Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018

Lại điểm 2.!

Картинка "Опять двойкa !" - Bức tranh "Lại điểm 2 !".
(Theo FB Nguyễn Thanh Bình)

Lại điểm 2.!
Mình biết đến tác phẩm này: "Lại điểm 2.!" khi đang học sơ trung 7 năm.
Thầy Tô Dự đã nói về nội dung tranh, giống như nhà sư phạm người Gruzia nói ...!
Nhưng chủ yếu, thầy nói về bố cục rất hay của tác phẩm: 
2 tam gác đối xứng nhau - với cô chị làm điểm cân bằng.
- Tam giác (lớn) cậu bé với con chó 
- Tam giác (nhỏ) bà mẹ và đứa em
3 chị em tạo thành một "tam giác" làm bố cục của tác phẩm trở nên kinh điển.

"Bức tranh này được vẽ không phải dành cho trẻ em. Nó được vẽ để cho người lớn. Để cho họ nhìn thấy là không nên tiếp đón một đứa trẻ như thế! Mà phải tiếp đón như con chó đang chào đón cậu bé. Con chó không quan tâm cậu bé về nhà với cái gì: về với điểm 2 hay về với điểm 5 - thì cậu vẫn là người bạn. Không nên tiếp đón trẻ em theo điểm số.
Điểm số cũng chỉ là điểm số. Liệu rồi ngày mai đứa bé điểm 2 của các bạn có làm thay đổi cả thế giới ? Đứa bé điểm 3 của các bạn có trở thành một nghị sỹ, hoặc một vị bộ trưởng, hoặc một bác sỹ giỏi ? Không phải những con số mà chính là những đối xử của chúng ta đối với đứa trẻ quyết định."
Shalva Amonashvili - Nhà sư phạm Liên Xô người Gruzia.
-------

Không mong đợi- Ilya Repin
"Lại điểm 2" là hội họa Xô Viết ...
Một tác phẩm khác của Ilya Repin sáng tác năm 1884: 
"Không mong đợi" (They did not expect him) cũng thường được đưa ra để dẫn chứng về tính hàn lâm trong các tác phẩm hội họa Nga và Xô Viết ...

Phủ Công chúa Ngọc Sơn



Phủ Công chúa Ngọc Sơn


Phủ thờ công chúa Ngọc Sơn là ngôi nhà vườn danh tiếng ở cố đô Huế, một khuôn viên biệt lập quanh năm tỏa mát bóng cây, tọa lạc nơi vùng đất Gia Hội xưa, nằm về phía đông Kinh Thành Huế.



Trong phủ thờ này hiện được con cháu các đời lưu giữ những kỷ vật của vị phò mã Nguyễn Hữu Tiễn, từ những chiếc huy chương do vua Khải Định (1916 - 1925) ban tặng, cho đến những vật dụng để giải trí của ông như bộ xăm hường bằng xương, bộ đầu hồ bằng gỗ, những món đồ sứ ký kiểu từ Trung Hoa, bộ đồ ăn trầu bằng bạc hay bằng ngà, bộ khay trà chạm cẩn rất tinh xảo… cùng với những cổ vật gia bảo là cả ngàn cuốn sách quý với đủ thứ ngôn ngữ, khiến cho nơi đây trở thành một trong những thư viện gia tộc lớn và quý hiếm ở vùng đất cố đô.

Ngôi nhà rường có mặt chính hướng về phía Tây, quay lưng ra ngoài đường để tránh tiếng ồn

Đây là nơi thờ tự công chúa Ngọc Sơn, nhũ danh là Nguyễn Phước Hỷ Hỷ, con gái của vua Đồng Khánh (1885 - 1889). Bà kết hôn với Trung quân Đô thống Nguyễn Hữu Tiễn, con trai của Đông Các đại học sĩ Nguyễn Hữu Thảng, đại thần triều Nguyễn. Sau khi hạ sinh được một bé gái, công chúa Ngọc Sơn mắc bạo bệnh và qua đời khi mới 20 tuổi. Thể theo nguyện vọng của bà, phò mã Nguyễn Hữu Tiễn tục huyền với một người trong hoàng phái nhà Nguyễn là quận chúa Công Tôn Nữ Thị Trân, con gái của Kiên quận công Nguyễn Phước Ưng Quyến, em trai vua Đồng Khánh.
Không gian thờ tự được bài trí theo nguyên tắc “tiền Phật, hậu linh”
Năm 1921, ông Nguyễn Hữu Tiễn cho xây dựng trên mảnh vườn rộng gần 2.400mmột biệt phủ theo lối kiến trúc điển hình của nhà vườn Huế, làm nơi thờ tự vong linh công chúa Ngọc Sơn, chánh thất của ông. Đây cũng là nơi ăn ở của gia đình ông, cùng 7 người con với người vợ thứ hai là bà quận chúa Công Tôn Nữ Thị Trân. Trải hơn 90 năm, phủ thờ Ngọc Sơn công chúa đã được các hậu duệ của vị phò mã Nguyễn Hữu Tiễn gìn giữ, phụng thờ và bảo tồn gần như nguyên vẹn mặc cho cố đô Huế và vùng đất Gia Hội nói riêng đã trải bao phen dâu bể.



