc vào chỗ ngấn vôi ngay khi còn ướt, bột đá vụn sẽ bám vào đấy, đến khi khô, màu sắc tất đồng đều.”

Tôi bèn theo lời mà làm, lấy cái bồn sành Nghi Hưng hình chữ nhật, xếp đá thành một ngọn núi, lệch sang bên trái mà nhô sang bên phải, lưng núi làm thành vằn gập ngang như phép vẽ đá của Vân Lâm (Vân Lâm: tức Nghệ Toản - họa gia đời Nguyên, người Vô Tích, Giang Tô, giỏi về sơn thủy, vẽ đá núi thường dùng nét phết (thuân) gập vuông.), chon von lồi lõm, tựa như hình trạng mỏm đá nhô ra bên sông. Phía chậu để không thì lấy bùn sông trồng cỏ bạch tần hoa kép. Trên đá trồng dây tóc tiên, tục gọi là vận tùng. Vất vả mấy hôm thì xong. Đến cuối thu, dây tóc tiên đã bò lan khắp núi, tựa như dây đằng la treo trên vách đá, hoa nở đỏ tươi, bạch tần cũng nở trắng dưới đáy nước, màu đỏ trắng xen nhau. Thả hồn vào đó, chẳng khác chi lên chơi Bồng Lai đảo. Tôi để bồn non bộ dưới mái hiên, cùng vẫn phẩm đề: Chỗ này nên dựng gác thủy tạ, chỗ này nên dựng đình cỏ, chỗ này nên mài đá khắc sáu chữ rằng: “Lạc hoa lưu thủy chi gian”, (Nghĩa là: Ở giữa khoảng hoa rơi nước cháy) chỗ này có thể ở, chỗ này có thể ngồi câu, lại chỗ này có thể trông xa nhìn ngắm. Cảnh non nước trong lòng, mà tựa sắp di cư thực vậy. Một tối, hai con mèo tranh ăn với nhau, từ trên mái hiên rơi xuống, khiến cả bồn cùng núi, khoảnh khắc vỡ tan mất. Tôi than bảo: “Để chút mưu toan cỏn con này mà cũng bị con tạo đố kỵ thế ru!” Cả hai cùng không ngăn được mà rơi lệ.

Phòng vắng đốt hương, cũng là nhã thú trong khi nhàn rỗi. Vân từng lấy các thứ trầm hương, tốc hương, (Tốc hương: tức hoàng thực hương - một loại hương mộc. Lý Thời Trân trong Bản thảo cương mục có viết: “Phàm hương có ba bậc, là trầm, sạn, hoàng thực vậy... Trong đó, hoàng thục hương, tức là loại hương thoảng nhẹ, chính là loại mà tục vẫn ngoa gọi là tốc hương”) xông trong cái chõ đồ xôi, trên lò đặt một cái giá bằng sợi đồng, cách mặt than độ một tấc, để hương cháy từ từ, thì hương thơm u nhã mà không khói. Trái phật thủ kị mũi người say rượu ngửi vào, nếu ngửi thì dễ bị thối. Mộc qua (Mộc qua ở đây tức quá mộc qua Trung Quốc, còn gọi mộc qua hải đường, là loài cây thân gỗ, lá rụng sớm, quả tựa trái lệ lớn, chín có mùi hương thơm) thì kị đổ mồ hôi, nếu bị đổ mồ hôi thì phải lấy nước rửa đi. Duy có hương viên (Hương viên: loại quả thuộc họ cam chanh, có hương thơm, nhưng không có ngón như quả phật thủ) thì không kị gì cả. Phật thủ, mộc qua cũng có phép đem làm đồ dâng cúng, không thể ghi hết cả được. Thường có người đem đồ cúng cầm ngửi, tùy ý đặt để, ấy tức là kẻ không biết phép dâng cúng vậy.

