Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018

BÔNG LÚA CHÍN LÀ BÔNG LÚA CÚI ĐẦU


BÔNG LÚA CHÍN LÀ BÔNG LÚA CÚI ĐẦU
Thành ngữ Nhật: – 実(みの)る程頭(ほどあたま)の下(さ)がる稲穂(いな.

"...Câu thành ngữ của người Nhật :"Bông lúa chín là bông lúa cúi đầu " chính là từ các thế hệ đi trước muốn răn dạy thế hệ sau hãy làm người và sống như bông lúa. Lúc bông lúa bị sâu bệnh hạt bị lép bông lúa sẽ vươn lên đứng thẳng còn khi bông lúa được mùa và trĩu bông, bông lúa sẽ cúi đầu, con người cũng vậy khi khó khăn hãy vươn lên đứng thẳng còn khi thành công hãy biết cách cúi đầu và không kiêu ngạo. 

Chính triết lý về bông lúa ấy đã được lưu truyền và làm nên một nước Nhật như ngày nay, một nước Nhật khiêm nhường, một nước Nhật biết đứng lên làm cả thế giới phải ngưỡng mộ..."


Văn hóa cúi đầu của người Nhật
"...Bông lúa chín là bông lúa cúi đầu " được người Nhật áp dụng vào rất nhiều trong cuộc sống, khi chào hỏi người Nhật dùng tư thế cúi đầu đặc biệt của mình để thể hiện sự tôn trọng đối phương. Trong rất nhiều trường hợp cúi đầu còn thể hiện sự biết ơn hay xin lỗi của người Nhật, người Nhật cúi đầu giống như bông lúa cúi đầu vậy.


MỘT BÀI CA MÙA THU BẤT TỬ




MỘT BÀI CA MÙA THU BẤT TỬ

ĐINH KỲ THANH

Trải qua bao thập niên rồi nhưng nhiều thế hệ khán, thính giả yêu nhạc Việt Nam vẫn say mê thả hồn mình vào giai điệu mượt mà, thanh khiết và quyến rũ của Phạm Duy cũng như những vần thơ tình tứ và mê đắm của Bùi Giáng qua tác phẩm “Mùa Thu chết”.
Có lẽ không một ai khi nghe bài hát này không nhớ những câu ca:
…. Ta ngắt đi một chùm hoa thạch thảo
Em nhớ cho: mùa Thu đã chết rồi….

Nhiều khán, thính giả thưởng thức bài ca bất hủ này đã không để ý tới xuất xứ kỳ lạ của nó và không hề nghĩ rằng đây chính là một minh chứng điển hình của sự kết hợp từ Thơ tới Nhạc, một sự liên kết xuyên qua không gian và thời gian của niềm cảm hứng và của sự liên tưởng thiên tài của những thế hệ tác giả sống rất cách xa nhau.

Nguyên tác ban đầu của “Mùa Thu chết” chỉ là một bài thơ ngắn mang tên L’ Adieu của nhà thơ Guillaume Apollinaire (1880–1918), một thi hào Pháp nổi tiếng sống vào đầu thế kỷ XX. Ông là một nhà thơ Pháp gốc Ba Lan có tên thật bằng tiếng Ba Lan là Wilhelm Albert Vladimir Apollinaris de War – Kostrowitcki, khi chuyển từ Ý về sống tại Paris đã đổi qua tên Pháp là Guillaume Apollinaire do sự kết hợp hai chữ Wilhelm và Apollinaris.
Bài thơ tuyệt tác L’Adieu của ông chỉ có năm câu như sau:

“ J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends”

Nhà thơ Bùi Giáng sống tại Sài Gòn trong khoảng nửa cuối thế kỷ XX đã đồng cảm tài tình với tứ thơ của đại thi hào Pháp để chuyển ngữ qua tiếng Việt thành bài thơ “Lời vĩnh biệt” đầy tính cách thơ tình Việt Nam duyên dáng như sau : 
“ Ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ chẳng tương phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian, mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé, ta vẫn chờ em đó…”

Cảm được tứ thơ của người xưa, chuyển tải tài hoa qua vần thơ tám chữ Việt Nam hết sức kiêu sa và lãng mạn, lại rất phù hợp với hơi hướng Mùa Thu hoa mộng thường được coi là mùa của chia ly và của nỗi buồn man mác lòng người, Bùi Giáng đã như truyền nguồn điện thiêng liêng gợi mở tâm hồn của Phạm Duy để người nhạc sĩ lãng mạn và đa tình này ngân rung lên giai điệu tuyệt vời da diết, khắc khoải của “Mùa Thu chết”….
Phổ thơ Bùi Giáng (phóng tác Apollinaire) song Phạm Duy đã nâng lên không cùng sự tưởng tượng với nỗi đau xa cách người yêu và khóc hận vì mùa Thu đã chết .
Lời của bài ca bỗng mở rộng và biến hóa như sau :
“ Ta ngắt đi một chùm hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi…
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho Mùa Thu đã chết…
Đã chết thật rồi…
Em nhớ cho 
Hai chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa
Trên cõi đời này…
… Từ nay mãi mãi không thấy nhau…
… Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rằng ta mãi chờ em
Mãi chờ em
Mãi chờ em
Mãi chờ
Mãi đợi….
Đợi chờ em…”
Từ bài “L’Adieu” Pháp ngữ êm đềm và truyền cảm của Guillaume Apollinaire chuyển qua thơ Việt tài tình và mê đắm của Bùi Giáng, đến bài ca “Mùa Thu chết” của Phạm Duy, tác phẩm đã có một sự “thoát xác” hoàn toàn và chuyển hóa thành một bản tình ca Việt lâm ly, tiêu biểu cho cuộc sống đô thị của miền Nam nước ta vào một thời lãng mạn song cũng còn nhiều bất trắc… 
Biết được những bước đường từ Thơ tới nhạc của bài ca này chúng ta càng thêm yêu thêm quý và trân trọng sự đồng điệu của ba tâm hồn nghệ sĩ xuyên qua không gian từ Âu sang Á và xuyên suốt thời gian từ đầu tới nửa cuối thế kỷ XX.
Mỗi độ Thu về, tiết trời se lạnh, lòng dạ bâng khuâng, tâm hồn ta chợt ngân rung lên giai điệu bài ca Mùa Thu chết của Phạm Duy chúng ta hãy kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ tới hai thi sĩ Việt và Pháp đã để lại cho chúng ta những vần Thơ bất hủ “Lời vĩnh biệt”…
----


Thứ Tư, 26 tháng 9, 2018

Phượng Thư và mệnh Hỏa (phần 2): máu đỏ của nam tính

Phượng Thư và mệnh Hỏa (phần 2): máu đỏ của nam tính

Anh Nguyễn biên soạn
(Tiếp theo phần 1 )
Hành Hỏa đứng phía Nam, màu đỏ. Nguyên quán của Phượng Thư ở tại Nam Kinh, loài vật bản mệnh của Phượng Thư là chim phượng màu đỏ trấn phía nam. Ớt (lạt tử) cũng có màu đỏ. Lần đầu Phượng Thư xuất hiện mặc áo màu đỏ rực (đại hồng,) cài trâm ngũ phượng, mắt phượng sắc sảo, khí phái như tướng soái trên sân khấu:
Chợt thấy bọn hầu đỡ một người từ phòng sau lại. Người này trang sức không giống các cô kia, gấm thêu lộng lẫy, trông như một vị thần tiên! Trên đầu, đỡ tóc bằng kim tuyến xâu hạt châu, cài trâm Ngũ Phượng Triêu Dương đính hạt châu, cổ đeo vòng vàng chạm con ly, mình mặc áo vóc đại hồng chẽn thêu trăm bướm lượn hoa bằng chỉ kim tuyến, ngoài khoác áo màu xanh lót bằng lông chuột bạch viền chỉ ngũ sắc, mặc quần lụa hoa màu cánh trả; mắt phượng, mày cong lá liễu, vóc người óng ả, dáng điệu phong lưu. 

