Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

Tranh của danh họa Mã Viễn

Mai thạch khê phù đồ
Mã Viễn (1140 – 1225), (lại có thuyết 1190 – 1279), danh họa đời Nam Tống, tự Dao Phụ, hiệu Khâm Sơn, xuất thân trong một dòng họ nổi tiếng về hội họa.

Đạp ca đồ

Hoa đăng đãi yến đồ

Mai hoa thư ốc

Đối nguyệt đồ

Tuế hàn tam hữu đồ

Tùng nguyệt đồ

Cử bôi ngoạn nguyệt đồ

Yêu nguyệt tựu mai đồ

Hiểu tuyết sơn hành đồ

Liễu khê cầm ẩn

Sơn kính xuân hành

Tùng thọ đồ

Giang đình vọng nhạn đồ

Bạch tường vi đồ

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Phong cảnh

Đĩa trang trí phong cảnh núi Thúy Vân - 1 trong 20 thắng cảnh đất Thần Kinh thời vua Thiệu Trị, Huế, TK 19. 
Trên đề thơ chữ Hán: 
"Vân thúy cao hiền ngọa
Sơn phong tháp ảnh diêu
dịch. 
Đỉnh non bóng tháp lung linh
Cao hiền nằm khểnh mây canh trên đầu.
-------

Đĩa trang trí phong cảnh sơn thủy, nhân vật với cảnh người chèo thuyền chở thi nhân đến vùng non thủy hữu tình. 
Trên đĩa có đề câu thơ 
Ngâm thành nhất phổ thiên sơn tịch
Cô nhạn hoành giang lược tiểu chu 
dịch.
Thơ ngâm bến vắng non chồng chất
Nhạn lẻ ngang sông níu lấy thuyền.


------

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

Tiết phụ ngâm


Bài viết trên FB Phan Khiêm.
Ngày Tình yêu, định đưa lên một bài thơ tình, thơ Tây, thơ Việt, quá nhiều bài hay... nhưng cuối cùng xin chọn “Tiết phụ ngâm” của Trương Tịch vì thơ Đường dù sao cũng ít phổ biến hơn.
Bài thơ viết về tâm tư rất cảm động của một thiếu phụ đã có chồng... nói với người tình.
節婦吟 
君知妾有夫,赠妾双明珠。 
感君缠绵意,系在红罗褥。 
妾家高楼连苑起,良人持戟明光里。 
知君用心如明月,事夫誓拟同生死。 
还君明珠双泪垂,恨不相逢未嫁时。

Tiết phụ ngâm
Quân tri thiếp hữu phu 
Tặng thiếp song minh châu, 
Cảm quân triền miên ý, 
Hệ tại hồng la nhu 
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi 
Lương nhân trì kích Minh Quang lý 
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt 
Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử 
Hoàn quân minh châu song lệ thùy 
Hận bất tương phùng vị giá thì

Nghĩa là:
Chàng biết em đã có chồng 
Tặng em đôi hạt châu sáng 
Cảm động trước tình đeo đẳng của chàng 
Em buộc vào áo lụa hồng 
Nhà em có lầu cao bên vườn hoa 
Chồng em cầm kích túc trực trong điện Minh Quang 
Vẫn biết lòng chàng trong sáng như mặt trời, mặt trăng 
(Nhưng) em đã thề cùng sống chết với chồng 
Trả lại chàng hạt châu sáng, hai hàng nước mắt ròng ròng 
Ân hận rằng không thể gặp nhau lúc chưa chồng

Ngô Tất Tố dịch thơ
Tiết phụ ngâm
Chàng hay em có chồng rồi, 
Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành. 
Vấn vương những mối cảm tình, 
Em đeo trong áo lót mình màu sen. 
Nhà em vườn ngự kề bên, 
Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang. 
Như gương, vâng biết lòng chàng, 
Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa. 
Trả ngọc chàng, lệ như mưa, 
Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.

Cô gái có chồng là “chấp kích lang” trong điện Minh Quang của vua Hán đã từng xao xuyến trước tấm tình của “chàng” nên đã nhận hai viên ngọc quí. Viên ngọc biểu tượng của mối tình ấy được nàng đeo trong áo lót màu sen của mình... Nhưng rồi nàng nhận ra mình không thể phụ bạc người chồng đã từng “thệ hải minh sơn” nên quyết trả lại viên ngọc cho người tình.
Trả lại nhưng “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”, cô vẫn mang theo tâm hồn niềm tiếc nuối rằng đã không gặp chàng từ khi chưa chồng...