Từ ngoài đường, người ta đi vào khu nhà vườn bằng cái cổng đơn giản, nhưng trên đỉnh hai trụ cổng có đắp nổi một đề tài mang ý nghĩa hạnh phúc gia đình. Đó là hình ảnh "Lân mẫu xuất lân nhi"
Hai bên trụ cổng đắp Lân mẫu xuất Lân nhi


Lối vào phủ thờ với hai hàng chè tàu uốn quanh. Nhiều cây trái sum suê, trĩu quả ẩn mình sau những hàng cau.



Bể cảnh và non bộ làm yếu tố minh đường và tiền án trước nhà.
-------

Gian thờ chính

Nội thất gian giữa căn nhà với hoành phi “Thế đốc trung trinh” bên ngoài.
 Hoành phi “Ngọc Sơn công chúa từ” bên trong.

Gian thờ tự.

Mộ Ngọc Sơn công chúa nằm giữa vườn cây xanh mát
Bà mất lúc mới 20 tuổi. Để tỏ lòng thương tiếc người vợ yêu quý, phò mã Nguyễn Hữu Tiễn (con trai của Đông các Đại học sĩ Nguyễn Hữu Thảng) đã dựng ngôi mộ thờ công chúa trong khuôn viên nhà vườn.








Chiếc bàn xoay độc đáo thời Khải Định ở Phủ Công chúa Ngọc Sơn




Chiếc phản gỗ


Họa tiết trang trí trên phần mái


Bộ vì kèo của khối nhà phía trước đơn giản, gác vào kèo hiên cũ một cách khéo léo. 
Hệ vì kèo này kết hợp cùng tường thu hồi là kết cấu chịu lực cho bộ mái mới phía trước.



























Ao sau nhà




Vườn



Nơi ngắm cảnh bên ao.



Hàng tre bên ao

Không gian nhà vườn Phủ thờ Ngọc Sơn Công chúa chụp toàn cảnh
(ảnh chụp lại từ ảnh tư liệu ông Phan Thuận An)

VĨNH ẤM VIÊN



Nội thất từ đường.
VĨNH ẤM VIÊN.
Ở Huế, Kim Long là một địa danh đặc biệt, vì nơi đây vốn là Trung tâm Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Lan, sau này là nơi lập phủ đệ của công hầu, khanh tướng nhà Nguyễn. Vì là vùng quý tộc nên con gái rất đẹp, và đương nhiên là rất thanh nhã như câu ca ai cũng thuộc: 
“Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi”
Và quả thật, nhiều vị vua có phi tần người làng Kim Long như Thành Thái, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Duy Tân...
Sông Hương trong mưa, nhìn từ Tam quan Vĩnh Ấm Viên.
Trong rất nhiều phủ đệ ở Kim Long, một trong những phủ nổi tiếng nhất là Vĩnh Ấm Viên, trong đó có từ đường thờ Trưởng Công chúa Diên Phước. Cổng tam quan cổ kính của Từ đường ngay sát bờ sông Hương, ai đi thuyền hay đi đường bộ lên chùa Thiên Mụ đều ngang qua di tích này.
Tam quan nhìn ra sông Hương.
Công chúa Diên Phước là con gái đầu của vua Thiệu Trị, mẹ là Từ Dụ Hoàng thái hậu, dưới bà có hai em là vua Tự Đức và một em gái mất sớm năm 3 tuổi.
Năm 1846, Công chúa được gả cho Đô úy Nguyễn Văn Ninh, con của Chưởng phủ sự Thái bảo Hoằng Trung hầu Nguyễn Văn Trọng. Vua cha cho xây nhà để Công chúa và Phò mã về ở. Công chúa còn được vua Thiệu Trị ban sách bạc, tự tay vua viết… Công chúa sống hạnh phúc với chồng được có hai năm thì mất ở tuổi 24. Mấy năm sau chồng bà cũng qua đời.
Vua Tự Đức rất thương xót chị, đã sai bộ Công xây dựng lại ngôi nhà thành Từ đường thờ Trưởng Công chúa Diên Phước. Vua nhiều lần đến đây dự lễ cúng giỗ chị và để lại mấy bài thơ bày tỏ lòng thương xót. Một lần đi thuyền qua phủ, vua viết: “Nuốt lệ dùng dằng ngoảnh đầu trông lại/ Khốn vì gió thổi thuyền đi quá nhanh”… Và sự kiện Công chúa qua đời được vua Tự Đức ghi trong bia đặt tại Khiêm Lăng.

