Thứ Năm, 4 tháng 4, 2019

LỘC VÀNG

TÀI TỬ LỘC VÀNG: VÀO TÙ VÌ YÊU NHẠC

Ông Lộc Vàng tên thật là Nguyễn Văn Lộc, sinh năm 1945 là một trong những người mê nhạc vàng nổi tiếng tại Hà Nội.
Trước năm 1954, đâu đâu cũng nghe người ta hát nhạc vàng (đó là dòng tân nhạc nay gọi là tiền chiến. Hồi đó vì vẻ đẹp sang trọng và đáng quý nên người ta so sánh nó quý như vàng, chứ không phải nhạc vàng hiểu theo nghĩa sến, héo úa sau này) nó ngấm vào ông từ khi nào không biết. Cũng vì trót yêu, trót thèm được phiêu du cùng cái cảm xúc thật của mình mà bất chấp lệnh cấm, ông Lộc cùng một nhóm bạn, trong đó có ông Phan Thắng Toán (Toán “Xồm”) và Nguyễn Văn Đắc thường xuyên tụ họp tại nhà, cùng hát với nhau những bài hát của Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Đặng Thế Phong, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng...
“Chúng tôi gặp gỡ, đóng cửa hát cho nhau nghe thôi chứ cũng chẳng phản đối chính sách nhà nước gì cả. Chúng tôi chỉ thấy dòng nhạc này hay quá, trữ tình và đầy tình người nên muốn lưu giữ lại và đóng cửa hát cho nhau nghe.”
“Người này đồn người kia. Công an bắt bạn tôi và nói rằng vì chúng tôi thích những bài nhạc ấy nên chúng tôi phá hoại nền văn hóa CNXH và tuyên tuyền văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc. Và họ đã xét xử bọn tôi”.
Ra tù, nhà cửa ông Toán "Xồm" cũng tan nát. Ông lang thang trên đường phố sống vào tình thương của người qua lại. Vào quán ông Lộc Vàng, người ta bắt gặp một bức ảnh một người mặc áo sơ mi trắng ngồi châm thuốc cho một người hành khất. Người mặc áo sơ mi trắng là ông Lộc và người hành khất không ai khác chính là ông Toán Xồm (ảnh dưới). Một đêm năm 1994, người ta nhìn thấy ông Toán nằm gục chết, đói lả, cô đơn, trên hè phố.

Anh Lộc và anh Toán Xồm trên phố Tô Hiến Thành.
Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Ngày 27 tháng 3 năm 1968 nhóm nhạc của ông Lộc Vàng bị bắt. Vụ án “Phan Thắng Toán và đồng bọn về tội tuyên truyền văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa đế quốc” đưa ra xét xử, ông Toán “Xồm” bị tuyên 15 năm tù giam, ông Đắc bị 12 năm tù giam và ông Lộc Vàng bị 10 năm tù giam, để rồi khi ra trở về cuộc sống tự do họ vẫn không khỏi thắc mắc vì sao.
“Nghĩ đến cuộc đời của mình sao mà cay đắng chua chát quá. Mình có làm cái gì đâu, chỉ yêu thích âm nhạc thôi mà bị tù đày. Sau khi dòng nhạc này được khôi phục lại, những bản nhạc này được hát lên ti vi. Khi nghe người ta hát mà mình ngồi ứa nước mắt ra”.
Bà ra đi để lại cho ông hai người con và một tình yêu chưa bao giờ nguôi ngoai: “Tôi biết cô ấy từ năm 17 tuổi, chơi thân với nhau, rồi yêu nhau sau đó. Ngoài 20 tuổi tôi phải vào tù, 31 tuổi ra tù, thiên hạ dị nghị, kinh sợ tôi hơn một gã tù lưu manh, chỉ có cô ấy không ngại, vẫn yêu, vẫn thương tôi”.
Nhưng năm 90 ông mở quán cà phê nhạc, chỉ để có chỗ cho ông thỏa niềm đam mê, vì thế tài sản của ông cứ dần “đội nón ra đi” để bù đắp vào sự thua lỗ của quán: “Lỗ nhiều tôi bán nhà to mua nhà nhỏ, từ nội thành bay ra ngoại thành. Khi chưa mở quán tôi có ngôi nhà 50 m2 ở phố Kim Mã, sau bốn năm tôi chỉ còn 50m2 đất, ở tít Cầu Diễn”. Bây giờ, ông sống luôn ở quán.
Vợ Lộc Vàng đã mất hơn 10 năm nay nhưng mỗi khi thăng hoa trên sân khấu ông lại khóc. “Tôi chỉ ước vợ tôi sống lại, ở bên cạnh tôi, nghe tôi hát. Ngày xưa, tôi đi hát vợ tôi bế thằng lớn theo sau. Mấy ông bạn bảo: Trời rét, để con ở nhà mang con theo làm gì? Vợ tôi trả lời: Em không đi nghe hát đâu mà để nếu chồng em có bị bắt lần nữa, em còn biết đường đi tiếp tế”.
Vì người mình yêu, bà bỏ nghề diễn viên làm nghề bán đậu phụ ngoài vỉa hè. Suốt quãng đời bên nhau chưa một lần vợ Lộc Vàng trách cứ ông về tình yêu với dòng nhạc mang đến nhiều hệ lụy.
Ngày nay, góc quán nhỏ của nghệ sĩ Lộc Vàng số 17A đường ven hồ Tây vẫn vang lên tiếng hát. Tiếng hát mà ông đã đánh đổi cả cuộc đời mình để giữ gìn, nâng niu.