Cold Mountain

Ngày Vanlentin, xem Núi lạnh (bản ballad trữ tình) trên HBO. Cảm nhận cuộc chiến vô nghĩa của những người đàn ông.
-------------------
Núi Lạnh - Cold Mountain



Truyện “Núi Lạnh” (Cold Mountain) của nhà văn tiến sĩ Charles Frazier được xuất bản vào năm 1997 với số sách bán đạt kỷ lục và đã đoạt gỉải National Book Award. Phim Cold Mountain (2003) được thực hiện theo tác phẩm này, với sự diễn xuất của nữ tài tử nổi tiếng Nicole Kidman. Ngoại cảnh của phim là vùng Cold Mountain, thuộc North Carolina, Hoa Kỳ. Núi Cold Mountain có chiều cao 6,030 feet, được nhìn thấy khi du khách lái xe ven theo suờn núi Blue Ridge Parkway. Tôi đã có viết một bài về cảnh lá mùa thu đổi màu tuyệt đẹp ở vùng này.



Cold Mountain, nhìn từ Blue Ridge Parkway

                                                                       
Phim Cold Mountain kể lại một chuyện tình thật đẹp được lồng trong cảnh Nội Chiến Hoa Kỳ (Civil War, 1861-1865), trong đó có cuộc chiến tàn khốc ở Petersburg, Virginia.

Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ xảy ra giửa hai miền Nam và Bắc nuớc Mỹ. Năm 1861 Abraham Lincoln đắc cử tổng thống và muốn thay đổi dự luật để xóa bỏ thể chế nô lệ. Trước ngày ông nhậm chức, 7 tiểu bang miền nam Hoa Kỳ gồm có South Carolina, Mississipi, Florida, Alabama, Georgia, Louisiana và Texas phản đối chính sách cởi mở này và tuyên bố ly khai chính phủ liên bang, thành lập chính phủ riêng do Jefferson Davis làm tổng thống. Chính quyền Abraham Lincoln không công nhận chính phủ Liên Minh miền Nam này. Khi quân miền Nam tấn công đồn Sumter, Nội Chiến Hoa Kỳ bùng nổ và thêm 4 tiểu bang khác gia nhập phe miền Nam chống lại lực lượng Liên Bang miền Bắc.  Tuyên Ngôn Giải Phóng Nô Lệ (Emancipation Proclamation, 1863) của Tổng Thống Abraham Lincoln là động cơ mạnh nhất thúc đẩy cuộc tiến quân tái chiếm những tiểu bang ly khai miền Nam. Cuộc nội chiến tàn khốc này đã gây tử thương cho 620,000 quân lính hai bên, nhưng đã đưa đến sự chấm dứt nô lệ và thống nhất hai miền Nam Bắc.

Câu chuyện bắt đầu với trận chiến ở Petersburg, Virginia, vào ngày 20 tháng 6 năm 1864. Trong trận này, quân đội hai bên dàn quân đối diện nhau trong khoảng dài 32 cây số, trong nhiều chiến hào. Quân miền Bắc bao vây Petersburg nhưng trận chiến kéo dài trong 9 tháng, bất phân thắng bại. Sau cùng, quân miền Bắc có sáng kiến đào hầm xuyên qua vòng phòng thủ của quân miền Nam, dẫn đến tận nơi đóng quân của quân miền Nam và một trận chiến tàn khốc xảy ra, gọi là "Trận Chiến Hố Sâu" (Battle of the Crater). Khi đường hầm được đào xong, quân miền Bắc đặt chất nổ ngay duới những đại bác của quân miền Nam.  Chất nổ đã phá tan những đại bác và giết một số quân miền Nam, đồng thời tạo ra một hố sâu thật lớn, ngày nay vẫn còn đó như là một di tích lịch sữ. Tiếp theo sau đó, quân miền Bắc tiến theo đường hầm để tràn lên miệng hố. Nhưng vì hố quá sâu (khoảng 30 feet), quân miền Bắc không tiến lên khỏi miệng hố được nhanh chóng, trong khi đó quân miền Nam kip thời đem quân đến bao vây quanh hố sâu, xả súng sát hại gần 4,000 quân lính miền Bắc. Tuy quân miền Bắc bị tổn thất nặng trong trận này, nhưng nhờ sự tiếp viện nhanh chóng và quân lính cũng như vũ khí hùng mạnh, trong khi quân miền Nam thiếu nhân lực, vũ khí cũng như lương thực vì các đường tiếp tế bị phong tỏa, cuối cùng họ đã đánh bại quân miền Nam, sau nhiều trận chiến khác. Vào năm 1865 Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc tiếp nhận sự đầu hàng của tướng Robert Lee tại tòa án địa phương của Appomattox, Virginia. Trong buổi họp mặt lịch sử này, tuớng Grant không xem tướng Lee là kẻ thù hay bại tướng. Binh lính của tướng Lee được hoàn toàn tự do trở về nguyên quán, sau khi họ nộp vũ khí và cam kết không chống lại chính phủ. Họ còn được giữ lại ngựa và cung cấp lương thực để đi đường. Khi tướng Lee rời khỏi phòng họp, ông ta đã bắt tay tướng Grant và hai vị tướng giở nón chào nhau một cách kính cẩn. Tướng Grant còn chấp thuận để tướng Lee giữ thanh kiếm vì thanh kiếm tương trưng uy quyền và danh dự của một vị tướng. Đây là một điểm son sáng chói, đầy nhân ái, trong cuộc chiến tương tàn giửa hai miền Nam Bắc.