Tôi nhàn cư luôn, nên trên đầu bàn chẳng khi nào không có bình hoa. Vân bảo: “Mình cắm hoa, có thể thấy đủ cả cảnh nắng gió mưa sương, có thể nói là tinh diệu nhập thần. Nhưng trong hội họa có cách vẽ côn trùng điểm xuyết vào, chàng thử bắt chước phỏng theo như thế xem.” Tôi nói: “Côn trùng nhảy nhót không yên, nào để mình điều khiển, sao có thể bắt chước được?” Vân nói: “Có một cách này, chỉ e là đầu têu ra lại phải tội vậy.” Tôi bảo: “Nàng thử nói xem.”

Vân đáp: “Côn trùng chết đi màu sắc vẫn không đổi, mình tìm lấy mấy con bọ ngựa, ve sầu, bươm bướm, lấy kim đâm chết, rồi dùng dây tơ mảnh buộc chúng vào giữa khóm hoa cỏ, chỉnh cho chân chúng hoặc ôm lấy cành, hoặc đậu trên lá, hệt như lúc sống, chẳng cũng hay lắm ư?” Tôi thích quá, theo đúng cách ấy mà làm, ai trông thấy cũng phải tấm tắc khen ngợi. Tìm khắp trong đám phòng khuê, đến nay e là cũng chưa chắc có kẻ nào thấu hiểu lòng nhau như thế vậy.

Tôi và Vân ở nhờ nhà họ Hoa ở Tích Sơn, khi ấy Hoa phu nhân cho hai con gái theo Văn học chữ. Nhà ở thôn quê sân rộng, nắng hạ hun người, Vân bày cho gia đình cách làm những bình phong che nắng bằng hoa tươi rất tuyệt diệu. Mỗi bình phong là một phên rào, dùng hai cành cây ước dài độ bốn năm tấc, làm giống một cái ghế dài thấp, để rỗng giữa, rồi đặt bốn thanh ngang, dài độ một thước, bốn góc đục lỗ tròn, cắm que tre đan thành dậu mắt vuông. Bình phong cao chừng sáu, bảy thước, lấy những chậu sành trồng đậu ván đặt vào trong bình phong, cho dây dâu leo lên bình phong, hai người là có thể di chuyển được. Đan lấy mấy bức bình phong như thế, tùy ý đem che chắn, chả khác gì bóng cây xanh râm mát che cửa sổ, che nắng thoáng gió, quanh co gấp khúc, tùy lúc đổi thay, vì thế mà gọi là bình phong hoa tươi. Có được cách ấy, thì tất cả các giống dây leo, hương thảo, đều có thể tùy chỗ mà dùng. Đó thực là cách hay khi sống ở thôn quê vậy.

Người bạn tôi là Lỗ Bán Phảng, tên Chương, tự Xuân Sơn, giỏi vẽ tùng bách cúc mai, tinh thông lối chữ lệ, kiêm nghề triển khắc. Tôi ở nhờ trong lầu Tiêu Sảng nhà Bán Phảng đến một năm rưỡi. Lầu có nắm gian, hướng đông, tôi ba gian, dù tối sáng gió mưa, có thể nhìn được rất xa. Trong sân có một gốc hoa mộc, hương thoang thoảng trêu người. Có tường bao, có nhà chái, quang cảnh vô cùng u tĩnh.

Lúc tôi chuyển nhà, có đưa theo một người ở, một chị vú, dắt theo cả con gái nhỏ đến cùng. Người ở biết may áo, chị vú biết khâu vá. Vì thế, Vân thì thêu thùa, chị vú thì khâu vá, người ở thì cắt may, để lấy tiền chi dụng củi gạo. Tôi vốn mến khách, phàm uống rượu tất có tửu lệnh. Vân rất giỏi nấu nướng làm thức nhắm, rau dưa tôm cá, qua tay Vân làm, đều thành món ngon lạ bất ngờ. Bạn bè biết tôi nghèo, thường lần nào cũng bỏ tiền rượu, để trọn ngày khề khà với nhau. Tôi lại thích sạch sẽ, trong nhà không có tí bụi nào, cũng không bị câu thúc gì, nên mọi người có thể thoải mái chẳng nề hà.