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2019

Chờ người (Lam Phương)

Nghe tin Bạch Yến trở về sau hơn 10 năm xa cách, Lam Phương xao xuyến viết bài Chờ Người rất đặc sắc. Giai điệu lách thoát hẳn ra khỏi dòng nhạc quen thuộc của anh, nhất là một bài buồn viết theo hợp âm trưởng (major) là chuyện ít có:
“Chờ em, chờ đến bao giờ

Mấy thu thuyền đã xa bờ.


Mười năm trời chẳng thương mình

Để anh thành kẻ bạc tình
Cầu xin cho mây về vui với gió
Dù có qua bao đắng cay
Muôn đời anh vẫn chờ em.”





Duyên quê

Nguyễn Hữu Thiết là một nhạc sĩ kiêm ca sĩ nổi tiếng của nền Tân Nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông cùng với vợ ông là ca sĩ Ngọc Cẩm tạo thành một cặp song ca lừng tiếng về tài năng nghệ thuật cũng như về sự chung thủy trong tình yêu được nhiều người yêu thích mến mộ.




---------------
Một ca khúc của ông:  Người Đã Đi Rồi qua giọng ca Hoàng Oanh.




Người Đã Đi Rồi - Nguyễn Hữu Thiết
Mùa thu đến người ơi
Lặng trong lá vàng rơi
Trong nước cuốn hoa trôi 
Nghe tiếng gió xa xôi
Vẫn vắng bóng một người
Người đã đi rồi. 

Kìa thu ấy người đi
Để xao xuyến biệt ly
Đông tới đến xuân sang
Năm tháng đến bên tôi
Ôi tiếc nhớ thơ mộng
Làm rối tơ lòng. 

Anh vui sồng hồ phương trời
Ngày đêm nhớ em mong
Hôm nao ta cùng tâm sự
Chuyện đời như sương khói. 

Với tiếng gió chiều
Thu về nghe nỉ non
Buồn trên lối mòn
Sống nước gian hồ
Dìu dập như muốn tiếng đàn
Lâng lâng tâm hồn ta. 

Kỷ niệm ấy còn đâu
Người đi đã từ lâu
Theo kiếp sống tha hương
Đi cất bước muôn phương
Có nghĩ đến một người
Giờ đây đợi chờ. 