Trang phục của Phượng Thư
Khi ở nhà Phượng Thư cũng ăn bận lộng lẫy, áo quần màu đỏ, khác hẳn người khác:
Phượng Thư ở nhà thường đội mũ Chiêu Quân lông điêu sắc tía, chung quanh có dây giắt hạt châu, mặc áo hoa màu hồng điều, khoác áo choàng bằng da chuột, viền chỉ tơ màu thạch thanh, mặc quần nền lụa đại hồng phấn son lộng lẫy, ngồi nghiêm chỉnh ở đấy, tay đương cầm cái đũa bằng đồng gạt tro lồng ấp.
Tính Hỏa của Phượng Thư còn biểu hiện qua màu đỏ của máu. Máu trong người là biểu tượng của sinh mệnh, sức khỏe. Khi Phượng Thư bắt đầu suy yếu thì máu trong người nàng cũng dần kiệt quệ vì bệnh băng huyết, để lại một Phượng Thư nhợt nhạt, không sức sống. Ngọn lửa dần bị dập tắt cũng như máu trong người Phượng Thư không ngớt tuôn chảy. Cuối cùng Phượng Thư vì bệnh tật, mất máu, cộng thêm tủi nhục mà chết năm 31 tuổi.

Phượng Thư khi bắt đầu bệnh tật, yếu ớt, trắng bệch
Theo quan hệ Tương khắc thì Thủy khắc Hỏa. Trong Hồng Lâu Mộng, Thủy là biểu tượng của nữ tính, vì thế Phượng Thư là kẻ phản nghịch giới nữ. Có nhiều dấu hiệu ám chỉ việc này. Vương Hy Phượng là tên nam giới, thậm chí trong Hồng Lâu Mộng có kể “truyện trong truyện” về một cậu học trò tên là Vương Hy Phượng lên kinh dự thi. Từ nhỏ Phượng Thư đã “giả làm trai, đi học.” Lớn lên Phượng Thư không bằng lòng đứng đầu trong giới quần thoa, trái lại, nàng muốn lấn lướt cả giới đàn ông. Dì Chu đã nhận xét về Phượng Thư: “Bề ngoài dáng điệu óng ả, tưởng chỉ là một cô gái đẹp, nhưng lại là người có đến vạn con mắt, không chỗ nào là không nhìn thấy. Còn về ăn nói thì chấp cả mười anh đàn ông mồm mép cũng phải thua.
Tần Khả Khanh khi hiện về báo mộng cũng khen ngợi Phượng Thư: “Thím là bực anh hùng trong đám phấn son, ngay bọn con trai mũ cao áo dài cũng chẳng hơn được.”
Vợ Chu Thuỵ cũng nịnh hót Phượng Thư: “Đừng nói là đàn bà làm không được, dầu cho hạng đàn ông ba đầu sáu tay cũng chưa chắc đã chống đỡ nổi.
Phượng Thư tài là thế, giỏi là thế nhưng lại phải chịu ba sự trừng phạt lớn trong đời người đàn bà Trung Hoa thời xưa: chồng chán ghét phản bội, không sinh được con trai, bị băng huyết mà chết. Đó là cái giá phải trả cho việc chối bỏ nữ tính, làm loạn âm dương. Theo y học Trung Quốc, bệnh tật xảy ra khi âm dương không cân bằng. Phượng Thư thừa dương (nam tính) mà lại thiếu âm (nữ tính.) Hỏa quá vượng mà lại không có thủy trị nên bệnh càng tăng. Triệu chứng “âm hư hỏa vượng” của Phượng Thư có ba nguyên do chính.
Thứ nhất, hành vi, cử chỉ của Phượng Thư thường thiên về nam tính hơn là nữ tính, ví dụ như:
– Ở nhiều chương trong truyện, nàng uống rượu chẳng kém gì giới mày râu. Già Lưu, Sử Tương Vân say rượu đi tìm chỗ ngủ, còn Phượng Thư say thì… nóng máu, đánh nhau.
– Trái với những người đàn bà quý tộc thường mê tín, Phượng Thư lại không tin vào tâm linh. Ở chương 15, nàng nói với sư am Thúy Nguyệt: “Xưa nay ta chẳng tin sự báo ứng âm ty địa ngục gì cả. Bất cứ việc gì ta đã làm là làm.” 
– Nàng cũng không nhút nhát, e thẹn như những chị em khác. Ở chương 13, “Nghe người báo: “Ông vào!”, các bà các chị nhớn nhác lẩn vào phía sau, chỉ có Phượng Thư thong thả đứng dậy.
Các tiểu thư trong Giả phủ đa phần đều văn nhã thanh tao, nhưng lửa hoang dại chứ không mềm mại như nước, như cây, thế nên Phượng Thư hầu như không biết chữ. Trong cuộc sống hàng ngày, mồm miệng nàng cay nghiệt và có ba phần thô tục. Giả Mẫu cũng nhận xét: “Con Phượng ăn nói như Hạng Võ.”

Phượng Thư xinh đẹp nhưng chữ nghĩa biết rất ít, văn thơ không thạo, công việc trong nhà đa phần dựa vào trí nhớ tốt mà giải quyết
Thứ hai, dường như Phượng Thư có ý muốn vô thức “ví đây đổi phận làm trai được.” Ở chương 46, Phượng Thư nói với Giả Mẫu về Uyên Ương: “Ai bảo bà khéo chải chuốt cho người? Chải chuốt đến nỗi nó đẹp mơn mởn lên, trách nào người ta chả thích? May cháu là dâu đấy, chứ là cháu trai, thì cháu đòi bà đã lâu rồi, không còn chờ đến bây giờ. Để cháu tu hết kiếp này, đến kiếp sau được làm con trai, cháu mới cần đến nó.” 
Thứ ba, chúng ta còn chứng kiến Phượng Thư nhiều lần đảm nhận vai trò đàn ông trong gia tộc. Ở chương 40, nhân ngày Tết trong Đại quan viên, nàng lên đứng đầu thuyền dùng sào chở thuyền đi, bất chấp Giả Mẫu can ngăn. Ở chương 54, nàng khoe với Vưu thị rằng mình “đốt pháo giỏi hơn bọn người hầu đấy nhé.” Vì giới đàn ông trong nhà không ai kể chuyện cho Giả mẫu vui, Phượng Thư cũng đóng luôn vai diễn hài. Nàng nói: “Trong nhị thập tứ hiếu có chuyện ‘múa áo ban’, các anh ấy không mặc áo hoa múa cho cụ tôi vui thì tôi phải khó khăn mới làm cho cụ tôi cười, để ăn thêm được một ít, cho cả nhà vui mừng.” Những hành động tưởng chừng vui đùa đó thực ra báo hiệu cho quá trình tiếm quyền, lấn át phái nam của Phượng Thư. Trong mọi khía cạnh từ tài chính đến đối nhân xử thế trong gia đình, nàng đều làm chủ, bởi đàn ông nhà họ Giả người thì mải ăn chơi đàng điếm (Giả Xá), người mê luyện đan (Giả Kính), người bàng quan không để ý (Giả Chính).
Trong quan hệ Tương sinh thì Hỏa sinh Thổ, vì thế, Phượng Thư luôn che chở, bảo vệ, chăm sóc cho Bảo Ngọc – nhân vật mang mệnh Thổ và cũng là trung tâm của Ngũ hành. Nhân vật này sẽ được bàn ở bài sau.

Phượng Thư và mệnh Hỏa (phần 1): Nội vụ hai tay hai dao

Phượng Thư và mệnh Hỏa (phần 1): Nội vụ hai tay hai dao

Anh Nguyễn biên soạn
Nhân vật tiếp theo trong Ngũ hành là Vương Hy Phượng, thuộc mệnh Hỏa. Trước khi phân tích kỹ hơn, xin phép nói sơ lược về sự tiến triển trong cách nhìn của độc giả đối với Vương Hy Phượng.