Diên Phước Trưởng Công chúa từ.

Hiện nay trong khuôn viên của di tích quý giá này, có quán cà phê Vĩnh Ấm Viên do con cháu của Công chúa kinh doanh. Cũng là cà phê, nhưng đến Vĩnh Ấm Viên, ta còn được đắm mình trong không gian văn hóa, lịch sử như thế, nhất là được trò chuyện với những người gốc Huế.




Hôm trước, tôi may mắn được chủ nhà mở cửa Từ đường cho vào thăm nơi thờ Trưởng Công chúa Diên Phước, ngôi nhà được Nhật Bản giúp trùng tu như nguyên trạng cách đây mấy năm.


Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

Trúc lâm


Trúc lâm
 phần 5
VICKYLE·CHỦ NHẬT, 9 THÁNG 12, 2018


A. Ý Nghĩa Và Sự Ra Đời Của Trúc Lâm Thiền Phái .
Theo quan điểm của nhà cháu thì Trúc Lâm xuất hiện không phải do 1 sự phát kiến về tư tưởng hay đột phá về pháp môn tu hành mới, cho dù nó có sự cải cách, thay đổi. Tất nhiên đây là thiển ý của nhà cháu ạ.
Đặt trong bối cảnh lịch sử PG đầy biến động của lịch sử các nước lân bang thì chúng ta sẽ thấy sự xuất hiện của phái Trúc Lâm được cho rằng hợp nhất các dòng phái cổ như Tì Li Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường… là sự việc mang tính hệ thống của thời đại đó chứ ko riêng gì ở cõi Đại Việt .
1. TRUNG QUỐC
- Trung quốc thế kỷ 13-14 thuộc quyền cai trị của đế quốc Nguyên Mông, thời đại Trần Nhân Tông tương ứng với Hốt Tất Liệt (1215- 1294) bên Trung Quốc.
Ban đầu nhà Nguyên trọng dụng 1 đạo sĩ phái Toàn Chân là Khưu xử cơ, từ đó phe đạo giáo của Khưu Xử cơ, Lý Chí Thường đã gây xung đột với Phật giáo, dỡ bỏ nhiều chùa chiền, đưa ra các ngụy thư, tình hình xung đột kéo dài. Hốt Tất Liệt ban đầu cũng tham cứu Thiền Tông Trung Hoa nhưng ko hợp căn cơ nên chuyển sang Mật Tông Tây Tạng, vua bái Bát Tư Ba đại sư phái mũ Trắng Sakya ở Tây Tạng làm thầy, lúc đó phái này đang chưởng quản đại quyền ở Tây Tạng.
- Đại sư Bát Tư Ba đến trung nguyên hoằng pháp, thi tài lý luận thắng các đạo sĩ của phe Lý Chí Thường, các đạo sĩ này thua cuộc phải cạo đầu làm sư, trả lại các chùa chiền đã chiếm đóng, PG trung quốc được tái đề cao.
- Bát Tư Ba được phong Đế sư, ông đứng ra cải cách PG Trung Quốc, cho dùng mẫu chữ của ông sáng chế, dung hòa 2 truyền thống Hán Truyền PG và Tạng truyền PG.
- Cải cách của Bát Tư Ba chấm dứt khi nhà Nguyên sụp đổ, trái với các quan điểm cho rằng sự cải cách này thất bại như của học giả Tuệ sĩ, Nhất hạnh, .. nhà cháu thấy cải cách này vẫn còn tồn tại và đạt được nhiều kết quả. Việc bỏ mẫu chữ Bát Tư Ba trở lại với mẫu chữ Hán là chuyện đương nhiên, nhưng việc dung hòa 2 truyền thống PG Hán , Tạng hay Hiển và Mật thì rõ ràng kết quả còn đến thời nhà Minh. Bằng chứng là vua đầu thời Minh là Thành Tổ bái tổ thứ 4 dòng Karampa Tây Tạng làm thầy và thường xuyên thỉnh về kinh đô giảng pháp, mỗi lần ở lại nhiều năm, sau này cũng vậy. Đến cuối đời Minh, vua Vạn Lịch làm lễ thọ cho mẹ đã xây chùa tháp ở Ngũ Đài Sơn đặc biệt là Vạn Phật Điện, các kiến trúc này toàn là Mật Tông, Kim cang thừa. Qua đây thấy rõ khuynh hướng kết hợp các truyền thống có kết quả và được duy trì mãi về sau.