Kìa thu đến người ơi
Gợi tình yêu đầy vơi
Thu đến với heo may
Mang buốt giá tim tôi
Ôi tiếc nhớ xa vời
Người đã đi rồi

Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ

"Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ" là một giấc mơ- "Giấc mơ đời hư ảo"- như một câu nói của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Nhịp 2/4 chậm rãi, điệu Blue khắc khoải; âm nhạc của "Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ" thật sự là một điệu buồn. Nó rỉ rả, tha thiết kể lể với chúng ta về một dòng sông kí ức chảy trôi trong tâm tưởng. Có khúc sông vui dào dạt, có khúc sông buồn miên man và có khúc cuộn trào như thác đổ...Như một điệp khúc, nhiều lần, nhiều đêm như vậy, đều "thấy ta là thác đổ", mãnh liệt đến nỗi "tỉnh ra còn nghe".
Góp phần tạo nên sức sống bền bĩ cho "Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ" là lớp ca từ đầy sức ám ảnh. Với vỏ bọc ngoài nhẹ tênh, giản dị, đời thường nhưng lại chuyên chở sự nặng chịch của những dụ ngôn nghệ thuật. Đời ta hết mong điều mới lạ/ Tôi đã sống rất ơ hờ; Nhiều đêm thấy ta là thác đổ/ Tỉnh ra có khi còn nghe...
"Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ" như một bản sao cuộc sống của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn! Ông đã sống hết mình với âm nhạc, với tình yêu, với cuộc đời, ầm ào như thác đổ...rồi bình yên về chốn hư vô, cùng với những giấc mơ đời hư ảo. (
Hữu Du)



Thứ Ba, 2 tháng 4, 2019

Nỗi Lòng Người Đi


Khi học cấp 3, bọn trẻ chúng tôi đã thường ngâm nga ca khúc này với thanh vỡ giọng như để tâm sự những điều chưa có để mà tỏ ra mình đã lớn. Sau này cũng ra đi chiến trận, vẫn hát và nhớ thương. Gặp lại bài hát này nghe lại bồi hồi và thú vị.
-------------------
Bài hát Nỗi Lòng Người Đi (Anh Bằng) với giọng hát và guitar của Toàn Nguyễn. 


Đây không phải là một giọng ca nổi tiếng, nhưng nếu bạn là người thích nghe nhạc guitar acoustic thì ít nhất vài lần được nghe giọng của ông rồi.
Hơn 10 năm trước, ông hát ở phòng trà ở đường Trần Cao Vân, sau đó trên mạng lan truyền album các bài nhạc Trịnh do Toàn Nguyễn hát với giọng ca rất ấm và mộc mạc, cùng tiếng đàn guitar chậm rãi của ông. Toàn Nguyễn hát mà như thủ thỉ tâm sự, rất giàu cảm xúc. 



------------------------

Rừng lá thấp

Có thể nói, lời hát của bài Rừng lá Thấp, nếu được suy xét kỹ, là những lời lên án thẳng thừng về sự sáo rỗng, giả dối về “tình yêu lính” trong câu hát, giọng hát của các “cô nàng” về người lính. 
Những người như anh lính TQLC Vũ Mạnh Hùng cảm thấy câu hát đó không thật lòng với họ. Khi anh Hùng nói việc này với Trần Thiện Thanh – vốn là một nhạc sĩ nổi tiếng sáng tác và hát nhạc lính. Trần Thiện Thanh đã không nói gì, vì không muốn bình luận về đồng nghiệp. Ông đã ghi lại những ý kiến đó vào một bài nhạc lính, và bài Rừng Lá Thấp đã trở thành bài nhạc lính kinh điển và nổi tiếng nhất.

Mời các bạn nghe ca khúc với phần nhạc đệm thật đặc trưng.

Pù pài nhằng tỉnh cằm có

                   
Nói như người Tày trên Cao Bằng: “Hát đây lố” (Hát rất hay)