Phượng Thư giữ tiếng nói quan trọng trong nhà họ Giả
Vương Hy Phượng, hay còn được gọi với cái tên Phượng Thư, Phượng ớt (lạt tử) là nữ nhân quan trọng thứ ba trong Hồng Lâu Mộng. Từ thế kỷ 19 đổ về trước, xu hướng chung coi Phượng Thư là nhân vật phản diện, thường so sánh nàng với Tào Tháo. Thế nhưng bước sang thể kỷ 20, Phượng Thư được các nhà phê bình “xét lại” với cái nhìn đa chiều hơn, sự ái mộ của người đọc với nàng cũng từ đó tăng theo. Một cuộc khảo sát vào năm 1935 của giáo sư văn học Triệu Cảnh Thâm tại đại học Phúc Đán, Thượng Hải cho thấy Phượng Thư được yêu thích chỉ sau Bảo Thoa và Đại Ngọc. Tầm ảnh hưởng của Phượng Thư với văn hóa đương đại Trung Quốc có không ít phần là nhờ yếu tố chính trị, có thể kể ra ba lý do chủ đạo:
Thứ nhất, tính cạnh tranh khốc liệt, chủ nghĩa kim tiền trong xã hội Trung Quốc khiến kiểu người như Phượng Thư trở thành hình mẫu tinh thần, những ai cảm thấy bị chà đạp, thiếu tự tin cũng có thể nhìn vào bản lĩnh của Phượng Thư mà khích lệ bản thân tiến lên. Lâm Đại Ngọc, Giả Bảo Ngọc tái sinh chưa chắc đã tồn tại được trong môi trường hiện nay, nhưng Phượng Thư lại có thể thích nghi rất tốt.

Phượng Thư điều hành cơ nghiệp nhà họ Giả, nhưng cũng không ít lần vì tư lợi mà làm chuyện xấu
Thứ hai, tư tưởng giải phóng phụ nữ, trai gái bình đẳng lan rộng khiến Phượng Thư bỗng trở thành “nữ anh hùng” thách thức tầng lớp nam trị. Một người phụ nữ lại có thể quyền biến như vậy, khiến bao gã đàn ông nghiến răng tức mà không làm được gì, quả khiến cho người ta hả dạ. Nàng bị chê là độc ác, nhưng thử hỏi thời phong kiến Trung Quốc có người đàn bà nào đứng trên đỉnh cao mà không có vài phần nhẫn tâm, thủ đoạn? Những hành động của nàng từng bị coi là đảo ngược tôn ti trật tự, giờ đã trở thành tích cực, có tính đấu tranh.
Thứ ba, Phượng Thư được sự ủng hộ của nhân vật quyền thế nhất Trung Quốc thế kỉ 20 – Mao Trạch Đông. Mao Chủ tịch là một người có tiếng là say mê Hồng Lâu Mộng, ông từng nói rằng phải đọc Hồng Lâu Mộng ít nhất năm lần mới nên mở miệng bình luận về nó. Lúc sinh thời Mao hết sức yêu thích Phượng Thư, thậm chí còn tuyên bố, Phượng Thư có thể đảm nhiệm vai trò bộ trưởng bộ Nội vụ một cách xuất sắc. Nhận xét về cái tài của Phượng Thư, Mao gọi đó là khả năng “hai tay cầm dao giết người mà không rơi một giọt máu.” Vùng Hồ Nam quê Mao Trạch Đông lại nổi tiếng về đặc sản ớt cay xé lưỡi. Người Trung Quốc có câu “Người Tứ Xuyên không sợ cay, người Hồ Nam sợ không cay.” Mao Trạch Đông rất tôn sùng ớt, ông từng nói: “Không ăn được ớt thì không làm được cách mạng!” Sự yêu thích của Mao Trạch Đông với Phượng ớt khiến số lượng công trình nghiên cứu về nàng tăng vọt.

Mao Trạch Đông đọc Hồng Lâu Mộng
Có thể dễ dàng nhận thấy vì sao Phượng Thư chiếm được cảm tình của đông đảo người đọc. Từ thời thượng cổ, lửa đã mang tới hơi ấm và sự sống cho loài người, và cũng có thể trở thành vũ khí hủy diệt, bạo tàn. Lửa mau bùng lên song lại khó kiểm soát. Giống như ngọn lửa, Phượng Thư mang trong mình sự quá khích, cực đoan, hấp dẫn người khác nhưng cũng mau thiêu đốt họ. Người mệnh Hỏa thường có tính cách bốc đồng, cuồng nhiệt, đi kèm với nóng nảy và khắt khe. Họ thường giữ vai trò lãnh đạo, có khả năng truyền cảm hứng, lôi kéo số đông, kèm theo đó là thói bất chấp hậu quả, liều lĩnh, dễ gây rắc rối. Phượng Thư là quản gia của nhà họ Giả, có thể nói là trên muôn người. Nàng được Giả mẫu và Vương phu nhân thương yêu, là tay hòm chìa khóa, song cũng có vô số kẻ nghiến răng căm hận, muốn nuốt sống nàng. Những quyết định sai lầm trong việc cho vay nặng lãi, hại người của Phượng Thư góp phần biến tiền đồ của gia tộc thành tro bụi.
Mệnh Hỏa của Phượng Thư còn thể hiện qua tính hai mặt giống như lửa. Lửa có vẻ đẹp huyền bí, quyến rũ, nhưng chạm tay vào là bỏng. Phượng Thư cũng Mặt phấn đầy xuân trông vẻ dịu. Làn son chưa hé miệng như cười, có điều ẩn bên dưới là dao găm sắc nhọn. Sự tàn nhẫn của Phượng Thư đã trở thành huyền thoại trong Hồng Lâu Mộng. Nàng nghiệt ngã với tất cả: từ chồng (Giả Liễn) cho tới con em trong nhà, từ người hầu thân tín nhất (Bình Nhi) đến những kẻ nô bộc khác.
Phượng Thư mắng Giả Hoàn:
Mày là hạng người không có khí phách gì cả. Ta thường bảo mày muốn ăn, muốn uống, muốn chơi gì tùy ý, trong các anh, các chị, ưa người nào thì chơi với người ấy, mày không nghe lời, lại cứ đi nghe hạng người bậy bạ, ranh mãnh. Mình không biết tự trọng mình, chỉ theo lối hạ lưu bừa bãi, lại còn oán người ta đối đãi thiên lệch với mình. Thua có mấy đồng mà đến nỗi thế à? Thua hết bao nhiêu? Từ rầy mày còn giữ lối quỉ quái như thế, ta sẽ đánh trước rồi mách bên trường học cho người ta lột da ra! Vì mày không biết tự trọng, nên anh Bảo giận mày lắm. Nếu tao không can thì anh mày đã đá cho mày lòi ruột ra rồi. Thôi! Cút đi!
Phượng Thư đánh ghen:
Phượng Thư ngồi ngay ở trên thềm, bắt đứa bé quỳ xuống, rồi hét bảo Bình Nhi:
– Bảo hai đứa hầu ở cửa ngoài mang thừng roi vào đây, đem con ranh con này đánh chết đi cho tao. Nó chẳng biết tao là ai à?
Đứa bé hồn vía lên mây, vừa khóc vừa van lạy xin tha.
[…]
Đứa bé trước còn chối cãi, sau thấy Phượng Thư bảo nung đỏ thanh sắt dí vào mồm, nó mới khóc nói:
[…]
Nói xong, lấy cái trâm ở trên đầu ra đâm vào mồm đứa bé. Nó sợ quá, vừa tránh vừa khóc:
[…]
Phượng Thư quát:
– Từ nãy mày làm gì? Bây giờ tao trông thấy rồi, mày mới tìm cách đổ quanh.
Nói xong, giơ tay tát một cái, làm cho đứa hầu ngã lạng choạng
[…]
Phượng Thư nghe nói, tức run người lên. Lại nghe thấy họ đều khen Bình Nhi, liền ngờ cho Bình Nhi ngày thường vắng mình, chắc cũng ngỏ lời oán trách. Hơi rượu càng hăng lên, không nghĩ ngợi gì cả. Phương Thư quay ngay người lại tát Bình Nhi hai cái; đạp cửa vào, không nói năng gì, túm lấy vợ Bão Nhị đánh xé. Lại sợ Giả Liễn trốn đi, liền đứng chặn lấy cửa và mắng:
– Con đĩ này! Mày đã cướp chồng chủ mày, lại định giết cả vợ chủ mày nữa à! Bình Nhi lại đây! Bọn đĩ này cùng về hùa với nhau để hại ta! Ngoài mặt thì vẫn thơn thớt dỗ dành ta.
Nói xong lại đánh Bình Nhi mấy cái.