Hình tướng Lee (trái), với thanh kiếm bên hông,
 bắt tay tướng Grant (phải) trong buổi ký văn kiện đàu hàng.
"Tướng Grant giao cho Chamberlain trách nhiệm tiếp nhận vũ khí và quân kỳ của quân Miền Nam. Khi các binh sĩ bại trận đi theo đội ngũ xuống con lộ để giao nộp súng ống và cờ xí, Chamberlain, mặc dù không được lệnh hay được phép của cấp trên, đã chủ động ra lệnh cho binh sĩ mình đứng nghiêm và “bồng súng chào” để tỏ lòng kính trọng đối phương."

Nhân vật Inman (Jude Law) là quân nhân trong quân đội miền Nam. Chàng đã gặp nàng Ada (Kidman) ngay truớc khi cuộc nội chiến bắt đầu. Tuy sự gặp gỡ rất ngắn ngủi, họ đã yêu nhau từ đó. Inman đã đem theo tấm hình của Ada tặng truớc khi họ chia tay. Họ không có được nhiều thì giờ để tâm tình và tìm hiểu nhau. Tình yêu đến với họ một cách tình cờ và hồn nhiên, hầu như có bàn tay của định mệnh sắp xếp. Ada trao tấm hình của nàng cho Inman một cách vội vã và nói, "Xin anh giữ lấy hình này, trong hình này em không cuời, em chẳng biết vì sao em không cười". Ðó là lời nói của một thiếu nữ miền Nam, ngây thơ và mộc mạc, nhưng đầy cảm xúc của một kẻ biết yêu lần đầu. Còn Inman cũng ngỡ ngàng, chỉ biết hôn Ida thật nhanh rồi lên đường theo đoàn quân ra mặt trận. Chàng giữ tấm hình của Ada thật kỹ, như là một báu vật, và không quên ghi sâu trong tâm lời hứa của Ida, Em sẽ đợi anh trở về.

Inman đã dự "Trận Chiến Hố Sâu" (Battle of the Crater). Chàng đã chứng kiến cảnh tàn sát kinh sợ và phi lý của cuộc nội chiến.  Và sau đó, chính chàng cũng bị thương và được điều duỡng trong một bệnh viện.

Ada là một thiếu nữ thành thị. Nàng theo cha về nông thôn và ở tại nông trại Black Cove, từ đây có thể nhìn thấy Cold Mountain hùng vĩ, với những rừng cây vàng rực trong ánh nắng mùa thu, nhưng phủ đầy tuyết trắng trong mùa đông. Không bao lâu sau đó, cha của Ada từ trần. Nàng phải sống đơn độc từ đó, không quen những công việc nặng nhọc ở nông trại và cũng chẳng biết nhờ ai giúp đở vì phần lớn trai tráng  đã ra mặt trận. Nàng đã được cha nàng nuôi dưỡng để trở thành một thiếu nữ đài các thành thị, biết cắm hoa thật đẹp nhưng chẳng biết trồng hoa. Nhưng rồi nàng cũng cố gắng vượt qua thử thách với sự giúp đở của Ruby (Zellweger), một thiếu nữ rất quen với những công việc ở nông trại. Họ trở nên hai người bạn thân thiết tuy bản chất khác nhau. 