Khi ấy, có Dương Bổ Phàm, tên Xương Tự, giỏi vẽ truyền thần nhân vật, Viên Thiếu Vu, tên Bái, giỏi vẽ sơn thủy; Vương Tinh Lan, tên Nham, giỏi vẽ chim thú hoa cỏ, mến vẻ u nhã của lầu Tiêu Sáng, đều đem đồ vẽ đến. Tôi bèn theo mấy người ấy học vẽ, viết chữ thảo, chữ triện, điều khắc ấn chương, để kiếm thêm chút tiền nhuận bút, đưa cho Vân sắm trà rượu mời khách, trọn ngày chỉ phẩm thi luận họa mà thôi.

Lại có hai anh em Hạ Đạm An, Hạ Ấp Sơn, cùng hai anh em Mâu Sơn Âm, Mâu Tri Bạch, và mấy người Tưởng Vận Hương, Lục Quất Hương, Châu Khiếu Hà, Quách Tiểu Ngu, Hoa Hạnh Phàm, Trương Nhàn Hàm, đều như én trên nhà, tùy ý tự đến tự đi. Vân dẫu gỡ thoa cài đầu đem bán lấy tiền mua rượu, cũng không hề tỏ vẻ oán trách gì. Cảnh đẹp ngày vui, chẳng bao giờ để phí hoài trôi qua được. Đến bây giờ thì mỗi người một phương, như nước chảy mây trôi, lại thêm ngọc nát hương vùi, chẳng bao giờ có thể quay đầu trở lại được nữa.

Lầu Tiêu Sáng có bốn điều cấm kị là: Bàn chuyện thăng quan tiến chức, thời sự công đường văn chương bát cổ; đánh bài chơi bạc, ai vi phạm tất bị phạt năm cân rượu (Một cân rượu ước độ 0,6 lít). Lại có bốn điều cho phép là: Khảng khái hào sảng, phong lưu hàm xúc; phóng túng không nệc thanh tĩnh yên lặng. Tiết giữa hè rảnh rỗi, lại tụ hội thi đối. Mỗi lần tụ hội tám người, mỗi người đem theo hai trăm tiền. Trước tiên bắt thăm, ai được số một thì làm chủ khảo, ngồi sang một chỗ riêng. Người được số hai thì làm thư ký, cũng ngồi một chỗ riêng. Còn lại tất cả đều là cử tử dự thi, ai nấy đến chỗ thư ký lấy một mảnh giấy, đã được đóng dấu ở trên. Chủ khảo ra câu đối năm chữ, bảy chữ, mỗi loại một câu, đốt hương để hạn định thời gian, cho đi đứng cấu tứ, nhưng không được bàn bạc riêng với nhau. Sau khi đối xong đem bỏ vào một cái hộp, thì mới được phép về chỗ ngồi. Sau khi mọi người đã nộp quyển xong xuôi cả, thư ký mới mở hộp, cùng chép lại ra một quyển, chuyển trình lên chủ khảo, để không được có ý riêng tư với ai. Trong mười sáu câu đối, lấy ra ba câu năm chữ, ba câu bảy chữ. Trong sáu câu đối, lấy câu đứng đầu của ai thì lần sau người ấy được làm chủ khảo, câu đứng thứ hai của ai thì lần sau người ấy làm thư ký. Người nào cả hai câu đều không được chọn thì bị phạt hai mươi đồng, người nào được chọn một câu thì phạt mười đồng, ai nộp muộn quá hạn thì lại bị phạt nhiều hơn nữa. Một vòng thi, chủ khảo được tiền hương một trăm đồng. Một ngày có thể thi tới mười vòng, gom được cả ngàn tiền, tha hồ mà mua rượu vậy. Duy có Vân được tính là “Quan quyền”,(Chế độ khoa cử đời Thanh quy định, con em các quan chức cao cấp tham gia kỳ hương thí thì gọi là quan sinh, quyển thi gọi là Quan quyển. Đây ý nói, nàng Vân thuộc diện đặc cách) cho ngồi mà nghĩ câu.