Phượng Thư đánh ghen
Về sau vợ Bão Nhị treo cổ tự sát vì nhục nhã, Vưu Nhị Thư cũng nuốt vàng chết do bàn tay ghen tuông của Phượng Thư sắp đặt. Đấy là chưa kể Giả Thuỵ vì mưu hiểm của Phượng Thư mà lìa đời. Mao Trạch Đông đã nhận xét: “Nhìn mà xem, cô ta bỡn cợt Giả Thuỵ vào chỗ chết mà y không hay biết.” Kết cục bi thảm của Đại Ngọc cũng một phần do kế “tráo giường đổi cột” của Phượng Thư. Có thể nói Phượng Thư là nhân vật gây ra nhiều đau khổ nhất trong Hồng Lâu Mộng. Đó là khía cạnh hủy diệt, ghê gớm của Hỏa.

Phượng Thư mồi chài Giả Thuỵ
Lửa hại người, nhưng cũng có thể quay lại thiêu đốt chính kẻ mang nó. Ở chương 25 Phượng Thư bị lời nguyền của phù thuỷ khiến “tâm thần mê mẩn, nằm vật vã trên giường, người nóng như lửa, nói lảm nhảm chẳng biết tý gì.” Có thể nói chất Hỏa trong Phượng Thư đã phản bội lại nàng.
(Còn tiếp )

“Hận Phượng Thư, mắng Phượng Thư, không thấy Phượng Thư lại nhớ Phượng Thư”

“Hận Phượng Thư, mắng Phượng Thư, không thấy Phượng Thư lại nhớ Phượng Thư” 

Anh Nguyễn
… đó chính là lời bình luận về nhân vật Vương Hy Phượng của Vương Côn Luân – tác giả cuốn Hồng lâu mộng nhân vật luận đồng thời là Chủ nhiệm Ban cố vấn bộ phim Hồng lâu mộng nổi tiếng. Vương lão gia là nhà Hồng học gạo cội, một câu nhận xét của ông đã khái quát thật chuẩn sức hấp dẫn của “Phượng lạt tử.” Ghét Phượng Thư vì nàng  ta thơn thớt lấy lòng Giả Mẫu và Vương phu nhân, vì tính cách tàn độc ám hại Vu tam thư, vì nhẫn tâm bày kế “tráo rường đổi cột” đẩy cô Lâm vào chỗ chết, nhưng mỗi khi “Mặt phấn đầy xuân trông vẻ dịu. Làn son chưa hé miệng như cười” xuất hiện trên trang giấy là cả người đọc lẫn những nhân vật trong truyện đều không thể không dán mắt vào nàng ta, lắng tai nghe xem cái miệng đẹp đẽ mà điêu ngoa kia thốt ra những lời gì!

Vương Hy Phượng. Hình từ Internet
Trong số những người đẹp như hoa của Hồng Lâu Mộng, có lẽ Phượng Thư là nhân vật được nhắc đến nhiều nhất, chỉ sau Đại Ngọc. Vì sao vậy? Thật đơn giản, bởi trong các nữ nhân của Hồng Lâu Mộng, hai nhân vật này là biểu hiện rõ nhất của sự bứt phá quy củ truyền thống. Đại Ngọc bên ngoài yếu mềm nhưng là người con gái mạnh mẽ trong tình cảm, dám sống dám yêu, còn Phượng Thư là người đàn bà thuộc hàng “nữ lưu hào kiệt” trong Giả phủ, nam nhân không có ai bằng. Chỉ bằng nội hai nhân vật này thôi đã đủ để vinh danh Tào Tuyết Cần là một nhà nữ quyền trong văn học!
Nói về cái giỏi của Phượng Thư thì không kể xiết. Phượng Thư không phải người văn hay chữ tốt nhưng lại rất khôn ngoan, bản thân nàng luôn bô bô tự nhận mình là người tục, nhưng tinh ranh lại chẳng ai bằng. Theo tôi, cái khéo của Phượng Thư thể hiện ngay khi nàng ta xuất hiện những trang đầu tiên:
Hy Phượng cầm tay Đại Ngọc, nhìn kỹ một lúc rồi dắt đến cạnh Giả mẫu, cười nói:
– Trong thiên hạ lại có người đẹp như thế này! Bây giờ cháu mới được thấy! Trông hình dáng con người, ai cũng cho là cháu nội của bà, chứ không phải là cháu ngoại. Chả trách ngày nào bà cũng nhắc đến, chỉ đáng thương là em tôi vất vả, sao cô tôi lại mất sớm thế!
Nói xong lấy khăn mặt lau nước mắt. Giả mẫu cười nói:
– Ta vừa mới khuây đi, mày lại còn gợi ra. Em nó ở xa mới đến, người lại yếu, nên an ủi nó, đừng nói chuyện buồn nữa.
Vương Hy Phượng nghe xong, đổi buồn làm vui, nói:
– Phải đấy! Cháu vừa trông thấy, bụng để cả vào cô em, vừa vui vừa buồn, quên hẳn là. Đáng đánh đòn!
Rồi nắm tay Đại Ngọc nói:
– Em bao nhiêu tuổi? Đã đi học chưa? Hiện đang uống thuốc gì? Ở đây đừng nhớ nhà nhé! Muốn ăn gì, chơi gì em cứ bảo chị. Bọn người nhà có hỗn láo thì mách chị.
Hy Phượng lại hỏi người nhà:
– Những hành lý của cô Lâm đã mang vào chưa? Cô Lâm mang mấy người theo hầu? Các người hãy dọn hai gian buồng cho họ vào nghỉ.
Thật đon đả, ngọt ngào biết bao! Nếu chỉ mới đọc tới đây, người đọc cũng như Lâm Đại Ngọc ắt nghĩ rằng Phượng Thư hiền dịu như cô Tấm vậy. Ai có thể ngờ được đây cũng là con người chua ngoa cay nghiệt đến mức Bình Nhi là người thân tín nhất, trung thành nhất với cô ta cũng từng bị đánh đập không thương tiếc. Bởi vì sao mà Phượng Thư lại thân thiết, chiều chuộng Đại Ngọc, một đứa trẻ mồ côi, không tiền bạc, không quan hệ máu  mủ với cô ta? Đơn giản vì Phượng Thư thấy rõ tình thương của Giả Mẫu với đứa cháu ngoại côi cút, mà trong Giả phủ, ý muốn của Giả Mẫu chính là thánh chỉ. Vị trí quản gia của Phượng Thư trong nhà không chỉ dựa vào tài năng mà có, mà chủ yếu là nhờ vào sự tin tưởng của Giả mẫu và Vương phu nhân. Bảo Ngọc vốn là hòn ngọc trong mắt Giả mẫu, Phượng Thư thì hết lòng chiều chuộng Bảo Ngọc. Bây giờ lại có Đại Ngọc xuất hiện, Phượng Thư đánh giá tình huống rất nhanh, đi tắt đón đầu khiến Giả mẫu càng vui lòng. Đó chính là cái tài của nàng ta. 

Phượng Thư thường luôn ở bên hầu hạ làm vui Giả mẫu
 Phượng Thư không chỉ có tài mà còn là người độc ác. Trong mười hai thoa,  nàng là kẻ có tâm địa dã man nhất. Vì sao tôi nói Phượng Thư dã man? Vì nàng đem việc hành hạ người khác làm thú vui, kể cả những người không hề có ý hãm hại nàng.  Ví dụ rõ nhất có lẽ là cách nàng đối xử với Giả Thụy. Tội lỗi lớn nhất của y là hâm mộ sắc đẹp Phượng Thư. Tội lỗi thứ nhì của y là ngu ngốc, hay còn gọi nôm na là “dại gái.”
Vừa nói, mắt hắn vừa chòng chọc nhìn Phượng Thư.
Phượng Thư là người thông minh, thấy dáng bộ ấy đã đoán được tám chín phần, liền nhìn Giả Thụy, giả cách mỉm cười, nói:

– Không trách anh chú thường nhắc đến chú luôn, bảo chú tốt lắm. Nay được gặp, nghe nói mấy câu, biết ngay chú là người thông minh hòa nhã. Bây giờ tôi phải đến chỗ các bà, không tiện nói chuyện. Lúc nào rỗi, chúng ta lại sẽ gặp nhau.