Khi Inman tạm bình phục sau thời gian nằm tại bệnh viện, chàng quyết định trốn thoát để về với Ada vì chàng nhận thấy sự sát hại phi lý bao nhiêu sinh mạng trong cuộc nội chiến. Từ đó, chàng bắt đầu một cuộc phiêu lưu đầy gian nguy vì chàng phải vượt qua dãy núi Blue Ridge Mountains của North Carolina, và không ngừng bị những quân lính Home Guards của miền Nam rượt bắt vì tội đào ngũ.

Tác giã Charles Frazier đã dàn dựng hai khung cảnh song song, cảnh Inman chiến đấu ngoài mặt trận, rồi băng rừng vượt suối để về vùng Cold Mountain, và cảnh Ada phấn đấu chế ngự thiên nhiên và sự cô đơn để sinh tồn. Trong khung cảnh của chiến tranh và cuộc sống lam lũ nơi nông thôn, Inman và Ada dần dần tìm thấy bản chất của chính họ và ý nghĩa của cuộc sống. Họ phải đấu tranh để sinh tồn và nuôi dưỡng mối tình và niềm tin một ngày nào được tái ngộ. Charles Frazier đưa chúng ta vào cảnh chiến tranh kinh khiếp nhưng đồng thời kể lại một chuyện tình trong cảnh thiên nhiên thơ mộng, qua cái nhìn của một thi sĩ.

Ada mong chờ ngày Inman trở về. Nàng đếm từng ngày trong hy vọng. Một hôm nàng ghé thăm người láng giềng và bày tỏ sự lo âu của nàng. Họ nói với nàng nhìn vào giếng nước để thấy tương lai. Nàng thấy một người đàn ông đi xuyên qua rừng và những con chim đen bay theo, nàng chẳng biết đó là điềm gì. Nhưng trong thâm tâm nàng nghĩ người đàng ông kia chính là Inman.

Ada và người bạn Ruby bắt đầu gặt hái những trái táo khi thu sang. Rồi đông lại đến. Xa xa Núi Lạnh phủ đầy tuyết trắng, không gian trở nên mênh mông vắng lặng. Nàng đứng ở ngưỡng cửa, đưa tay nhặt từng hạt tuyết, để cho cơn lạnh và cô đơn thấm vào lòng. Nàng như thầm nói với người yêu ở một phương trời xa xăm, bên kia dãy núi dài trùng điệp, Anh ơi, em vẫn chờ anh, sao anh chưa trở về với em …



Cuối cùng Inman trở về nông trại Black Cove. Chàng được biết Ada đang cùng Ruby đến vùng Cold Mountain để mai táng cha của Ruby vừa từ trần. Inman gặp lại Ada trên vùng núi khi nàng đang đi săn gà tây. Họ cùng nhau chung sống trong hạnh phúc được bốn hôm trong một căn nhà nhỏ trong làng gần đó, rồi qua ngày thứ năm, họ cùng nhau trở về nông trại Black Cove. Nhưng trên đường về nông trại, họ bị quân lính Home Guards phục kích. Sau một cuộc đấu súng, bọn lính bị Inman giết nhưng chính chàng cũng bị trúng đạn. Inman cố gắng đi về hướng Ada rồi ngã gục. Những cánh chim đen lại bay qua khu rừng. Ada ôm Inman vào lòng và khóc nức nở, chàng trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay của nàng, và lời nói cuối cùng của chàng là Anh đã trở về với em.

Ada ôm chặt Inman trên vùng tuyết trắng mênh mông. Cảnh ấy được nhìn từ xa, để chúng ta chỉ thấy hai người trong cảnh bao la của vùng Núi Lạnh, khi thời gian và mọi biến động như đều ngừng lại.