Dương Bổ Phàm vẽ cho vợ chồng tôi bức tranh đang cùng trồng hoa, trông thần tình tựa hệt. Tối hôm ấy, ánh trăng thật đẹp, bóng hoa lan in trên vách phấn, có một vẻ u nhã khác thường, Tinh Lan rượu say nổi hứng bảo: “Bổ Phàm vẽ ảnh cho ông rồi, thì tôi về bóng cho hoa vậy.” Tôi cười bảo: “Bóng của hoa dễ có thể sánh được ảnh của người ư?” Tinh Lan bèn lấy một tờ giấy trắng căng lên vách, rồi theo bóng hoa lan in trên đó lấy mực đậm nhạt mà đồ theo. Sáng hôm sau, lấy bức vẽ ra xem, tuy chưa thành tranh, nhưng hoa lá tiêu sơ, tự có cái thú vị dưới trăng vậy. Vân rất lấy làm quý báu, chúng tôi ai nấy cũng đề vịnh.

Thành Tô Châu có hai nơi là Nam viên và Bắc viên, mỗi mùa hoa cải vàng đều rất đẹp, chỉ khổ nỗi ở đó không có quán rượu nào mà uống. Cho thức nhắm vào tráp mang đến, ngắm hoa ăn đồ lạnh, thì lại chẳng còn ý vị gì nữa. Có người bàn, đến chỗ nào gần đó tìm quán rượu, có người bàn khi về thì uống. Song rốt chẳng thể nào khoái ý bằng được ngắm hoa mà nhắm đồ nóng. Mọi người còn bàn bạc chưa định thế nào, thì vẫn cười nói: “Ngày mai, chỉ cần các ngài mỗi người bỏ một ít tiền hầu bao ra đây, tôi sẽ gánh hỏa lò đến tận nơi cho.” Mọi người cùng cười mà bằng lòng.

Tất cả tan về rồi, tôi hỏi Vân: “Mình tự gánh bếp đến thật ư?” Vân nói: "Không đâu. Thiếp thấy những người bán vằn thắn trong chợ, gánh hàng có đủ nồi bếp, sao không thuế họ mang đến cho? Thiếp sẽ sắp sẵn các món đồ nhắm trước, sau khi đến đó lại cho đảo nóng lại, trà rượu cũng đều tiện cả.” Tôi bảo: “Rượu nhắm thì rõ là tiện rồi, nhưng trà thì thiếu đồ pha.” Vân nói: “Mang theo một cái ấm đất, lấy chĩa sắt xỏ vào quai ấm, nhấc nồi ra, gác ấm lên bếp, bỏ thêm chi vào mà nấu trà, chẳng cũng tiện ư?” Tôi vỗ tay khen phải. Đầu phố có người họ Bão, bán vằn thắn gánh, bèn bỏ một trăm tiền thuê gánh bếp, hẹn đến sau buổi trưa ngày mai mang tới, họ Bão vui vẻ bằng lòng ngay.