Giả Thụy nói:


– Tôi muốn đến thăm chị, nhưng sợ chị trẻ tuổi không chịu tiếp khách dễ dàng.


Phượng Thư lại giả cách cười nói:


– Chỗ anh em ruột thịt trong nhà, sao lại nói trẻ tuổi với không trẻ tuổi?


Giả Thụy nghe thế, trong bụng mừng thầm: “Không ngờ hôm nay lại có cuộc gặp gỡ lạ lùng thế này!” Tình cảnh ấy càng làm cho Giả Thụy ngẩn ngơ ngơ ngẩn.
Phượng Thư lại nói:

– Thôi, chú vào tiệc ngay đi. Coi chừng họ lại bắt uống phạt đấy!


Giả Thụy nghe xong, tê tái cả người, đi chầm chậm rồi cứ quay đầu lại nhìn. Phượng Thư cố ý đi thong thả. Thấy hắn đi xa rồi, trong bụng nghĩ: “Thế mới là: Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao? Đâu lại có hạng người chó má như thế! Nếu vậy có lúc nó phải chết với ta cho nó biết tay!”
Phượng Thư là một người đẹp thuộc hàng nhất trong Hồng Lâu Mộng. Đây quyết không phải lần đầu tiên có nam nhân bị “khổ người óng ả, dáng vẻ phong lưu” của nàng ta quyến rũ. Ở đây có hai vấn đề cần bàn: một là, trong việc Giả Thụy to gan lả lướt với Phượng Thư có phải hoàn toàn là lỗi của y không? Hai là, kể cả y có bị nàng ta mê hoặc thì tội đó có đáng chết không? Vấn đề một, rõ ràng Phượng Thư hoàn toàn có thể nghiêm mặt khước từ Giả Thụy, đảm bảo y có ăn gan hùm cũng không dám làm liều. Rõ ràng Phượng Thư ý thức được hấp lực của mình với một thanh niên trẻ tuổi và thích thú khai thác sự chú ý của hắn. Nếu thay Bảo Thoa, Đại Ngọc, Thám Xuân vào vị trí Phượng Thư, chắc chắn họ sẽ không giả lả đưa đẩy với Giả Thụy như vậy. Vấn đề hai, Giả Thuy là một thanh niên máu nóng, bất chợt gặp một thiếu phụ đẹp lại tỏ ý ưa hắn ta, nếu có mừng rỡ tiến tới thì cũng không thể trách, cùng lắm chỉ đáng bị ăn vài bạt tai. Chính Tào Tuyết Cần cũng tỏ ý “bênh” Giả Thụy trong tên đầu chương (Giả Thiên Tường chết oan, soi gương phong nguyệt).  Ý định “cho mày chết” của Phượng Thư đã biểu hiện khía cạnh thích làm người khác đau đớn (sadistic) của nàng. Đây là một điểm khiến người đọc rất khó hoàn toàn thông cảm với số phận bi đát của nàng. Trong mười hai thoa, nàng cũng chỉ xếp thứ chín, sau Xảo Thư (con gái nàng), Lý Hoàn (bà góa), và Tần Khả Khanh (dâm phụ.) 
Giả Thụy tưởng tượng được ân ái với Phượng Thư trong gương
Đây là lá số tiền định của Vương Hy Phượng trong hồi thứ năm:

Chim phượng kìa sao đến lỗi thời
Người đều yêu mến bực cao tài
Một theo hai lệnh, ba thôi cả
Nhìn lại Kim Lăng luống ngậm ngùi
Trong nguyên tác Tào Tuyết Cần viết: “Phàm điểu thiên tòng mạt thế lai,” dùng biện pháp chiết tự ghép hai chữ “phàm,””điểu” thành chữ Phượng. Bản dịch tiếc thay không truyền tải được điều này, làm lộ thiên cơ. Câu thứ ba là một câu sấm ngữ “nhất tòng, nhị lệnh, tam nhân mộc”, đại ý lúc đầu nói gì cũng được người nghe răm rắp, cuối cùng cũng bị bỏ rơi, đây chính là ám chỉ số phận về cuối của Phượng Thư. Lá số của Phượng Thư lại có hình một con chim phượng trên ngọn núi băng – đã là băng thì có cao mấy cũng phải tan chảy. Phượng Thư đứng trên cao uy nghi lộng lẫy nhưng khi ngọn núi băng – Giả phủ tan rã thì nàng cũng bị ruồng bỏ. Có thể coi Phượng Thư là người đầy tớ trung thành của giai cấp phong kiến. Phượng Thư trên đội dưới đạp, hết lòng phục vụ kẻ trên, bắt nạt người dưới, ung dung ở giữa thu lợi, nhưng kết cục của nàng cũng không ra gì. Vì sao Tào Tuyết Cần lại để nhân vật tài năng, sắc sảo như Phượng Thư kết thúc một cách hẩm hiu như vậy?
Lý do thứ nhất, nhân vật Phượng Thư chính là ẩn dụ cho Giả phủ. Khi nàng mới xuất hiện, khí thế chẳng khác gì tướng soái, trang sức như một vị hoàng hậu nương nương:
“Người này trang sức không giống các cô kia, gấm thêu lộng lẫy, trông như một vị thần tiên! Trên đầu, đỡ tóc bằng kim tuyến xâu hạt châu, cài trâm ngũ phượng Triệu Dương đính hạt châu, cổ đeo vòng vàng chạm con ly, mình mặc áo vóc đại hồng chẽn thêu trăm bướm lượn hoa bằng chỉ kim tuyến, ngoài khoác áo màu xanh lót bằng lông chuột bạch viền chỉ ngũ sắc, mặc quần lụa hoa màu cánh trả.”
Đó cũng trùng với giai đoạn thịnh vượng của nhà họ Giả. Nhưng cũng giống như Phượng Thư bên ngoài đẹp đẽ mà bên trong xấu xa, Giả phủ hào nhoáng thực ra cũng thối nát từ bên trong: nào là loạn luân, bóc lột, nào là lừa gạt, tự sát,…  Cuối cùng Giả phủ và Phượng Thư đều bị chà đạp bởi chính những nghiệp chướng họ tạo ra. Sự tan vỡ của Giả phủ cũng như cái chết của Phượng Thư là không thể tránh khỏi.

Nhan sắc Phượng Thư thường được mô tả lộng lẫy rực rỡ cầu kì
Lý do thứ hai, Phượng Thư là một nhân vật vượt qua lễ giáo. Cái tội lớn nhất của Phượng Thư không phải ghen tuông, đáo để, hay tham lam, mà là quá khôn ngoan tài giỏi.  Tào Tuyết Cần cố tình để những người đàn ông trong phủ Giả đều là những kẻ bất tài: kẻ thì mơ mộng như Bảo Ngọc, người thì thiếu thực tế như Giả Chính, kẻ thì dâm ô hưởng lạc như Giả Xá, không có nổi một mống đảm đương nổi việc lớn. Nếu Đại Ngọc là số một về khoản văn chương thì Phượng Thư là kẻ tháo vát nhất Giả phủ. Thế nhưng trong bối cảnh phong kiến thì một người đàn bà mà lại giỏi giang hơn tất thảy đàn ông là một điều không thể chấp nhận nổi. Để cảnh cáo Phượng Thư, tác giả để nàng khốn khổ vì đường chồng con. Giả Liễn là một kẻ đa tình nhưng đối với vợ lại chẳng có chút thương yêu tôn trọng. Phượng Thư cũng không thể sinh con trai và sức lực của nàng bị phá hủy bởi bệnh rong kinh. Như tất cả những điều khác trong Hồng Lâu Mộng, căn bệnh của nàng cũng có ý ẩn dụ. Phượng thư bị mất máu trong nhiều tháng ròng – căn bệnh đó là sự trừng phạt bản thể phụ nữ của nàng, oái oăm thay, chính vì nàng không chịu ngoan ngoãn theo khuôn phép phụ nữ “bất tài mới là có đức.”  Bệnh mất máu cũng là biểu tượng cho quá trình dần dần cạn kiệt năng lượng của  Phượng Thư và Giả phủ. Ở đầu truyện Phượng thư là con chim phượng rực lửa, đến cuối truyện nàng chỉ còn là cái bóng nhợt nhạt của chính mình.
Phượng Thư đánh đập Bình Nhi. Theo phong tục Trung Quốc, con gái nhà quyền quý khi xuất giá thì người nữ tì thân cận nhất cũng trở thành nàng hầu của chồng. Bình Nhi là người tận tụy với Phượng Thư nhất nhưng vẫn là nạn nhân mỗi khi nàng Phượng ớt nổi cơn ghen
Học giả Vương Bá Hàng đã so sánh Phượng Thư với Võ Tắc Thiên và Từ Hi thái hậu và kết luận rằng: hệ tư tưởng phong kiến không thể cho phép những người phụ nữ có quyền lực tồn tại một cách bình thường mà phải bằng mọi cách tô vẽ họ thành những nhân vật phản diện. Nói nào ngay, trong thời hiện đại mà chúng ta đang sống cũng có không ít trường hợp những người phụ nữ quá xuất chúng bị chê trách, dèm pha. Sự thoái trào của những triều đại Trung Quốc cũng thường được đổ tại cho Đát Kỷ, Bao Tự. Những truyền thuyết về sự trụy lạc của Võ hậu và Từ Hi, cũng như những khía cạnh tiêu cực Tào Tuyết Cần dành cho Vương Hy Phượng chính là biểu hiện cho nỗ lực “bêu xấu” đó.