Rồi những năm tháng qua nhanh, cuộc đời vẫn tiếp tục xoay. Trong một buổi ăn tối tại nông trại Black Cove, chúng ta gặp lại Ruby với gia đình của nàng, còn Ada thì như tìm lại được sự bình yên và an ủi bên đứa con gái của nàng, lúc bấy giờ đã 9 tuổi. Chúng ta ngạc nhiên vì sự xuất hiện của cô bé vào đoạn cuối của câu chuyện, nhưng rồi chúng ta nhớ lại buổi gặp gở ngắn ngủi cuối cùng của Inman và Ada ở căn nhà nhỏ trong ngôi làng vùng Núi Lạnh. Từ cảnh điêu tàn và buốt lạnh, rừng cây lại đâm chồi nở hoa khi mùa xuân đến. Dù định mệnh có ác nghiệt, tôi tin rằng tình yêu Ada đã dành cho Inman không bao giờ tan biến. Tôi cũng đồng ý với lời phê bình cho rằng tác giã Charles Frazier có cái nhìn của một thi sĩ.

Thu Phong












PS. Bài viết của bạn Hải Hà.

Cold Mountain

Cuối tuần tôi xem vài phim hay định viết nhưng lười.  Tối về đầu óc mệt mỏi.  Đã xem The English Patient, Cold Mountain, đang xem dang dở Doctor Zhivago, Casablanca tôi đã xem nhưng muốn xem lại.  Tất cả những phim trên đây đều là phim nói về tình yêu trong thời chiến tranh.  Mỗi phim đều là một định nghĩa của tình yêu.
Cold Mountain là phim lấy bối cảnh lịch sử cuộc nội chiến của Mỹ.  Người ta vì một thứ lý tưởng, giải phóng nô lệ, mà đánh giết nhau ghê gớm quá.  Ada, cô con gái của ông mục sư, theo bố rời bỏ miền Nam đến một vùng hoang vu hẻo lánh ở phía Bắc để truyền bá đạo. Ở đây Ada gặp một người dân làng, ít nói.  Cô gọi anh là Mr. Inman.  Vừa gặp nhau hai người đã thích nhau nhưng chỉ nói chuyện bâng quơ một vài câu.  Coi như tình yêu của họ bắt đầu chỉ có thế.
Chiến tranh bùng nổ, Mr. Inman chiến đấu cho phía Yankee.  Đoàn của anh tiến sâu xuống South Carolina.  Bố của Ada qua đời.  Vốn là tiểu thư con nhà, lại không có nuôi nô lệ, đàn ông đi lính, cô không biết làm ruộng nên khốn đốn suýt chết đói.  May thay, có một cô gái khỏe khoắn, biết làm ruộng nương nhưng nghèo không có đất, hai người kết hợp lại làm ruộng nhà, thành đôi bạn thân và đủ sống.
Ada trong một lúc tuyệt vọng đã viết thư cho Mr. Inman gọi anh trở về.  Cô viết cho Inman đâu chừng 103 lá thư nhưng chỉ có ba lá thư đến tay anh.  Thời bấy giờ bỏ hàng ngũ có thể bị bắn chết.  Người tham gia quân đội có thể chừng 15 hay 16 không chừng.  Inman trở về và khốn đốn đủ điều.  Bị thương suýt chết.  Bị tù tội.  Và trong lòng anh một thứ tình cảm chưa bao giờ được nói thành lời cháy bỏng suốt thời gian cuốn phim.  Anh nhớ về nơi anh sống, nơi có cô gái miền Nam di dân lên miền Bắc, xinh đẹp, lãng mạn, đã hôn anh lần đầu tiên, nơi ấy có một cái tên không chính thức là Cold Mountain.  Và trên con đường thiên lý, đi bộ từ miền Nam về miền Bắc, ngay cả khi nằm trong vòng tay người phụ nữ đã săn sóc và cho anh ăn cho đỡ đói, anh tự hỏi, trong cái tên đó có cái gì mà đủ làm cho trái tim anh nhức nhối.
Yêu.  Hai người chỉ gặp nhau có vài giây trong phần đầu của cuốn phim và yêu nhau bền bĩ cho đến hết cuốn phim hai giờ đồng hồ.  Một tình yêu để Mr. Inman vượt qua tất cả hiểm nguy, vượt qua tất cả những lý tưởng quốc gia, ý thức chính trị, để về với nàng.  Và Ada chung thủy chờ.  Đó là tình yêu.  Xem những phim này, khán giả, như tôi chẳng hạn, sẽ tự hỏi, có lẽ suốt cuộc đời mình chưa bao giờ biết yêu.
Yêu một phút để mang sầu trọn kiếp,
Tình mười năm còn lại những tờ thư

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

Ngũ Liễu

Dầm trà Ngũ Liễu




Những dầm trà về Liễu.