Hôm sau, những người đi ngắm hoa đến, tôi nói lại chuyện cho nghe, ai cũng đều thán phục. Ăn cơm xong, mọi người cùng đi, mang theo cả chiếu và đệm ngồi. Đến Nam viên, chọn một bóng liễu rợp ngồi quây quần dưới gốc. Trước tiên pha trà, uống xong, thì hâm rượu đảo lại đồ nhắm. Khi ấy, gió êm nắng ấm, khắp mặt đất hoa như dát vàng, áo xanh tay đỏ, vượt luống băng bờ, bươm bướm bay rối, khiến người chẳng uống mà say. Rồi đó rượu cùng đồ nhắm đều đã nóng, cùng nhau ngồi dưới đất mà thưởng. Người gánh bếp cũng không phải tục nhân, mọi người cũng kéo lại cùng ngồi uống. Những khách du khác trông thấy thế, chẳng ai không hâm mộ cho là một ý tưởng khác lạ. Chén bát ngôn ngang, ai nấy đều đã say sưa, kẻ ngồi người nằm, hoặc ngâm hoặc hát. Mặt trời sắp ngả, tôi nghĩ thèm cháo, người gánh bếp lập tức mua gạo nấu cho, ăn no bụng rồi về. Vân nói: “Hôm nay đi chơi có vui không?” Mọi người cùng đáp: “Nếu không có phu nhân ra sức, thì sao được thế.” Rồi cùng cười lớn giải tán.

 

Nhà bần sĩ, cái ăn cái mặc cho tới đồ dùng buồng ở, đều nên tiết kiệm mà thanh sạch. Phép tiết kiệm là “tùy việc luận việc”. Tôi thích ăn uống đơn giản, không thích nhiều món. Vẫn bèn làm cho một cái tráp hoa mai: Dùng sau chiếc đĩa sứ trắng bề ngang hai tấc, ở giữa để một cái, xung quanh là năm cái, lấy vôi gắn lại, hình trạng trông tựa bông hoa mai, đế và nắp tráp đều theo hình lồi lõm cánh hoa, trên nắp lại có núm như đài hoa. Đặt ở trên đầu bàn chẳng khác gì một đóa hoa mai, mở nắp ra xem, tựa hồ món ăn được để trên những cánh hoa. Một tráp sáu món, cùng hai, ba tri kỷ, có thể tùy ý lấy ăn, ăn hết lại thêm. Lại làm một cái mâm tròn cạnh thấp, để tiện đặt chén đũa, bầu rượu, có thể bày ra ở bất kỳ đâu, mang đi cùng tiện. Ấy cũng là một cách để tiết kiệm đồ ăn vậy.

 

Những mũ đội, tất chân của tôi đều do Vân tự làm lấy, áo nào bị rách cũng cắt chỗ nọ và chỗ kia, tất đều chỉnh tề sạch sẽ. Màu sắc chọn thứ tối nhạt, để đỡ vết bẩn, vừa có thể mặc tiếp khách, lại có thể mặc thường ngày. Ấy lại là một cách để tiết kiệm đồ mặc vậy.

 

Lúc mới đến lầu Tiêu Sáng, hiềm rằng buồng tối, tôi bèn lấy giấy trắng dán tường, bèn thành sáng sủa. Mùa hè, dưới lầu, bỏ cánh cửa đi, không có chấn song, cảm giác chống chính không có gì che chắn. Vân nói: “Có cái mành tre cũ ở đây, sao không dùng rèm thay cho chấn song?” Tôi sào ngang, hỏi: “Như thế nào?” Vân nói: “Lấy mấy cái sào tre, màu đen, cây dựng dọc cây bắc ngang, cắt nửa cái mành buộc lên cây để chùng chạm đất, cao ngang cái bàn, ở giữa dựng bốn đoạn tre ngắn, dùng dây gai buộc chặt, sau đó ở chỗ rèm buộc vào cây sào ngang, tìm lấy mấy dải vải đen cũ khâu chặt rèm với cây sào ngang. Như vậy vừa có thể che chắn được, lại không tốn tiền.” Ấy là cách “tùy việc luận việc” vậy. Lấy đó mà suy, câu mà người xưa vẫn nói rằng: mẩu gỗ cành tre đều hữu dụng, thật có lý vậy.

Tháng hè, khi hoa sen mới nở, hoa sen tối cụp sáng xòe. Vân dùng một túi vải sa nhỏ, đựng một chút trà, bỏ vào giữa bông sen, sớm sau thì lấy ra, pha bằng nước suối trời (Tức nước mưa), hương vị vô cùng tuyệt diệu.