2. Nhật Bản.
Tại Nhật bản bối cảnh tương tự như Đại Việt và có rất nhiều điểm tương đồng đáng chú ý.
- Thời kỳ này ở nhật gọi là Kumara (1192-1333), được coi là thời hưng thịnh Phật pháp. đây là thời đầu tiên của Mạc phủ, chính quyền quân sự, chính quyền lấy Đại tướng quân làm người thống quốc, đây là sự thay đổi chính trị quan trọng bậc nhất ở Nhật. Chính quyền trọng quân sự này cũng là xu hướng bây giờ ở Mông Cổ, Đại Việt xung quanh.
- Chính quyền mạc phủ samurai cũng tiến hành xây dựng Tân Phật giáo – Phật giáo dành cho giới Samurai .
- Về phần chính trị là vậy, còn về phần tư tưởng thì thời đó có sự ra đi của nhiều đại sư để sáng lập nhiều phái mới.
- Sự truyền bá của “Thiền đốn ngộ” Lâm Tế và “Thiền Tiệm ngộ” Tào Động ở Nhật.
- Phía chính quyền samurai ưa thích thiền Lâm Tế. Thời kỳ này ra đời nhiều tông phái mới nhưng cũng là thời kỳ có sự kết hợp giữa các tông phái. Ông tổ Trà Đạo nổi tiếng của Nhật là thiền sư Minh An Vinh Tây thì cố gắng kết hợp 3 trường phái Thiên Thai Tông, Mật Tông, Thiền Tông. Còn rất nhiều thiền sư khác giai đoạn này phát triển Thiền theo lối kiêm tu với mật ….
Theo nhà cháu bối cảnh Nhật này có tương đồng với đại việt nhất đây, khi mà có người nói Tư tưởng Trúc Lâm quan trọng nhất ở Tuệ Trung Thượng sĩ, nhưng Ngài tuệ Trung thì vẫn là môn đồ, pháp tôn của Thường Chiếu Thiền sư, cái này sư thầy Thích Thanh từ đã nói và đề cao vai trò Thường Chiếu đại sư, nhưng Thường chiếu đại sư thì chẳng phái Lâm Tế hay sao? Cả 2 chính quyền Mạc phủ và Nhà Trần đều có vẻ có duyên với Lâm Tế, ở NhẬT thì Lâm Tế truyền vào công khai còn ở Đại việt thì mới manh nha ở giai cấp quý tộc như Tuệ Trung, Trần Nhân Tông. Chả thế mà tương truyền nói Lâm tế là thiền hợp với quý tộc còn Tào Động thì được dân dã ưa chuộng. Vậy thì cũng như các vị Thanh Từ, Nhất Hạnh tư tưởng Trần Nhân Tông là có sự cải biến nhưng thực chất vẫn là thiền Lâm Tế và chẳng có cách mạng tư tưởng ở Tuệ Trung, Trần Nhân Tông cả, họ chính là các thiền sư rất giỏi của phái Lâm Tế trứ danh.
3. Tây Tạng.
Tây Tạng thời kỳ này gắn liền với Mông cổ và Bát Tư Ba đế sư ở phần 1, tuy nhiên cũng có nét riêng rất đặc sắc.
Đây là thời PG ảnh hưởng đến cuộc sống 1 cách sâu sắc, đến độ chính giáo hợp nhất lần đầu ở phái Sakya, từ đó nguyên thủ quốc gia cũng chính là nhà lãnh tụ tôn giáo, hướng đạo cho toàn dân.
Thời phái Sakya chưởng quản đại quyền là 1236-1354.
Đây là thời kỳ Tây Tạng mới thống nhất sau nhiều năm chia cắt sau pháp nạn do Lãng Đạt Ma chống phá Phật giáo. Một điểm quan trọng giống Đại Việt ghi trong sử sách đó là ban đầu Mông cổ cũng bắt “Dâng các nhà sư”. Sự kiện dâng các nhà sư ở Đại Việt được ghi lại như 1 kiểu hống hách làm khó, nhưng thực ra Hốt Tất Liệt khi đó cũng có ý tham khảo các truyền thống PG, không hợp với Thiền nhưng ông lại quy y với các nhà sư Tây Tạng ban đầu được dâng. Phái Sakya của Tây Tạng thời này được coi là hưng thịnh nhất với Bát Tư Ba, và điểm quan trọng về tư tưởng của Phái này là sự kết hợp 3 thừa Nguyên thủy, Đại Thừa, Kim Cang thừa, phái này vì thế còn gọi là phái của các học giả.