Pù pài nhằng tỉnh cằm có Sáng tác Phạm Tịnh Biểu diễn: NSND Dương Liễu
Nàng ới Lời Nàng à lấy nớ .....ới. ca đăm cáp ca đáng ơi củng lố ca ... Khẩu a le rây a le cáp le khấu le nà củng le khấu ới nàng (à) no... Lời nàng a lấy nơ.... ới. Pi bấu đảy gạ ca ới nặng lố đăm.. Pỏ à le vạ à le nhằng le tính le căn ga le cá gạc ới nàng (à) no... Lời nàng (á a ới....ớ ơ ớ ơ ơi...) quá lô đông ngỏang lồng nặm ơi piến bấu đang. Mùa a le xuân a le đạ lý xuân khửn phia, piên le ngỏang ơi nàng à no...
Lời nàng a lấy nới..... màn sương dày phủ lên ngăn đường đi phía xa, đường đi dấu xa e đâu ngại bởi đã nói lời hẹn cùng anh thắm duyên chỉ hồng..... bên lâu... (2 lần) Ngọn lửa đêm đông ớ ơ...ớ ơ ơi... xốn sang rạo rực giữa đêm đông sương buông, lời yêu thương nhờ gió bay đi xa gửi tới a người mà e thương .... ---------------
Dương Liễu sinh ra, lớn lên ở huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, trong một gia đình không ai làm nghệ thuật. Bà là người Kinh nhưng có thể nói thạo tiếng Tày, tiếng Nùng. Bà theo học ngành sư phạm mẫu giáo nhưng mong ước được hát đã thôi thúc bà gia nhập Đoàn Văn công Cao Bằng (cuối năm 1979).
Hiện bà là Đoàn phó phụ trách chuyên môn Đòan nghệ thuật tỉnh Cao Bằng, nên bà vừa tham tham gia biểu diễn, vừa chỉ đạo nghệ thuật. Dương Liễu còn sáng tác ca khúc. Bà là hội viên của Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao Bằng, thành viên Hội bảo tồn dân ca các dân tộc tỉnh Cao Bằng.
Bà đã được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.

Chuyện “Cái giọng Sài Gòn”

 Chuyện “Cái giọng Sài Gòn”

  (Hải Phan)


Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, trong đầu lúc nào cũng có một ý định là sẽ “thở đều” trên mảnh đất ồn ào này, ý định đó chắc sẽ giữ mãi cho đến lúc một ngày nào đó âm thầm không bứt rứt cắn tay áo mà mỉm cười he he he XXX xuống dưới ấy… Gọi là yêu Sài Gòn thì có phần hơi quá! Không dám gọi thứ tình cảm dành cho Sài Gòn là tình yêu, nó chưa thể đạt đến mức ấy. Cái tình với Sài Gòn là cái tình của một thằng ăn ở với Sài Gòn hơn 20 năm, cái tình của một thằng mà với nó, Sài Gòn còn quá nhiều điều níu kéo, quá nhiều chuyện để mỗi khi bất chợt nghĩ về Sài Gòn, lại thấy nhơ nhớ, gần gũi…


Hồi còn đi học, vẫn hay chọc mấy đứa bạn bằng 2 câu thơ nhại :


Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Gái Sài Gòn cái mỏ cong cong


Chuyện con gái Sài Gòn “mỏ” có cong không thì hông biết, chỉ biết con gái Sài Gòn có cái dẫu môi cong cong dễ làm chết người lắm, nhất là khi cánh môi be bé ấy cong lên một chữ “hônggg…” khi đứa con trai rủ rê đi đâu, năn nỉ gì đó. Lúc đó, lấy gương ra soi, chắc cái mặt của đứa con trai đó tội lắm.

Mà con gái Sài Gòn có điệu đà, õng ẹo chút thì mới đúng thiệt là con gái Sài Gòn. Ai mà chẳng biết vậy. Gọi đó là cái duyên ngầm của người con gái đất Gia Định cũng chẳng có gì sai. Ai hiểu được sẽ thấy sao mà yêu mà thương đến vậy…


Có dạo đọc trong một bài viết về Sài Gòn – Gia Định của nhà văn Sơn Nam, có thấy ông viết giọng Sài Gòn, cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi. Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định…Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất…



Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn của người miền Bắc. Giọng chuẩn tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian. Như nói về giọng chuẩn của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”. Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được. Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế…



Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào …mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa, không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt, giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn. Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng. Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống, trong đổi mới và phát triển, thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng…Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu… Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười “Ừ, dzậy anh dìa hen!”. Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!” “thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên “Hay hén mậy?” bằng giọng điệu thoải mái…



Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó “Dzui dzữ hen!”. Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ “Dzui dzữ hen!”… Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như “Hay dzữuuu”, “Giỏi dzữưưu…!” Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen” “Thôi à!” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.


Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền. Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn. Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy!” thì người Sài Gòn nói nó… thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen mầy!”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó. Nghe một người Sài Gòn phát âm những chữ có phụ âm “v” như “về, vui, vườn, võng” nó cảm giác sao sao á, không đúng là giọng Sài Gòn chút nào…


Nhìn lại một quãng thời gian hơn 300 năm hình thành và phát triển của Sài Gòn từ Phiên Trấn, Gia Định Trấn, Gia Định Thành, Phiên An, Gia Định Tỉnh…cho đến Sài Gòn, Tp HCM, dân Sài Gòn đã là một tập hợp nhiều dân tộc sinh sống như Việt, Hoa, Kh’mer…Các sử sách xưa chép lại, khi người Việt bắt đầu đến Đồng Nai – Gia Định thì người Kh’mer đã sinh sống ở đây khá đông, rồi tiếp đó là người Hoa, và một số người tộc láng giềng như Malaysia, Indonesia (Java) cũng có mặt. Sự hợp tụ này dẫn đến nhiều sự giao thoa về mặt văn hóa, làm ăn, cũng như những mặt khác của đời sống, trong đó dĩ nhiên phải nói đến ngôn ngữ.


Tiếng nói của người Sài Gòn không chỉ thuần là tiếng Việt, mà còn là sự học hỏi, vay mượn nhiều từ ngữ của dân tộc bạn, đâm ra mang nhiều “hình ảnh” và “màu sắc” hơn. Những từ như “lì xì, thèo lèo, xí mụi, cũ xì…” là mượn của người Hoa, những từ như “xà quầng, mình ên…” là của người Kh’mer. Nói riết đâm quen, dần dần những từ ngữ đó, những tiếng nói đó được người dân Sài Gòn sử dụng một cách tự nhiên như của mình, điều đó chẳng có gì lạ…Thêm vào đó, nó được sửa đổi nhiều cho phù hợp với giọng Sài Gòn, thành ra có những nét đặc trưng riêng.



Vậy nói cho cùng thì người Sài Gòn cũng có những tiếng gọi là “tiếng địa phương” (local dialect !?). Những tiếng này thể hiện rõ nhất khi người Sài Gòn nói chuyện cùng người miền khác. Nghe một người Sài Gòn nói chuyện cùng một người khác vùng, dễ dàng nhận ra những khác biệt trong lời ăn tiếng nói giữa hai người, hai miền. Có một số từ người Sài Gòn nói, người miền khác nghe rồi…cười vì chưa đoán ra được ý. Cũng như khi nghe người Huế dùng một số từ lạ lạ như “o, mô, ni, chừ, răng…” trong khi nói chuyện vậy thôi. Khác là mấy tiếng người Sài Gòn nói, vẫn có chút gì đó nó…vui vui tai, là lạ, ngồ ngộ làm sao.
Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”. Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng!” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con? – Dạ, chưa!”; “Mới dìa/dzề hả nhóc? – Dạ, con mới!”… Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ…dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẳn hay…


Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “Hổm nay”, “dạo này”…người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê. (Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó xinh ghê!” nghĩa là khen cô bé đó xinh lắm vậy.) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau. Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết…” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.



Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem…”Nhỏ đó xinh lắm!”, “Nhỏ đó ngoan!”…Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thuý, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thuý, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.




Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề…nhìn phát bực!” Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi “Ê, nhóc lại nói nghe!” hay gọi người bán hàng rong “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi!”… “Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn. Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”… “cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này “Lấy cái tay ra coi!” “Ngon làm thử coi!” “Cho miếng coi!” “Nói nghe coi!”… “Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?” – Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói “Sao kỳ dzậy ta?” “Sao rồi ta?” “Được hông ta?”…Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà…hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.




Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là… “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi!”




Mà giọng Sài Gòn đã thế, cách người Sài Gòn xưng hô, gọi nhau cũng có phần mang “màu sắc” riêng.




