Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

Lim Khim Katy



Khoảnh khắc đời thường trong tranh Lim Khim Katy
Bùi Như Hương
Lim Khim Katy

Lim Khim Katy là nữ họa sĩ trẻ tài năng của mỹ thuật Việt Nam đương đại. Chị chuyên vẽ tranh sơn dầu, xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ 21 bằng các triển lãm cá nhân và các series tranh gây ấn tượng đặc biệt.


* Lim Khim Katy
1978: sinh ra và lớn lên tại TP.HCM, (bố Campuchia, mẹ Việt)
2001: Tốt nghiệp ĐH Mỹ thuật TP.HCM. Hội viên Hội Mỹ thuật TP.HCM
Các triển lãm cá nhân: 2005, 2007– tại Hanoi Studio, HN. 2006– tại Bangkok, Thailand. 2011- tại Macao
Đạt một số giải thưởng và bằng khen về Mỹ thuật.
Có tranh trong các sưu tập trong nước và quốc tế. 



Thế giới hội họa của Katy thường là những con người. Ở đó chỉ người với nhau, cô đơn, trơ trụi, không cảnh vật. Chị vẽ những đàn ông, đàn bà, thợ lao động, những người làm thuê làm mướn…, những người nghèo vô danh, những thân phận lang thang, cơ nhỡ, không gia đình, phiêu dạt khắp nơi trên thế giới.Katy vẽ họ, những người cùng cảnh ngộ, sinh hoạt thành từng tốp như để nương tựa, dựa dẫm, tìm kiếm nguồn an ủi lẫn nhau. Họ cùng đứng- ngồi- ăn- ngủ, các hành vi của nhân vật đôi khi lặp lại hệt như nhau như để khẳng định một sự hiện hữu, tồn tại nhất định nào đó. Và bao trùm lên tất cả là sự trống trải, cô đơn, nghèo nàn, im lặng. Các khuôn mặt căng thẳng, chờ đợi, những đôi mắt lo âu, khắc khoải về tương lai.






Sự cô đơn được nhấn lên bởi những khoảng trống trên tranh, những không gian phi địa chỉ, những màu trắng màu xám lạnh lẽo phi thời gian, hoặc một bầu trời hoang vắng phi định hướng. Và sự hiện hữu mong manh phù du của loài người được thể hiện bằng những khoảnh khắc bất chợt, những hành vi thường nhật vội vã như: ăn nhanh, nghỉ trưa, ngủ gật, đi chợ trong mưa… Đó là những khoảnh khắc ngắn ngủi, nhất thời, luôn ở thì hiện tại, không kéo dài và càng không thể nối tới tương lai. Đôi khi, Katy chỉ để lại cho họ, nhân vật của mình, những khuôn mặt với một đốm linh hồn day dứt khắc khoải ở đôi mắt, được vẽ một cách sống động kỹ lưỡng, tài ba. Còn thì, thân thể họ phiêu phất, nhạt nhòa, không đáng kể, được quệt bằng những nhát màu cũng nhạt nhòa phiêu phất.

 


Tranh của Katy đầy sức mạnh hiện thực, một hiện thực xót xa buồn bã phi nhân bản đang xảy ra nơi thế giới thứ 3, nơi những nước nghèo lao vào quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa một cách mù quáng, ào ạt, nơi những con người đang mất dần ruộng đất, tha hương kiếm sống, ăn ở tạm bợ ven lề đô thị và các khu công nghiệp lạnh lùng vô cảm. Sức mạnh hiện thực này hơn một lần thuyết phục bởi khả năng truyền đạt hình họa vững chãi cũng như bút pháp sơn dầu có nghề của họa sĩ. Tranh của Katy mang dấu ấn cá nhân riêng. Nghệ thuật của chị chạm tới cảm xúc của người xem bởi nó vẽ chính về con người, về hiện thực xã hội, về đời sống nhân sinh, về nỗi buồn lớn lao và sự cô đơn không dứt của nhân loại. Katy vẽ con người bằng cả trái tim, lòng nhân ái và sự cảm thông sâu sắc của người nghệ sĩ

Triển lãm ĂN VÀ NGỦ 
(theo Soi.today)
Tác phẩm của Lim Khim Ka Ty nêu bật tầng lớp lao động Việt Nam và tìm hiểu vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam. Trong các tranh về tầng lớp lao động, chị miêu tả theo phong cách hiện thực tập trung vào sự gian khổ gắn liền với đời sống của người lao động nhưng cũng tràn đầy tình cảm và sự cảm thông đối với hoàn cảnh của họ.