4. Chăm Pa.
Đây là vương quốc có Phật giáo hưng thịnh từ thế kỷ thứ 9, đến thời đại Chê Mân thì sau vài trăm năm phát triển Phật viện Đồng Dương, 1 dạng mô hình của học viện Nalanda Ấn Độ đã phát triển đến mức rực rỡ. Sau khi viện Nalanda không còn do quân Hồi giáo xâm lược năm 1197 thì các viện như kiểu Đồng Dương lại càng hiếm hoi.
Để duy trì vương quyền, Chăm Pa tôn sùng Phật giáo và Bà la môn giáo ngang nhau, đến Chế Mân thì Phật lại càng được đề cao. Trần Nhân Tông thượng hoàng có cùng vài trăm tăng nhân vào kinh đô Chăm Pa ngụ tại Phật Viện Đồng Dương trong 9 tháng để học hỏi. Sau này có ý kiến cho rằng việc pho tượng Điều Ngự để hở vai ở Yên Tử có liên quan tới Chăm Pa và hài hòa với PG tiểu thừa thì nhà cháu cho là ko hợp lý, vì PG ở Chăm pa khi đó mang màu sắc Kim Cang Thừa, Đại Thừa, điều này cũng giống như ở nước có ảnh hướng lớn nhất đến Chăm pa khi đó là Java, nơi còn 1 Mạn đà la khổng lồ bằng đá lớn nhất Đông Nam Á. Việc 1 pho tượng hở vai 1 bên là chuyện thường thấy ở các pho tượng Đại Thừa khi miêu tả đức Thích Ca, việc để Điều Ngự mặc áo hở vai nhà cháu nghĩ đó là 1 dạng tôn vinh Ngài như 1 vị “Tiểu Thích Ca” nhưng kiểu đại sư Trí giả ở Trung quốc cũng được tôn xưng là Thích Ca ở Phương đông, nhìn chung sự tôn vinh này giống như tôn vinh giáo pháp nơi các ngài dạy ra, truyền ra chứ ko ý so sánh theo nghĩa đen.
5. Triều Tiên.
Đây cũng là thời kỳ quan trọng của PG triều tiên mà tên gọi là Cao Ly, nhìn chung đây là thời kỳ để lại nhiều di sản văn PG trên khắp thế giới, ở Tây Tạng là mẫu chữ Bát Tư Ba, chữ viết do cao tăng sáng tạo cho dân dùng, ở Nhật thì sinh ra Trà Đạo trứ danh mãi đến nay, còn ở Triều Tiên là sự tái sinh của bộ Bát Vạn Đại Tạng Kinh. Bát Vạn Đại Tạng Kinh là bộ kinh tạng ngoài sự trân quý giáo pháp còn là di sản văn vật các bộ ván khắc cổ, được cung rước, thờ cúng như sự gia hộ cho quốc thái dân an. Đây là bảo vật trấn quốc của Cao Ly, 1 triều đại tôn sùng Phật, thậm chí dùng Phật giáo để cố kết chống quân Nguyên Mông, Bản kinh tạng cũ bị hủy hồi quân Nguyên xâm lược đã được khắc lại đời vua Cao Tông làm nức lòng nhân cả nước.
Các cải cách PG ở Triều tiên có phần muộn hơn Đại Việt và các nước trên vài chục năm tuy có vẻ ko ảnh hưởng đến Đại việt nhưng nhà cháu vẫn viết để thấy sự tổng quát về xu hướng thời đại. Thái cổ đại sư (1301-1382) thời này cũng là 1 nhân vật quan trọng giúp định hình nên Tông Tào Khê, phái chính yếu của PG nước này đến tận ngày nay. Tào Khê được xây dựng nhờ sự thống nhất 9 phái thiền mà thành. Qua đây ta thấy sự thống nhất, đan xen, dung hòa là xu hướng của cả PG khu vực Đông á khi đó.
Nho giáo ban đầu cũng được truyền đến Triều tiên nhưng không đạt kết quả khả quan nào ở 2 triều Tân La, Cao Ly sùng Phật.