Người Sài Gòn có cái kiểu gọi “Mày” xưng “Tao” rất “ngọt”. Một vài lần gặp nhau,nói chuyện ý hợp tâm đầu một cái là người Saigon mày tao liền. Nếu đúng là dân Sài Gòn, hiểu người Sài Gòn, yêu người Sài Gòn sẽ thấy cách xưng hô ấy chẳng những không có gì là thô mà còn rất ư là thân thiện và gần gũi.
Mày-tao là kiểu xưng hô hay thấy trong mối quan hệ bạn bè của người Sài Gòn. Cách xưng-hô này thấy dàn trải từ đủ các mối quan hệ bạn bè; từ bạn học giữa mấy đứa nhóc chút xíu, cho đến mấy bác mấy anh lớn lớn tuổi. Hổng biết cái máu dân Sài Gòn nó chảy mạnh quá hay sao mà thấy mấy cách gọi này nó…tự nhiên và dễ nói hơn là mấy từ như “cậu cậu – tớ tớ” của miền Bắc. Nói chuyện bạn bè với nhau, thân thiết mà gọi mấy tiếng mày mày tao tao thì nghe thật sướng, thật thoải mái tự nhiên, và khoai khoái làm sao ấy. Gọi thế thì mới thiệt là dân Sài Gòn.




Đấy là ngang hàng, ngang vai vế mà gọi nhau, chứ còn như đám nho nhỏ mà gặp người lớn tuổi hơn, đáng bậc cha, chú thì khác. Khi ấy “tụi nhỏ” sẽ gọi là chú, thím, cô, dì, hay bác và xưng “con” ngọt xớt. Có vẻ như người Sài Gòn “ưa” tiếng chú, thím, dì, cô hơn; cũng như đa phần dân miền Nam khác vậy mà. Mà có lẽ cách gọi này cũng còn tuỳ vào việc ước lượng tuổi của người đối diện. Gặp một người phụ nữ mà mình nhắm chừng tuổi nhỏ hơn mẹ mình ở nhà thì “Dì ơi dì…cho con hỏi chút…!” – còn lớn hơn thì dĩ nhiên là “Bác ơi bác…” rồi. Những tiếng mợ, thím, cậu,… cũng tuỳ vào vai vế và người đối diện mà gọi. Có người chẳng bà con thân thuộc gì, nhưng là bạn của ba mình, lại nhỏ tuổi hơn, thế là gọi là chú và vợ của chú đó cứ thế gọi luôn là thím. Gọi thì gọi thế, còn xưng thì xưng “con” chứ không phải “cháu cháu” như một số vùng khác. Cái tiếng “con” cất lên nó tạo cho người nghe cảm giác khoảng cách giữa mình với đứa nhỏ đang nói kia tự dưng… gần xịt lại. Nghe sao mà quen thuộc, và gần gũi đến lạ lùng. Tự dưng là thấy có cảm tình liền.




Nói tiếp chuyện xưng-hô, người Sài Gòn có kiểu gọi thế này :
Ông đó = ổng
Bà đó = bả
Anh đó = ảnh
Chị đó = chỉ
…..
Không hiểu sao mà dấu hỏi tự nhiên cái trở nên giữ vai trò quan trọng… ngộ nghĩnh vậy nữa. Nhưng mà kêu lên nghe hay hay đúng hông? Gọi vậy mới đúng là chất Nam Bộ – Sài Gòn á nghen.




Người Sài Gòn cũng có thói quen gọi các người trong họ theo… số. Như anh Hai, chị Ba, thím Tư, cô Chín, dượng Bảy, mợ Năm…Mà nếu anh chị em họ hàng đông đông, sợ gọi cùng là chị Hai, anh Ba mà hổng biết nói về ai thì dzậy nè, thêm tên người đó vào. Thành ra có cách gọi : chị Hai Lý, chị Hai Uyên, anh Ba Long, anh Ba Hùng…


Thêm nữa, nếu mà anh chị em cùng nhà thì tiếng “anh-chị-em” đôi khi được…giản lược mất luôn, trở thành “Hai ơi Hai, em nói nghe nè…” và “Gì dzạ Út ?”…Tôi thích cách gọi này, đâm ra ở nhà gọi Dì Út tôi chỉ là một tiếng Út gọn lỏn. Có chuyện nhờ là cứ “Út ơi…con nhờ chút!” hoặc với mấy chị tôi thì “Hai ơi Hai…em nói nghe nè!”.