Sau một đám cưới, 2010, sơn dầu, 150-190cm, từ gallery Craig Thomas

(nhưng không rõ có triển lãm trong đợt này không?)


Trong các tranh về người phụ nữ, Ka Ty miêu tả sự buồn vui lẫn lộn và gánh nặng bất bình đẳng hôn nhân và gia đình đặt lên người phụ nữ Việt Nam. Tác phẩm trau chuốt, tránh được sự sáo rỗng, rọi ánh sáng vào những con người đã tạo nên phần lớn dân số Việt Nam nhưng cuộc sống và sự đấu tranh của họ chưa được miêu tả nhiều trong mỹ thuật quốc gia.
Ka Ty sinh tại thành phố Hồ Chí Minh, mẹ là người Việt Nam, cha là người Campuchia. Chị đã có triển lãm cá nhân ở Thái Lan, Macao và Việt Nam, và cũng tham gia nhiều cuộc triển lãm nhóm ở Việt Nam và nước ngoài. Ka Ty đã được trao nhiều giải thưởng cho những thành tích trong nghề nghiệp mỹ thuật của mình.
*
Mời các bạn đọc bài viết sau của Quang Việt:

Ngủ say, sơn dầu, 120 x 150cm, ảnh từ Asia Fine Art

VIẾT TẶNG LIM KHIM KATY
Các tác phẩm của Lim Khim Katy là sự pha trộn bất thường, khó nắm bắt, của nhiều phong cách hội họa, từ hiện thực, biểu hiện đến siêu thực, phát triển trong mối quan hệ kín đáo và có chừng mực giữa nghệ thuật hàn lâm và “pop-art”, giữa thực tại nhạy cảm và đời sống nội tâm của con người.
Sinh ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong gia đình, Lim Khim Katy là người con duy nhất trong số năm người con nối theo nghiệp cha – một họa sĩ “chính quy”, gốc người Campuchia, sống bằng nghề chép tranh. Mẹ Katy người Việt, gốc Bắc, quê Nam Định.

“…Năm 2001- Katy kể – tốt nghiệp đại học, chưa có việc làm, mà cũng không biết làm gì, nên ở nhà phụ ba chép tranh, vào ban ngày. Tối đến, thức khuya một chút, để vẽ, những gì mình suy niệm, những gì mình trăn trở… Đó là thời gian sung sướng nhất, vì mình có thể trải lòng mình trên tấm toan, chỉ mình và toan.”
“… Ba năm sau – Katy kể tiếp – triển lãm cá nhân lần đầu tiên tại Hà Nội. Từ đó, sự nghiệp sáng tác đi vào chuyên nghiệp.”

Về khuynh hướng nghệ thuật, Katy nói: “Đi vào đời sống thường nhật của những người lao động nghèo. Gặp, lắng nghe những câu chuyện, những tâm sự, những khó khăn của họ… – để rồi chuyển tải những điều đó lên tranh, bằng tâm hồn và nội lực của chính mình.”

Mùa lụt, sơn dầu, 120 x 100cm, ảnh từ Toriizaka Art
Sớm trải nghiệm học vấn nhà trường thông qua các đề tài đặc trưng giai thoại, trên những “pastorales”, như: Nghỉ trưa, Thư xa, Chuyện đàn bà, Đàn bà nói chuyện đàn ông – Lim Khim Katy, trên thực tế, đã vượt qua rất nhanh ảnh hưởng thường thấy của “những hình thái đã định sẵn” (formes écrites) – và, bắt đầu từ những Sự im lặng (2001), Biển đen (2005), cho đến loạt tranh gần đây: Luật mới, Những người lái xe ôm, Cuối ngày, Lụt hoặc Làm dâu, Tâm sự, hoặc những bức tranh phong cảnh: Sau cơn mưa, Trưa vắng, v.v. – có thể nói, Katy đã trở thành một họa sĩ hy hữu, có vị trí đặc biệt ở phía Nam – người thể hiện được một cách độc đáo và chân xác cái thần, chất thơ, những thoáng nghiệt ngã của thiên nhiên, môi trường và của cuộc sống thực của con người, “con người sống, với niềm vui, sự đau khổ, lòng kiêu hãnh, phản xạ, cảm xúc, cơ bắp” (như Courbet từng nói) – mà tất cả, về thực chất, chủ yếu đều bị chi phối bởi một nền tảng, không gì khác, ngoài “nền kinh tế hộ gia đình” (household economy), ở nông thôn, và thậm chí, ở thành thị nước ta hiện nay.