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2018

Bảo Thoa và mệnh Kim: hoa mai ấm trong tuyết lạnh

Bảo Thoa và mệnh Kim: hoa mai ấm trong tuyết lạnh

Anh Nguyễn
(Tiếp theo bài : Bảo Thoa mệnh kim)
Nhân vật nữ quan trọng thứ hai trong Hồng Lâu Mộng là Tiết Bảo Thoa, thuộc mệnh Kim. Tên nàng có nghĩa là chiếc thoa quý, trên cổ lại đeo chiếc khóa vàng khắc tám chữ bất ly bất khí, phương linh vĩnh kế. Tám chữ này hợp với tám chữ trên viên ngọc của Bảo Ngọc mạc thất mạc vong, tiên thọ hằng xương, vì thế cuộc hôn nhân của hai người bọn họ còn được gọi là kim ngọc lương duyên. Theo bài thơ ở đầu hồi thứ 8 thì Bảo Thoa chính là “kim nương” sánh vai cùng “ngọc lang” Bảo Ngọc. Trong ngũ phúc (Thọ, Khang, Ninh, Phú, Quý) thì mệnh Kim ứng vào Phú, vì vậy gia tộc Bảo Thoa giàu có ức vạn. Tuy nhiên các sự kiện trong Hồng Lâu Mộng, hầu hết đều tuân theo quy tắc “vật cực tất phản” nên tài sản nhà Bảo Thoa rốt cuộc cũng tiêu tán hết.

Bảo Thoa cho Bảo Ngọc xem chiếc khóa vàng
Khi Bảo Thoa lần đầu xuất hiện, phục trang nàng nhã nhặn nhưng vẫn điểm chút ánh kim:
Bảo Thoa đương ngồi trên giường thêu kim tuyến, đầu vén, tóc đen nhánh, mặc áo bông màu gụ, cái khoác vai màu tím nhạt viền kim ngân tuyến, quần lụa bông lót màu vàng. Tất cả đồ mặc đều đã rung rúc, giở cũ giở mới, nhìn không có vẻ xa hoa mà lại thêm nhũn nhặn, môi không tô mà đỏ, mày không kẻ vẫn xanh, mặt như mâm bạc, mắt sáng long lanh.

Tranh vẽ Bảo Thoa
Trắng là màu bản mệnh của người mệnh Kim. Các loại hoa lấy nhụy trong thuốc Lãnh Hương Hoàn của Bảo Thoa đều có màu trắng: mẫu đơn trắng, sen trắng, phù dung trắng, hoa mai trắng, tất cả được nhào với đường trắng.

Bốn loại hoa trong Lãnh Hương Hoàn
Đối trọng với cảnh “Đại Ngọc chôn hoa” là “Bảo Thoa đùa bướm trắng.”

Bảo Thoa bắt bướm ở đình Trích Thuý, được ví với Dương Quý phi
Trong Hồng Lâu Mộng có ba khoảnh khắc Bảo Ngọc bị quyến rũ bởi nhan sắc Bảo Thoa, và chúng đều có liên quan đến màu trắng.
Ở chương 28:
Nhưng vì Bảo Thoa da thịt nõn nà, mập mạp, tháo mãi không được. Bảo Ngọc đứng bên cạnh thấy bắp thịt trắng muốt, đâm ra thèm muốn, nghĩ thầm: “Nếu cái bắp tay này mà ở vào người cô Lâm, may ra có lúc được mó một cái; nhưng lại ở vào tay cô Bảo thì ta thực là kém phúc”. Chợt nghĩ đến chuyện vàng và ngọc, Bảo Ngọc ngắm nghía đến dáng điệu Bảo Thoa, thấy da mặt nõn nà, khóe mắt long lanh, không đánh sáp mà làn môi vẫn đỏ, không kẻ mày mà nét ngài vẫn xanh, so với Đại Ngọc lại có vẻ phong lưu thùy mị riêng, Bảo Ngọc bất giác đứng ngẩn người ra.
Ở chương 97:
Bảo Ngọc trừng mắt nhìn, thấy giống như Bảo Thoa, trong bụng không tin, một tay cầm đèn, một tay dụi mắt, trông kỹ lần nữa, thì chẳng phải Bảo Thoa là gì! Thấy cô ta ăn mặc lộng lẫy, thân thể đẫy đà, mái tóc rủ nghiêng, mặt mày e lệ. Rõ ràng:
Vẻ thanh nhã bông sen sương rủ,
Dáng yêu kiều hoa hạnh khói lồng.
(Trong nguyên tác là “hà phấn lộ thùy”, có nghĩa “sen hồng đẫm sương rủ xuống.”
Ở chương 110:
Bảo Ngọc nhìn thấy cô ta, cũng khôn xiết đau lòng, nhưng tới khuyên thì không tiện, thấy cô ta án mặc đồ trắng, son phấn không xoa, mà so với lúc chưa đi lấy chồng còn đẹp hơn nhiều. Ngoảnh lại, thấy bọn Bảo Cầm cũng đều ăn mặc đồ trắng mà phong vận tuyệt vời. Riêng nhìn đến Bảo Thoa thì thấy chị ta mặc toàn đồ tang, cái dáng điệu phong nhã so với khi ăn mặc hoa hòe lại càng khác hẳn. Bảo Ngọc nghĩ bụng: “Người xưa nói: muôn hồng ngàn tía. rút cục phải nhường hoa mai làm đầu. Xem ra thì chẳng những hoa mai nở sớm, mà bốn chữ “Sạch, trắng, trong, thơm” thật không có gì bì kịp.
Hành Kim chủ về mùa thu. Mệnh của Bảo Thoa vì thế cũng gắn với thu, nhưng vì có “tuyết” nên là giai đoạn thu chớm đông giá rét chứ không phải thu lá vàng phe phẩy. Trong hội đố đèn, câu đố của Bảo Thoa có đoạn: “Ân ái phu thê bất đáo đông” (Ái ân vợ chồng không kéo dài đến mùa đông) ám chỉ rõ về tiết thu muộn. Loài cỏ hành vu trong khu vườn của Bảo Thoa có hương thơm mát như hoa mai và chỉ nở hoa trắng về cuối thu, đầu đông. Cái lạnh của Bảo Thoa đã được chúng ta bàn kỹ lưỡng nên có lẽ không cần nói thêm nữa.
Sự liên kết của Bảo Thoa và mùa thu còn được thể hiện rõ qua bài thơ Bàng giải vịnh (Vịnh cua) được giải quán quân của nàng:
Chén mời dưới bóng quế đồng,
Trùng dương khao hát, khắp vùng Trường An,
Trên đường nào thấy dọc ngang,
Khen chê chỉ thấy đen vàng trông ra.
Rửa tanh rượu với cúc xoa, 
Muốn phòng chứng lạnh thì ta thêm gừng,
Vò dốc cạn mùi còn chăng?
Bến trăng kia những lúa lừng mùi thơm.