Cách gọi này của người Sài Gòn nhiều khi làm người miền khác nghe hơi…rối. Có lần, kể cho người bạn ở Hà Nội nghe về mấy người anh chị trong gia đình. Ngồi kể lể “anh Hai, chị Hai, dì Hai, Út, cậu Hai, mợ Hai, chú Ba…” một hồi cái bị kêu là hổng hiểu, xưng hô gì rối rắm quá chừng, làm phải ngồi giải thích lại suốt một hồi…lâu.




Cách xưng hô của người Sài Gòn là vậy. Nghe là thấy đặc trưng của cả một mảnh đất miền Nam sông nước.


Cứ thế, không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ!” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương…

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2019

Trung Quốc tứ đại

Trung Quốc tứ đại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trong sinh hoạt hàng ngày, người Trung Quốc coi chữ tứ (四, nghĩa là bốn) là không may mắn vì nó phát âm gần giống với chữ tử (死, nghĩa là chết). Tuy vậy những thành quả văn hóa quan trọng hoặc những nhân vật, dấu ấn lịch sử của Trung Quốc lại thường được cô đọng trong các nhóm 4 hay Trung Quốc tứ đại (中国四大)

Danh sách
Địa danh

Nhân vật

Tác phẩm

Khác

  • Tứ đại phát minh (四大发明), chỉ bốn phát minh lớn của người Trung Quốc gồm la bàn, thuốc súng, nghề làm giấy và nghề in
  • Tứ đại danh tú (四大名绣), chỉ bốn loại đồ thêu dân gian nổi tiếng ở Trung Quốc là: Tô tú 苏绣 của Tô Châu (Giang Tô), Tương tú 湘绣 của Hồ Nam, Thục tú 蜀绣 của Thành Đô (Tứ Xuyên), Việt tú 粤绣 của Quảng Đông.
  • Tứ đại danh cầm chỉ bốn cây cổ cầm (thất huyền cầm) nổi tiếng ở Trung Quốc, là “Hiệu chung” 号钟 của Tề Hoàn Công 齐桓公, “Nhiễu lương” 绕梁 của Sở Trang Vương 楚庄王, “Lục Ỷ” 绿绮 của Tư Mã Tương Như 司马相如 và “Tiêu Vĩ” 焦尾 của Thái Ung 蔡邕.

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2019

Liang Zhu (tiếp theo)




Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài: 
Nguồn cảm hứng bất tận từ tứ đại truyền thuyết dân gian Trung Hoa
----------
Khi còn nhỏ, chị gái hay ru tôi bằng truyện thơ này. Giờ vẫn còn nhớ:
“Chuyện Trung Quốc ngày xưa kể lại
một mối tình mãi mãi còn vương …
....
Tỉnh Chiết Giang có nhà giầu có
Lại sinh dòng là họ Chúc Anh, 
Hiếm hoi cây có một cành…” 
(tôi chỉ còn thuộc vài chục câu đầu).
Xưa nhà gỗ 5 gian, anh tôi treo bức tranh Lương Chúc trên cột. Còn nhớ câu viết trên tranh: Lung linh mặt nước giếng khơi/ Có đôi trai gái đang cười với nhau..."

Bạn Hải Hà viết: Miền Nam thời xưa có tuồng cải lương về mối tình này rất ăn khách. Trong tuồng có bài vọng cổ bắt đầu bằng "Anh Đài ơi từ đây muốn gặp nhau hãy ra nơi Nam Sơn tiểu lộ, vì xác thân anh đã vùi thây nơi đáy mộ hoang... tàn. Em hãy rưới dùm anh lệ thắm đôi hàng. Tình của ta là nước bèo đôi ngả giữa dòng đời chưa hợp đã tan... " Học bài thì không thuộc nhưng Tám hay nhớ những bài hát vọng cổ, chẳng hiểu trí nhớ sao lại chọn lựa như thế. 