Du Xích Bích



Đĩa Tô Đông Pha - Du Xích Bích

Ngũ bách niên tiền tục thử du
Thủy quang y cựu tiếp thiên phù

Bồi hồi kim dạ đông sơn nguyệt
Phảng phất đương niên nhâm tuất thu
Hữu khách đắc ngư lâm Xích Bích
Vô nhân tải tửu xuất Hoàng châu
Ngâm thành nhất phổ thiên sơn tịch
Cô hạc hoành giang lược tiểu chu.

Dịch thơ
:

Năm trăm năm trước đã từng sang,
Cảnh cũ đầy trời nước sáng choang
Trăng bạc Đông Sơn lòng rạo rực,
Mùa thu Nhâm Tuất nhớ mơ màng.
Cá ngon khách xách sang non Bích,
Rượu ngọt ai đưa tới đất Hoàng.
Bờ nước ngâm nga ngàn núi vắng,
Qua sông thuyền nhỏ hạc bay ngang.

Hoàng Đẩu Nam
Theo sách: Những Nét Đan Thanh - Trần Đình Sơn




Long hàm Thọ

Đĩa Long hàm Thọ, hình ảnh trung tâm là con rồng đang uốn mình, ngậm lấy chữ “Thọ”. Đĩa thuộc thời Minh Mạng, vốn được sử dụng trong các cung phủ của vua quan. Đây cùng là một trong những hiện vật rất đặc biệt, phần nào phản ánh sự hưng thịnh đầu triều Nguyễn.
Xung quanh hình tượng trung tâm, trên mặt phía trong của thành đĩa là đường hoa văn cẩm quy – trông giống chiếc mai rùa. Mặt ngoài thành đĩa “cài” hoa mai, chạy ô hình trám, bên dưới chạy triện chữ công.
Hoa văn, diềm trang trí đều đặn và sinh động xung quanh, cùng với hình tượng trung tâm tạo nên một chỉnh thể uy nghi, trang trọng. Những đường lượn uyển chuyển của hình tượng rồng tương phản và nổi bật giữa bốn xung quanh là những ô chữ nhật và bát giác được nhắc đi nhắc lại.

Đặc biệt, đây cũng là một tiêu biểu cho kiểu “đồ chàm”, sử dụng mực chàm để vẽ lên đĩa. Vẽ xong, phủ một lớp men mỏng lên trên và đưa vào nung. Cả mực chàm và men đều được nung qua nhiệt và nếu men không bị tổn thương thì nét vẽ cũng “bất khả xâm phạm”, giữ nguyên màu mực.

Nhị Hùm

Đĩa vẽ nhị hùm có niên đại thế kỉ 17, đường kính 28cm, vẽ đôi hùm với nét vẽ “lệt bệt”, mảng miếng, với sắc chàm tái đặc trưng trên đồ sứ xanh trắng thế kỉ 15 – 17.
Theo truyền thống, hùm là chúa sơn lâm, biểu trưng cho vua, cho giai cấp thống trị thời đó. Đây là đĩa dùng để đựng mâm ngũ quả trong các gia đình tầng lớp quý tộc phong kiến trước kia.
Hiện vật có màu xanh trắng, nước men bóng khỏe, nét chàm tái, có trôn mộc trơ cốt gốm, không được phủ men. Cốt sứ được làm từ đất cao lanh, nung ở nhiệt độ 1300oC cho cốt gốm mỏng mà cứng chắc.
Điểm đặc biệt của cổ vật là sắc “chàm tái” còn gọi là chàm xanh đen đặc trưng của đồ sứ TK 15–17. Cuối nhà Minh đầu nhà Thanh, người Trung Hoa bắt đầu nhập nguyên liệu Chàm từ các nước đạo Hồi về dùng để vẽ trên đố sứ.
Trong thời kì đầu, kỹ thuật pha chế màu còn thô sơ, chưa tốt nên có màu chàm đen hay chàm tái, từ mà giới cổ vật thường dùng. Phải từ thế kỉ 18 trở đi, kỹ thuật pha chế chàm tốt hơn nên màu chàm có sắc xanh tươi hơn.
Đồ sứ thế kỉ 17 có 2 trường phái vẽ: Một là lối vẽ mãnh mẽ, đầy phóng khoáng hay còn gọi là lối vẽ mảng miếng với nét vẽ “lệt bệt”. Hai là lối vẽ nhẹ nhàng, lả lơi, tơ tóc đến từng chi tiết. Nhìn vào bức họa trên đĩa, bạn sẽ thấy nhiều nét vẽ lệt bệt, nhiều mảng miếng ở phần đầu, ở đuôi và các tán cây rất rõ nét.
Bức tranh nhị hùm rất sống động, một đực một cái đang vờn nhau dưới bóng cây tùng mang đậm văn hóa Trung Hoa. Tùng biểu thị cho sự bền lâu và trường tồn. Hùm biểu thị cho vua chúa. Do đó, ý nghĩa biểu trưng ở đây cầu mong sự trường tồn của một chế độ, cầu mong sự vững chắc và hùng mạnh.
Vành ngoài đĩa được bọc bạc trắng kín mép. Nhà sưu tầm này chia sẻ, ban đầu đĩa không được bọc nhưng do người sau muốn bảo vệ, tránh va đập trong quá trình sử dụng nên bọc kim loại bên ngoài như vậy.