Sự xuất hiện của 1 nhân vật Thái Tổ Triều Tiên Lý Thành Quế làm đảo lộn mọi việc. Lý Thành Quế và triều Chosun tôn sùng Nho giáo. Nên cũng chủ trương ghép các tông phái với nhau nhưng với ý đồ làm suy yếu PG trước nho giáo.
6. Thái Lan và vương triều Xukhothai (1238-1438).
Cũng là 1 thời điểm quan trọng với lịch sử và PG Thái, lần đầu người Thái đuổi người Miến khỏi các vùng đất bị chiếm đóng lập nên 1 triều đại mới.
Triều đại này lần đầu tiên tôn PG làm quốc giáo, và do có nhiều người Hoa lánh nạn Mông cổ nên PG ở triều đại này là cả Nguyên thủy và Đại Thừa (lại xu hướng đan xen, đa dạng).
Như vậy từ biến cố long trời do các cuộc chinh phạt của Mông cổ mà chủ yếu là Trung hoa khiến cho xã hội và PG các nước xung quanh đều biến động và có xu hướng phải thay đổi.
B. Tư tưởng Trúc Lâm qua 3 vị tổ.
Trúc Lâm thiền phái là giáo phái được Hoàng gia bảo trợ nên chắc chắn nó không kết thúc ở tổ đệ tam, cho dù ko có đệ tử đắc pháp nối dòng thì dĩ nhiên vẫn phải có bậc trưởng thượng đứng ra làm trưởng môn sau Huyền Quang, nhưng tại sao chỉ có 3 tổ mà không thấy danh sách truyền thừa về sau. Theo quan điểm nhà cháu thì Thiền Phái Trúc lâm này giống như 1 phong trào chấn hưng PG thế kỷ 13-14 hơn là việc lập 1 môn phái truyền thừa, chữ Trúc Lâm hay Tùng Lâm vốn hay để chỉ các già lam chùa chiền nhưng có nhiều tăng ni tu học, như 1 rừng tăng ni, hay đại diện tăng đoàn, tăng già nhiều hơn là chỉ danh tự địa lý, cảnh quan. Như vậy Trúc Lâm thiền phái giống như kiểu của 1 giáo hội sơ khai, nơi 1 tổ chức quản lý các tông phái sơn môn khác như các hội liên hiệp PG, hay giáo hội của ta hiện nay chứ không giống như các tông truyền thừa pháp phái như Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Quy, Ngưỡng …, đấy là thiển ý của cháu.
Thế còn dòng truyền thừa của Điều Ngự Trần Nhân Tông ở đâu? Dĩ nhiên vẫn có 1 chủ thể đó là Sơn Môn Yên Tử, theo sử chép các sư Pháp Loa, Huyền Quang trước khi chính thức lên nắm giữ Trúc Lâm đều phải kinh qua, kiêm nhiệm chức Trưởng Sơn Môn Yên Tử. Như vật cả Đại Việt có Trúc Lâm Thiền Phái nhưng bên trong nó vẫn có nhưng sơn môn, tông phái tu tập riêng, có nét riêng để duy trì sự đa dạng về pháp môn khế hợp với sự đa dạng căn cơ của người dân. Có lẽ Phật Hoàng Trần Nhân Tông quá giỏi trong việc vừa kết hợp sức mạnh đoàn kết vừa tôn trọng đa dạng, khác biệt.  (điểm này nhà cháu đã phân tích ở các bài trước)
Trở về với 3 hình ảnh 3 vị tổ, thì theo nhà cháu đây là sự khái quát khóa các hình thức tu tập nói chung thời bấy giờ chứ không nặng về kiểu tổ tổ truyền tâm, vì 3 vị này hành trạng tu hành khác nhau, còn chỗ chứng ngộ thì đương nhiên giống nhau, vì ko nặng tổ tổ tương truyền nên ko thấy đệ tứ, đệ ngũ,… có lẽ các vị sau phương pháp tu hành cũng chỉ là chắt lọc từ 3 vị trên.
Điểm đặc sắc của Tam Tổ phái trúc lâm là cả 3 vị này cùng thời với nhau, thậm chí tổ đệ tam là già tuổi nhất, sinh trước cả tổ đệ nhất.