Biển đen, sơn dầu, 130 x 180cm, ảnh từ Asia Fine Art

Trong phố, sơn dầu, ảnh từ Durlache Fine Art

Bữa trưa hàng ngày, 110 x 120cm, ảnh từ Asia Fine Art

Vội, 90 x 100cm, ảnh từ Asia Fine Art

Những đám đông, những tốp người, trên tranh Lim Khim Katy – hẳn không phải là những “đám đông cô đơn” như trong cách nhìn của triết học phê phán. Họ dường như có chung một phương thức sống, có chung một mục đích sống, chung một nhân sinh quan, giống như biết bao người. Đôi khi, các nhân vật – hình tượng, cứ trở đi trở lại, trong những bố cục xây dựng theo lối “dàn trang in” và phối cảnh trực diện (perspective frontale) – bỗng hiện lên như là “những cột trụ khiêm nhường của sự sống”.
Là một họa sĩ có nhãn lực và trực giác nhạy bén, lại có biệt tài điều khiển nét bút thật đậm, chắc, khi quánh ngọt, khi xù xì, gân guốc – Lim Khim Katy đặc biệt hay ở những nét phá ngang trên ranh giới hình và nền, làm rung rinh ảo giác về không gian. Trắng và đen thường đóng vai trò tác nhân chủ đạo về “thấu thị” (visionnaire), phối hợp với các sắc tinh luyện của be, vàng thổ đậm, lục đậm, nâu đậm, lam biếc, đỏ tía – nâng hiệu quả hiện thực lên tầm vóc “siêu hình”, gây cảm giác ma thuật về khách thể, mở ra thế giới của những giấc mộng, chập chờn giữa đêm và ngày.


Dị mộng, 120 x 110cm, ảnh từ Asia Fine Art
Hồ vắng, 150 x 120cm, ảnh từ Craig Thomas Gallery

Sinh thời, họa sĩ bậc thầy Bùi Xuân Phái đã từng nói: “Vẽ để ai ai cũng nhận ra ngay người vẽ, mà vẽ lại không đẹp, thì vô nghĩa”.
Lim Khim Katy, bằng những yếu tố sáng tạo mới và riêng biệt – đã có lý do để tự khẳng định cho riêng mình một hình thái hội họa đẹp, giàu tính cá nhân. Và hơn thế – đó còn là một hình thái được sinh ra từ sự thật nhân bản và từ lòng thương yêu con người.


Khoảnh khắc tuyệt vời, 110 x 120cm, ảnh từ Asia Fine Art
Nghỉ trưa, 2011, sơn dầu, 120 x 150cm

– Quang Việt
(Tạp chí Mỹ thuật, 3. 4. 2009)


Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Una musica brutal – Gotan Project

Antonio Banderas và Jessica Alba

Bà Tám giới thiệu: "Một màn tango thật tuyệt vời, xứng đáng bỏ ra 4 phút 12 giây. Antonio Banderas và cô gái (Jessica Alba ?) có đôi chân đẹp vô cùng trong bài Gotan Project. Xin mời xem."

Cô Nhỏ bàn: "Em thích cái cách thể hiện cảm xúc trên gương mặt họ nữa."

VanPham tôi, đã được xem khi trước trên yahooblog (Chuyện Bâng Quơ- của Bà Tám). Nay xem lại, miễn bình. 
Cảm ơn bà Tám và cô Nhỏ thêm cho tôi cảm xúc tuyệt vời.

Xin giới thiệu cùng các Bạn.
  Nào, hãy mở nhạc lên, bắt đầu khiêu vũ với nỗi đam mê và rũ sạch mọi ưu phiền!  

Mời xem thêm Richard Gere và Jenniter Lopez đi một bản tango khác cũng không kém phần hấp dẫn. 
Cũng như niềm đam mê, sự cuồng nhiệt, những tình cảm sâu lắng… Tất cả cùng hòa quyện theo bước chân uyển chuyển với những điệu nhảy thật đẹp trong Shall we dance? của Miramax Films.

PS. ( Theo Đọt chuối non)

Gotan Project là tên của một ban nhạc ở Paris,gồm Philippe Cohen Solal (Pháp), Eduardo Makaroff (Argentina), và Christoph H. Müller (Thụy Sĩ).

Gotan Project được thành lập năm 1999. Đĩa phát hành đầu tiên là “Vuelvo Al Sur/El Capitalismo Foraneo” năm 2000, theo sau với album La Revancha del Tango năm 2001.