Cua và hoa cúc
là chủ đề mùa thu ưa thích của hội hoạ và văn chương Trung Quốc
Những hình ảnh cây ngô đồng, hoa quế, tiết Trùng dương, thịt cua, rượu cúc, lúa thơm, trăng sáng góp phần dựng lên một bức tranh mùa thu lãng mạn. Trong bài thơ còn có ý tứ mai mỉa giai cấp thống trị, nhưng đó là chủ đề cho một bài khác.

Giới nữ nhà họ Giả quây quần ăn cua thưởng cúc, nhân đó mà làm thơ
Một bài thơ khác của Bảo Thoa lặp lại các chi tiết thu, trăng lạnh, tiết Trùng dương, hoa cúc. Mệnh Kim thuộc hướng Tây, sương mát, nên trong bài có nhắc đến gió tây và sương trong mộng.
ỨC CÚC
Ngóng gió tây về luống ngẩn ngơ,
Nhìn lau liễu tốt ruột vò tơ.
Vườn hoang, giậu vắng thu đâu nhỉ,
Trăng lạnh, sương trong mộng thấy chưa?
Lòng vướng vít theo đàn nhạn khuất,
Tai văng vẳng lọt tiếng chày thưa.
Thương mình gầy cũng vì hoa đấy,
Này tiết trùng duơng hãy đợi chờ.

Chị em trong Đại Quan viên cùng làm thơ
Mối quan hệ của Bảo Thoa và các nhân vật khác cũng tuân theo quy tắc ngũ hành. Nếu Đại Ngọc là thảo mộc mùa xuân tươi xanh thì Bảo Thoa là cành mai thu khô lạnh. Kim khắc Mộc nên họ luôn đối chọi nhau, Đại Ngọc nồng nàn bao nhiêu thì Bảo Thoa lãnh đạm bấy nhiêu. Thế nhưng chính vì “vật cực tất phản” mà Đại Ngọc không thể thọ lâu. Nàng là cây đèn cháy lên rực rỡ nhưng quá mau cạn dầu. Cuộc đời Đại Ngọc giống như cỏ cây – chỉ bừng nở tươi thắm một thời gian rồi trở về cát bụi. Không phải ngẫu nhiên mà khi Đại Ngọc (xuân) qua đời cũng là lúc Bảo Ngọc (thu) lên ngôi. “Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua. Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.”

Đại Ngọc tài hoa nhưng chết yểu
Ngược lại với Đại Ngọc, Bảo Thoa tuy bề ngoài lạnh lẽo nhưng bền bỉ và cứng cáp. Bên dưới lớp vỏ giá lạnh của nàng có tiềm tàng hơi ấm nồng cháy của sự sống.  Chính vì thế mà Bảo Thoa không những có thể sống sót qua mùa đông (gia đình suy sụp, ly tán, chồng bỏ đi) mà còn mang trong mình mầm sống của mùa xuân (có thai với Bảo Ngọc). Trong Hồng Lâu Mộng, hình ảnh hoa mai nở trên tuyết là tuyệt đích của vẻ đẹp cao quý. Tiết Bảo Thoa chính là hoa mai vững vàng, cốt cách thanh cao, bừng nở trong những điều kiện khắc nghiệt nhất.
Trăm thứ hoa trong vườn đua nở
Đã chơi hoa nên biết đủ mùi hoa 
Kìa hoa lan, hoa sen, hoa huệ, hoa trà
So sánh có mai là đệ nhất. (Thơ khuyết danh)

Vẻ đẹp cao khiết của hoa mai trong tuyết (Bảo Thoa)
Vẻ đẹp yếu đuối của hoa sen trên đầm (Đại Ngọc)
Trong mối quan hệ Tương sinh, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy. Bảo Ngọc chủ về Thổ, vì thế hai người Bảo Ngọc-Bảo Thoa kết duyên, nâng đỡ, nương tựa vào nhau. Thủy là nữ tính, nhưng khi đặt vào Bảo Thoa thì biến thể thành tuyết cứng lạnh. Nữ tính đã bị đ óng băng nên Bảo Thoa giản dị, không thích điểm trang, cũng không mềm yếu như “nữ nhân thường tình”.
Trong mối quan hệ Tương khắc, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc. Bảo Thoa (Kim) có phần lấn lướt Đại Ngọc (Mộc) nhưng lại phải chịu nhún nhường trước nhân vật có mệnh Hoả ghê gớm nhất gia tộc – Phượng Thư.
(Bài sau: Phượng Thư và mệnh Hỏa) 

Đại Ngọc và mệnh Mộc: sống như cây và chết cũng như cây

(NHTM). Share bài về cô Lâm chứ nhân vật mình thích và có nhiều điểm tương đồng lại là Vương Hy Phượng.
Phượng Thư ứng vào mệnh Hoả, dương dương tự đắc, không biết kiềm chế để lửa loạn phát tiết, rốt cuộc chết vì mất máu (thoát khí).

Đại Ngọc và mệnh Mộc: sống như cây và chết cũng như cây 

Anh Nguyễn

Theo triết học Trung Hoa, ngũ hành là năm nguyên tố cơ bản tạo nên vạn vật trong vũ trụ: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Thuyết ngũ hành diễn giải mối quan hệ và sự phát triển của con người, trời đất, cỏ cây, sự vật,… dựa trên hai nguyên lý chính là tương sinh, tương khắc. Ở bài này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các nhân vật chính của Hồng Lâu Mộng và vị trí của họ theo ngũ hành.
Đỏ: Hỏa. Trắng: Kim. Đen: Thủy. Xanh: Mộc. Vàng: Thổ
Nhân vật nữ quan trọng nhất của Hồng Lâu Mộng là Lâm Đại Ngọc, thuộc mạng Mộc. Ngay cái tên đã biểu đạt sinh mệnh: họ Lâm của nàng nghĩa là khu rừng, mà rừng chính là cây, là gỗ. Tiền kiếp của Đại Ngọc là cây Giáng Châu tiên thảo ở Tây Phương, vì được Thần Anh mưa móc mà lớn lên. Sinh nhật nàng rơi vào tháng Hai âm lịch – mùa xuân cây cỏ đâm chồi, cũng là ứng với giai đoạn “thủy sinh mộc” trong năm. Khi mới xuất hiện, dáng vẻ Đại Ngọc cũng phảng phất vẻ yêu kiều của hoa cỏ: “Vẻ thư nhàn, hoa rọi mặt hồ. Dáng đi đứng, liễu nghiêng trước gió.”

Lâm Đại Ngọc
Chưa hết, nơi Đại Ngọc ở là Tiêu Tương quán, một chốn bạt ngàn những cây trúc vằn đốm tím như những hạt nước mắt nhỏ vào. Trúc ở Tiêu Tương quán có hàm chứa ba ý nghĩa.
Thứ nhất, nó củng cố thêm vị trí mệnh Mộc của Đại Ngọc.
Thứ hai, câu chuyện về hai bà Nga Hoàng, Nữ Anh khóc vua Thuấn bảy ngày bảy đêm bên bờ sông Thương rồi quyên sinh theo chồng gợi lên sắc thái chung tình, tha thiết của Đại Ngọc. Loại trúc quý này được gọi là Tương phi trúc (湘妃竹) mà biệt hiệu của Đại Ngọc lại là Tiêu Tương phi tử, càng nhấn mạnh rõ hơn mối tương quan giữa Đại Ngọc và truyền thuyết kia.