Ôi! Thú chơi cổ vật có từ nghìn năm trước đây, được coi là thú chơi đặc thù của tầng lớp quý tộc, tầng lớp trên trong xã hội phong kiến xưa cho đến tận ngày nay. Ngoài yếu tố tiền bạc, người chơi và sưu tầm cổ vật còn cần phải có kiến thức và thời gian trải nghiệm, tìm hiểu nữa.

Anh hùng độc lập


Đĩa sứ vẽ tích Anh hùng độc lập, đường kính 37cm có men xanh trắng, chàm tái với nét vẽ lệt bệt và mảng khối thuộc niên đại khoảng thế kỉ 18-19. Hiện vật là đồ sứ Trung Hoa, thuộc sở hữu của một nhà sưu tầm ở CLB Cổ Ngoạn Gia Long.  Đĩa được phủ men toàn bộ từ miệng cho đến trôn. Bên ngoài được vẽ họa tiết cành trúc. Đế trôn không phủ men, để lộ cốt gốm. Ngoài vành đĩa vẽ họa tiết hình học vòng tròn xung quanh bức họa.

Điểm ấn tượng mang nhiều ý nghĩa của cổ vật là tích Anh hùng độc lập, bức họa chiếm gần hết mặt đĩa với chàm xanh đen (chàm tái), nét vẽ lệt bệt, nhiều mảng khối. Bức họa vẽ một chim đại bàng to lớn với bộ lông mượt mà, đôi cánh to khỏe. Bạn hãy chú ý đôi cánh chim không cụp hẳn mà chỉ hơi khép, cái đầu hơi nghiêng sang một bên với đôi mắt tinh anh, sáng quắc, trong khi đôi chân bám chắc vào thân cây.
Con vật được vẽ hết sức sinh động, trong tư thế vừa hiên ngang, vừa cảnh giác, đứng trên cây tùng già, cổ thụ. Đối diện là ba tảng đá. Bức họa biểu trưng cho tính cách hiên ngang, độc lập, mang tính kiêu hùng của một kẻ sĩ ở đời.
Cái khí khái của con đại bàng nằm ở phần đầu với đôi mắt tinh anh, linh hoạt và thân mình mạnh mẽ, khỏe khoắn.”chủ nhân cổ vật cho biết. Có lẽ vì vậy mà cổ vật gắn bó với bác cả một khoảng thời gian dài như vậy.
Hiện vật có tình trạng toàn lành, phù hợp với những người mạnh mẽ, có tinh thầnvà tính cách khẳng khái, thẳng thắn.
Hiện vật đã được thẩm định bởi Clb Cổ ngoạn Gia long.


Hàn Mai



Đĩa vẽ tích Hàn Mai báo hiệu mùa xuân về trong niềm hạnh phúc, hân hoan của vạn vật hòa cùng đất trời, trôn ghi hiệu đề chữ Ngọc. Được đánh giá vào thời vua Ung Chính.
Hiện vật tương đối lành nguyên. Đĩa vẽ đôi chim y nương đậu trên một cành mai gầy guộc nở hoa với sắc chàm hơi nhạt nhưng tươi sáng và lắng đọng mang phong cách sứ Khang Hy. Đây là men chàm xanh nội địa sản xuất ở Chiết Giang rất thịnh hành vẽ trên đồ sứ vào cuối đời Minh.