Tông phái này cũng ko hẳn do tổ đệ nhất xây dựng thành rồi cho tổ nhị, tam, giữ gìn phát huy, mà nó được xây dựng bởi cả 3 vị gần như cùng thời.  Bằng chứng là Tổ Huyền Quang đã tham gia biên soạn kinh điển ngay từ khi Điều Ngự đệ nhất còn sống, với tài trạng nguyện, tổ đệ nhất còn phải khen “sách của Huyền Quang biên soạn không thể thêm hay bớt 1 chữ” rõ rang tuy được coi là ngộ đạo sau nhưng việc xây dựng sơn môn đã có sự chung tay của 3 vị ngay từ đầu, đệ nhất đắc đạo trước thì làm bậc thủ lĩnh quy ngưỡng, còn đệ tam lo biên soạn giáo lý, kinh điển, đệ nhị thì quá nổi tiếng với công cuộc hoằng pháp.
Như vậy ta có 3 vị tổ tiêu biểu cho 3 đường lối tu hành.
1. Điều Ngự giác hoàng.
- là vị vua tài giỏi, danh tiếng bỏ ngôi đi tu, xứng đáng là bậc đứng ra quy tụ các tông phái, tuy chưa đến độ “hợp nhất chính – giáo” như Tây tạng cùng thời, thì sự kiện 1 vị thái thượng hoàng trực tiếp lãnh đạo tăng ni là 1 việc cho thấy sự ảnh hưởng của PG lên cuộc sống Đại việt lớn đến mức độ nào.?
Ngài được cho là ảnh hưởng của Tuệ Trung Thượng sĩ hay xa hơn là Thường Chiếu đại Sư phái Lâm Tế, đây là điều dễ hiểu, con người của Ngài là kiểu tu “đốn ngộ” bất khả nghĩ bàn của Lâm Tế hay rộng ra là cả Thiền Tông. Tuy nhiên cũng chính điểm này chúng ta thấy lúc này Lâm Tế thiền đã manh nha bén rẽ vào Đại Việt thay vì chính thức như Nhật bản hay những tư tưởng khác lạ của Tuệ Trung Thượng sĩ vẫn chỉ là tư tưởng trong dòng chảy Thiền tông nói chung chứ không có cái gì cá biệt cá nhân ở đó cả. Và nếu ai muốn đem các tưu tưởng “vui đạo ở đời” “đói ăn khát uống”, “hòa quang đồng trần”, “hộ quốc an dân” …. Đó làm 1 cái gì đó tư tưởng Việt lắm thì có lẽ sẽ phải không được như ý, vì nó ko phải ng Việt nghĩ ra. Ở Nhật bản rất tôn trọng Lâm Tế, Tào động mặc dù nó ngoại nhập, nhưng họ rất cầu thị và rồi cũng tạo ra những cái gì đó rất Nhật bản. Trần Nhân Tông là tấm gương tieu biểu của sự ko phân biệt quốc gia, dân tộc, hướng đến 1 sự minh triết của chung nhân loại dù nó có vẻ như xuất hiện ở Trung hoa hay Chăm pa thì giá trị của nó không phản ánh tính chủ quyền dân tộc, cho nên không thể lấy hình ảnh hay tư tưởng Trần Nhân Tông để xác lập 1 thứ chủ quyền Việt .
2. Pháp Loa.
Nhị tổ là giai đoạn dài nhất, hưng thịnh nhất của Trúc Lâm, mặc dù tuổi đời, tuổi thọ của Ngài là ít nhất và ngắn nhất. Trái với xuất thân quý tộc, đi tu lúc luống tuổi ở giai đoạn đỉnh cao quyền lực của Vua Trần, ông là người xuất thân từ giai cấp bình dân, đi tu từ rất trẻ.
Hình ảnh của ông là hình ảnh nhà tu hành thuần túy, có nhân duyên lớn với Phật Pháp.
Nếu hình ảnh Phật hoàng là nhà lãnh đạo về tư tưởng và Lý thì Pháp Loa tượng trưng cho Sự, cho phương tiện .
Pháp môn ông hành trì lại có thiên về mật giáo, ông đã khéo léo vận dụng mật tông để truyền bá Phật giáo đến sâu rộng quần chúng, điều mà Thiền Lâm Tế của Thượng hoàng chỉ thịnh hành ở giới quý tộc,t rí thức vốn khó tiếp cận. Ông là người xây dựng nhiều chùa chiền, tượng Phật lớn nhỏ, đây là hình ảnh mà các nhà sư Không Lộ, Minh Không thường làm. Pháp Loa có vẻ hùng dũng của các thánh tổ Lý triều, nơi thi hiện các công hạnh bí mật bất khả tư nghì ông đại diện cho khuynh hướng Mật Tông vốn đã bắt rẽ lâu ở Đại việt và lại lớn mạnh khi đó, đương nhiên cả Tịnh Độ Tông nữa.