Trúc Tương phi
Thứ ba, khu vườn trúc của Đại Ngọc được tác giả mô phỏng theo nơi ở của Trúc lâm thất hiền. Đó là bảy người tài đời Tấn gồm Nguyễn Tịch, Kê Khang,.. chán công danh bỏ lên rừng trúc ở, uống rượu ngâm thơ, tiêu dao tháng ngày. Đại Ngọc ưa tĩnh mịch, lánh xa sự đời, ghét công danh, hoàn toàn giống với triết lý sống của Trúc lâm thất hiền.
Trúc lâm thất hiền
Trong Tiêu Tương quán không chỉ có trúc mà còn có lê và chuối. Hoa lê là thứ hoa diễm lệ nhưng cũng yếu đuối bậc nhất. Hình ảnh hoa lê đẫm nước mưa đã được bất tử hóa trong văn học nhờ tác phẩm Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị: “Ngọc dung tịch mịch lệ lan can. Lê hoa nhất chi xuân đới vũ” (Lệ dàn mặt ngọc lưa thưa. Cành lê hoa trĩu giọt mưa xuân đằm. – Tản Đà dịch). Hoa lê là biểu tượng của mỹ nhân sầu bi, Đại Ngọc lại rút được thẻ hoa “sương gió buồn tênh,” thật không thể hợp hơn. Chuối (ba tiêu) là loài cây kín đáo, thanh đạm. Cây chuối ám chỉ những tâm sự giấu kín của thiếu nữ, bởi lá chuối xanh ngọc cuốn lại như phong thư. Có thể tham khảo bài thơ Vị triển ba tiêu (Cây chuối non) của Tiền Hử: “Nhất giam thư tráp tàng hà sự. Hội bị đông phong ám sách khan” (Như phong thư có ẩn tàng. Gió đông lần mở đàng hoàng cho xem).

Có thể nói ba loài thực vật trúc, lê, chuối đã góp phần vẽ lên hai bức tranh: bức tranh phong cảnh hữu tình nơi Đại Ngọc ở và bức tranh lãng mạn của tâm hồn nàng.

Đại Ngọc u buồn
Bởi Đại Ngọc là mạng Mộc nên nàng có sự thấu cảm sâu sắc với hoa cỏ, thậm chí đồng nhất bản thân với chúng. Ai có thể quên được hình ảnh Đại Ngọc chôn hoa, khóc hoa, làm bài thơ Táng hoa từ? Kết thúc bài thơ là hai câu: “Hồng nhan thấm thoắt xuân qua. Hoa tàn người vắng ai mà biết ai!” Khi giận buồn Bảo Ngọc ở chương 28, nàng ví mình với “cỏ rác,” không dám so cùng “vàng ngọc” của ai kia. Ngắm hoa lan, nàng lại nghĩ vẩn vơ: “Cỏ cây đang lúc mùa xuân hoa tươi lá tốt, nghĩ mình tuổi trẻ mà đã giống như vóc bồ liễu ba thu, nếu được như nguyện hoặc giả dần dần tươi tốt, nếu không thì chẳng khác gì hoa liễu lúc xuân tàn, chịu sao nổi mưa dồn gió dập.” Nguyên nhân bệnh tật của nàng được chẩn đoán là do: “Mộc khí không tiết ra được, thế nào cũng lấn tỳ thổ, vì thế mà ăn không biết ngon, thậm chí thắng cái không thể thắng; phế kim nhất định bị thương.” Những ví dụ như vậy xuất hiện rất nhiều lần trong Hồng Lâu Mộng.
Về quan hệ tương sinh, Thủy sinh Mộc mà Mộc sinh Hỏa. Về Thủy, có thể khẳng định rằng trong Hồng Lâu Mộng, Thủy chính là hiện thân cho tính nữ mềm mại, dịu dàng, trong sạch. Lại phải nhắc lại câu nói nổi tiếng của Bảo Ngọc: “Xương thịt con gái là nước kết thành….” Thủy sinh Mộc nên sinh mệnh của Đại Ngọc gắn bó chặt chẽ với nước. Ở tiền kiếp, cây hoa Giáng Châu nằm bên bờ Tam Sinh Thạch của sông Linh Hà ở Tây Phương. Nàng lớn lên nhờ được Thần Anh dùng nước cam lộ tinh túy chăm bón, đến khi tu luyện thành tiên lại uống nước bể quán sầu (nước để tưới sự buồn), bởi vậy mà nàng vừa tài sắc vừa sầu bi không tả xiết. Mục đích xuống trần của Đại Ngọc cũng chính là để trả món nợ chăm bón: “Chàng ra ơn mưa móc mà ta không có nước để trả lại. Chàng đã xuống trần làm người, ta cũng phải đi theo. Ta lấy hết nước mắt của đời ta để trả lại chàng, như thế mới trang trải xong!” Cây thiêng Giáng Châu tiên thảo nở hoa đỏ như máu, nàng lại tái sinh để đền nợ nước mắt, bởi thế cuộc đời nàng luôn gắn liền với huyết và lệ.
Đại Ngọc – Bảo Ngọc
Khi tái sinh ở kiếp này, Đại Ngọc đầu thai làm con của Lâm Như Hải vùng Dương Châu nhiều sông nước, chữ Hải trong tên ông cũng có nghĩa là biển cả. Nàng tới Giả phủ trên một chiếc thuyền xuôi dọc dòng sông, và trở về quê (khi đã chết) cũng bằng đường thủy, có thể nói là Đại Ngọc đến và đi như cánh hoa trôi theo dòng nước. Loài hoa ứng với nàng chính là thủy phù dung (hoa sen) mềm mại, khiến hình dung của người đọc về Đại Ngọc chẳng khác nào một nữ thủy thần. Trong bài “Hai thế giới trong Hồng Lâu Mộng”, ông Du Bình Bá đã nhận xét về cảnh Đại Ngọc chôn hoa như sau: “Hình tượng nước trong vườn Đại Quan sau khi chảy đến Di Hồng Viện lại theo tường trôi ra ứng hợp với ý của Đại Ngọc ngỏ cùng Bảo Ngọc khi chôn hoa – nước trong vườn là sạch, chỉ là khi đã chảy ra là lại nhiễm ô uế của nhà người.” Sự mẫn cảm của Đại Ngọc với nước là không thể chối cãi. Có thể nói Đại Ngọc là cô gái có nữ tính thuần khiết và đẹp đẽ nhất trong Hồng Lâu Mộng, điều đó được thể hiện qua sự liên kết mật thiết của nàng và các biểu tượng nước trong truyện.

Đại Ngọc đi chôn hoa
Về Mộc sinh Hỏa, hoa lá cỏ cây đến khi tuyệt mệnh thì cháy thành tro. Những bài thơ của Đại Ngọc dần chuyển hướng từ hoa tươi cỏ thắm đến tro tàn, khói bay khi nàng sắp lìa đời. Ngoài ra, khi làm thơ dựa theo Nam Hoa kinh, Bảo Ngọc đã viết: “... dùng tàn tro lấp khiếu thông minh của Đại Ngọc”. Ngay ở chương sau, Đại Ngọc lại làm bài thơ đố đèn với những câu:
Áo chầu đầy khói để ai mang?
Đàn đấy, chăn đây, luống bẽ bàng,
Chú lính sớm không cần đếm thẻ,
Chị hầu đêm cũng biếng thêm hương,
Vùi đầu trải biết bao hôm sớm,
Đốt ruột không nài mấy tuyết sương,
Thấm thoát bóng xuân đà đáng tiếc,
Kể gì thay đổi cuộc tang thương.
Đây chính là cái đèn canh hương, một thứ “đồng hồ” sơ khai đánh dấu bằng cách đốt các loại hương trầm. Bài thơ thất ngôn với những chi tiết ảm đạm khiến Giả Chính lo rằng Đại Ngọc sẽ không phải là người được hưởng phúc về sau. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Đại Ngọc ra lệnh đốt lò than để thiêu hủy hết những di vật của tình yêu: tập thơ, khăn tay. “Can hỏa bốc lên” khiến đôi má nàng ửng đỏ. Liền ngay sau đó, Đại Ngọc qua đời. Số phận của Đại Ngọc giống như loài thảo mộc: sinh ra vào mùa xuân, rực rỡ về mùa hạ, tàn héo vào mùa thu. Chu trình này hoàn toàn ăn khớp với vòng đời của mệnh Mộc.
Đại Ngọc thổ huyết
Về quan hệ Tương khắc, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ. Bảo Thoa thuộc mệnh Kim, Bảo Ngọc thuộc mệnh Thổ. Bảo Thoa và Đại Ngọc vì thế mãi “bằng mặt mà chẳng bằng lòng,” còn Đại Ngọc cũng gây cho Bảo Ngọc vô số nỗi khổ khó nói thành lời!
*
(Bài sau: Bảo Thoa và mệnh Kim)
Nguồn: Soi.today