Theo các tài liệu nghiên cứu, dưới triều đại Ung Chính (1723-1735) với hai vị quan coi lò kiệt xuất là Niên Hy Nghiêu và Đường Anh, đồ sứ từ lò Cảnh Đức Trấn của lò quan hay lò dân đều rất mịn màng và tinh xảo, trong đó đồ sứ men lam đặc biệt nổi bật, vượt trội hơn cả triều Khang Hy và Càn Long.

Bức họa vẽ ở gần viền đĩa có bố cục đơn giản nhưng nhẹ nhàng, thanh tú, đường nét dịu dàng và ưa nhìn. Cành mai chỉ vắt nhẹ sang vành đĩa như vắt từ một bờ ao nào đó, một hình ảnh cách điệu báo hiệu mùa xuân mới đang đến rất gần.

Hạc rập


Hạc rập là một đề tài được trang trí khá nhiều trên các loại đĩa trà thời Minh. Các loại đĩa trang trí đề tài chim, cây, hoa lá với cách thể hiện có một số điểm khá lạ mắt. Hình chim hai đầu, hai cánh trông như một cặp chim đang bay. Hình cây có hai gốc mọc từ đất lên nhưng cành lá lại xoắn xít, liền nhau. Đề tài này giới chơi cổ vật thường gọi là “hạc rập”, nhưng người Hoa lại gọi là đề tài “vĩnh kết đồng tâm”, vì loại đĩa này người Hoa sử dụng nhiều trong hôn lễ. Thật ra cách trang trí như trên có một ý nghĩa thật sâu sắc, độc đáo được dựa theo điển tích “liên lý chi, tỵ dực điểu” tức “chim liền cánh, cây liền cành” có nguồn gốc Trung Quốc. Nhìn kỹ các hình chim đang bay trong các đĩa này chúng ta thấy rằng chúng luôn có hai đầu nhưng chỉ có hai cánh và hai chân. Tư thế như vậy của các hình trang trí trông giống như một cặp chim đang bay. Thật ra, đây là một đề tài trang trí được rút ra từ điển tích “chim liền cánh” của Trung Quốc để nói về lòng chung thủy, về tình yêu đôi lứa gắn bó không rời. 

Chuyện kể rằng: Có một loài chim màu xanh, sống ở phương Nam, Trung Quốc, chỉ có một mắt và một cánh. Chim trống, mái kết thành một cặp, muốn bay con mái chắp liền cánh với con trống mới bay được. Người ta gọi loại chim này là Tỵ dực điểu (chim liền cánh). Dùng đề tài “chim liền cánh” để trang trí các bát, đĩa dùng hàng ngày dường như người xưa muốn nhắc nhở về lòng chung thủy, về tình yêu vợ chồng son sắt, gắn bó, nương tựa lẫn nhau. Đây quả là cách giáo dục sâu sắc và cũng là một ý tưởng đậm tính nhân văn mà người xưa muốn gửi gắm cho hậu thế. Đề tài cây liền cành cũng có ý nghĩa tương tự như vậy. Nó được thể hiện bằng hình ảnh hai gốc cây mọc từ dưới đất lên và có các cành lá liền nhau. Đôi khi trong một chiếc đĩa, bát người ta thể hiện cùng một lúc cả hai đề tài chim liền cánh, cây liền cành. Điển tích kể rằng Tức thị vợ Hàn Phùng bị vua Tống (thời Chiến Quốc) bắt vào cung ép làm vợ. Hàn Phùng vì uất hận phải tự tử. Tức thị thương chồng, muốn giữ gìn lòng chung thủy và bảo vệ trinh tiết nên đã nhảy xuống lầu cao tự vẫn. Xác hai người chôn gần nhau và trên hai ngôi mộ bổng mọc lên hai cây lạ, cành lá của chúng chụm vào nhau, xoắn xít không rời. Người ta cho rằng đó là Hàn Phùng - Tức Thị hóa sinh để được gần nhau mãi mãi. Về sau điển tích này được thể hiện trên đồ sứ như muốn ca ngợi lòng chung thủy, đề cao tình yêu lứa đôi gắn bó và cũng để thể hiện sự đồng cảm đối với một câu chuyện tình bất tử. Sau này, khi muốn thể hiện nguyện vọng muốn chung sống gần nhau của tình yêu đôi lứa người ta thường nói: “Trên trời, nguyện làm chim liền cánh, dưới đất nguyện làm cây liền cành” (tại thiên nguyện tác tỵ dực điểu, tại địa nguyện tác liên lý chi).