3. Huyền Quang.
Vị tổ thứ 3, già nhất, giai đoạn của Ngài cũng ko hưng thịnh như 2 vị trước, ông là người bác học đa tài vốn đỗ trạng nguyên, trong hành trạng của mình ông thường được mô tả là nhiều thơ văn với núi non, mai trúc …
Đây chính là khuynh hướng của Tam giáo đồng nguyên, có lẽ tư tưởng này được vun bồi chính bởi Huyền Quang đại sư, 1 người trí thức đến với Phật giáo khi luống tuổi.
Như vậy hình ảnh tam tổ chính là hình ảnh dung hòa giữa các khuynh hướng Tư tưởng PG bấy giờ.
Tổng kết.
Sự ra đời của Phái Trúc Lâm nhưng 1 sự chấn hưng PG thời đó, cũng như việc hợp nhất các dòng phái trước đó là 1 sự kiên quan trong trong lịch sử PG VN nhưng nó cũng là sự việc nằm trong xư hướng của thời đại ý chứ ko mang tính cá thể, đặc biệt nào hết và dù là:
- Kết hợp dung hòa Thiền, Tịnh, Mật, thậm chí Nho , Lão ở Đại Việt.
- Khéo léo hòa giải xung đột Lão – Phật, dung hòa PG Hán truyền Tạng truyền ở Trung quốc, Mông Cổ.
- Hợp nhất chính – giáo, dung hòa tam thừa PG ở Tây Tạng
- Dung hòa PG, Bà la Môn ở Chăm pa
- Hợp nhất các phái, dung hòa Thiên Thai Tông, Mật tông, Thiền tông ở Nhật.
- Kết hợp 9 tông phái thành Tào khê ở Triều tiên.
Thì dòng chủ lưu chính là sự đan xen, kết hợp, có lẽ chính nó đã tạo ra truyền thống Thiền, Tịnh, Mật đan xen chút Tam giáo đồng nguyên tạo nên đặc sắc ở PGVN sau này.
Còn về hình ảnh Trần Nhân Tông thì nhà cháu ko hề có sự hạ thấp vai trò của vị Đại sư có công lao to lớn này mà chỉ cố gắng tìm thấy sự đánh giá đúng về Ngài.
Đức Điều Ngự là 1 người vô cùng tài giỏi nhưng theo nhà cháu cả tư tưởng và hình ảnh của Ngài vốn ko phải là 1 cái gì đó mang tính đột phá hay cá biệt. Về tư tưởng thì nhà cháu đã nói, còn về hình ảnh 1 ông vua bỏ ngai đi tu thì đó cũng đã có nhiều vị trước đó, ở Nam Chiếu lân bang có tới gần 10 vị nhường ngôi đi tu trước cả giai đoạn nhà Trần 1 ít về thời gian, còn tại thời Trần thì chính Thái tông hoàng đế cũng bỏ ngôi đi tu nhưng vua trẻ bị chú ép về trong tiếc nuối. Việc xả ly như các Ngài là điều chúng ta cần vô cùng ngưỡng mộ nhưng nói đó là việc không đâu có như 1 vài học giả thì nhà cháu không tán thành. Nhà cháu xin có vài lời như vậy về các vị Tiền nhân, có sai sót gì mong chư tổ Từ bi đại xá. Nhà cháu chỉ có tâm nguyện cho mọi người nhìn nhận được thêm khái cạnh gì đó ở các Ngài vượt ra khỏi sự tô vẽ mang tính chất dân tộc và mong là sự cố tâm phát triển Phật giáo trên quê hương Việt Nam của Tam tổ sẽ được tiếp tục hôm nay và mai sau với những giá trị từ bi, trí tuệ vượt xa biên giới dân tộc nhỏ bé, ở đó không có sự lồng ghép chính trị, dân tộc hay phân chia tông phái ạ.
 Nam Mô Mười Phương Phật, Lịch Đại Nam Thiên Tổ Thiền bồ tát tác đại chứng Minh. Vicky Lê trọng đông Mậu Tuất.