Hay thật, lứa tuổi chủ yếu đọc sách. 'Nghe nhìn' là chèo miền bắc và tuồng ở miền trung, miền nam. Thú vị khi thấy vẫn còn nhớ những câu tuồng, tích xưa. Chắc khi đó lúc nấu cơm, má đỏ hồng như hoa lựu, ti tỉ ca: 

"Anh Đài ơi từ đây muốn gặp nhau hãy ra nơi Nam Sơn tiểu lộ, vì xác thân anh đã vùi thây nơi đáy mộ hoang... tàn. Em hãy rưới dùm anh lệ thắm đôi hàng. Tình của ta là nước bèo đôi ngả giữa dòng đời chưa hợp đã tan... " 

Bác Bu cảm nhận: Bạn làm bu tui bồi hồi nhớ lại rạp chiếu phim Vinh cách nay gần nửa thế kỷ. Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài ám ảnh một thời tuổi trẻ của bu. Đôi trai tài gái sắc ấy vậy là đã siêu thoát qua hình ảnh đôi bướm quấn quýt nhau bay lên trời. Khỏi cần nhà sư nào tụng niệm cầu siêu...
... siêu thoát xét cho cùng là vượt lên chính mình, thế thôi.


 ...có lẽ không ai có thể bỏ qua “Trường Kiều Bất Trường”, một trong 4 thắng cảnh được gọi là “Hàng Châu Tứ Tuyệt”. Cây cầu nhỏ (tiểu kiều) này dài vỏn vẹn 15 mét, tương truyền là nơi mà vào thuở xa xưa, Lương Sơn Bá phải chia tay Chúc Anh Đài. Đôi trai gái lưu luyến và bịn rịn nhau mãi, không đành để nhau đi, nên cứ đưa nhau qua lại 138 lần, mất đúng một ngày! Cái tên “cầu dài mà không dài”, xuất phát từ sự tích động lòng này của một tình yêu bất diệt!
Vì thế có câu: “Trường kiều bất trường tình nghĩa trường. Đoạn kiều bất đoạn thốn trường đoạn.” Hàm ý nói rằng: “Cầu Trường không dài nhưng tình nghĩa dài. Cầu Đoạn không gãy mà khiến lòng người đau như đứt từng khúc ruột ”.


Bản concerto viết cho violon Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài (Lương-Chúc tiểu đề cầm hiệp tấu khúc), được hai sinh viên của Học viện Âm nhạc Thượng Hải là Hà Chiêm Hào và Trần Cương soạn vào năm 1958. Bản nhạc nổi tiếng từ cuối thập niên 1970, thời lượng 30'. 



Mở đầu tiếng piano chậm rãi đưa ta vào câu chuyện. Violon solo, lời tiểu thư họ Chúc tươi tắn kể về một khung cảnh êm đềm, tuổi thơ nhung lụa. Tiếng sáo cất lên, một vùng quê thanh bình miền Chiết Giang, nước Việt thịnh vượng xưa. Tiếng violon solo vẳng tiếng đàn hạc chứa chất đầy tâm trạng. Trước mắt ta có thể hình dung được một khung cảnh êm đềm của bức tranh mùa xuân - những ngày tháng hạnh phúc, xen lẫn những giai điệu chậm và lắng sâu, như thể tâm tình thiếu nữ ....
Concerto này chỉ có một chương duy nhất chia thành nhiều phần, tổng cộng dài 30 phút. Kết cấu như sau:

  • Phần thể hiện
    • Trích dẫn và chủ đề
    • Cùng học
    • Đưa tiễn nhau 18 dặm, không nỡ chia tay
  • Phần triển khai
    • Kháng hôn
    • Hẹn gặp lại nhau
    • Lương Sơn Bá lâm chung, Chúc Anh Đài khóc trước mộ Sơn Bá, mộ Sơn Bá nứt ra, Chúc Anh Đài nhảy vào mộ
  • Phần tái hiện
    • Hóa bướm