Nhạc của gotan Project là nhạc Tango, nhưng nhanh hơn tango cổ điển, nghe như soft rock, dùng nhiều nhạc cụ điện tử, và nhịp điệu cũng sôi động hơn tango cổ điển nhờ dùng nhiều nhịp gõ, như trống conga và bongo, chập chả… Loại tango này còn gọi là Nuevo Tangpo, tức là Tango Mới, hay Eleoctrotango (tango diện tử).
Loại Tango Mới này làm tango trở thành sống động với thế hệ @ và đã đưa tango trở về vị thế nhạc khiêu vũ dòng chính cho thê hệ trẻ.
Tên Gotan Project là từ Tango Project năm 1982 của một số nhạc sĩ cổ điển Mỹ, họp lại để làm một tango album tên la Tango Project, gồm nhạc của Carlos Gardel và Alfredo Le Pera, và đã được dùng trong các phim khá nỗi tiếng như Scent of a Woman (tài tử Al Pacino) và True Lies (tài tử Arnold Schwarzenegger).
Vì mức thành công của Tango Project, nhớm 3 người Solal, Makaroff và Muller (1999) quyết định dùng một cái tên để tỏ lòng kinh trọng Tango Project, và họ đổi chữ Tango thành Gotan.

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

Ngoài trời lại có trời

Ngoài trời lại có trời - một vài thu hoạch sau khi đọc chưởng của Kim Dung
Vương Trí Nhàn

I. Đặt chưởng vào trong dòng chảy liên tục của tiểu thuyết Trung Hoa

Khi đi vào nghiên cứu lịch sử bộ môn tiểu thuyết, không hẹn mà nên, các nhà nghiên cứu ở phương đông lẫn phương Tây nói chung đều xác nhận rằng thật ra, ban đầu thể tài này là một thứ văn chương bị coi rẻ và chỉ dần dần, trong quá trình lâu dài của lịch sử, nó mới trưởng thành để trở nên ngang hàng với các bộ môn nghệ thuật khác.

Pearl Buck, nhà văn Mỹ
Pearl Buck, một nhà văn Mỹ có công giúp cho bạn đọc châu Âu làm quen với con người và đất nước Trung Hoa, trong diễn văn Nobel năm 1938, còn kể lại một cách đầy đủ hơn. Điều đầu tiên mà bà lưu ý người đọc khi tiếp xúc với tiểu thuyết Trung Hoa, là một sự thật: “Tiểu thuyết Tàu xưa nay không phải là một nghệ thuật và chưa có một nhà tiểu thuyết Tàu nào tự coi mình là một nghệ sĩ - bao giờ ta cũng phải nhớ đến sự nhận xét đó, khi ta muốn hiểu rõ lịch sử cùng là địa vị rất quan trọng của tiểu thuyết trong đời sống của dân chúng Tàu” (dẫn theo bản dịch của Lê Đình Chân, in trên Thanh Nghị, 1944. Từ đây trở xuống các ý của Pearl Buck đều dẫn theo bản này).


Sở dĩ như vậy, bởi vì thứ văn chương được các nhà nho ở nước Trung Hoa cổ công nhận phải là thứ văn chương cao cả, thâm thuý, được hình thành theo những lề luật khá rắc rối.

Người ta đọc thơ, phú, khi ngồi một mình trong phòng thanh vắng.

Trái lại, tiểu thuyết là thức ăn của đám đông “Trong một xóm một trăm người, khó lòng tìm được đến quá một người biết đọc. Những ngày nghỉ, hay là những buổi chiều khi công việc đồng áng đã xong, anh nào biết chữ, giở một quyển truyện đọc to cho mọi người nghe thấy. (...) Những mẩu chuyện nho nhỏ mà anh ta kể to cho mọi người nghe chính là gốc của những tiểu thuyết sau này”. 

Nói cách khác tiểu thuyết đến với người ta ở những nơi công cộng, ngay ngoài đường đi lối lại ồn ào tấp nập.
Cách tồn tại này, tưởng là chuyện vặt, sao cũng được, song kỳ thực đã ảnh hưởng đến nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết. Một quyển sách được xếp vào cái thể tài đại chúng này vẫn có thể sâu sắc, cao thượng, song bề ngoài nó phải gợi cảm giác thông thường phàm tục, ai nghe cũng hiểu, ai đọc cũng bị lôi cuốn.

Một bộ tiểu thuyết nếu được viết một cách chặt chẽ, kỹ lưỡng, gạn lọc quá, sẽ ngăn cản sự tiếp nhận của đại chúng. Chẳng những thế, những gì không bình thường, những gì huyền hoặc khó tin, thậm chí do bịa đặt mà có, vốn không được phép xuất hiện trong các thể văn gọi là nghiêm chỉnh, lại luôn luôn có chỗ đứng đàng hoàng trong tiểu thuyết.
Có vẻ như giữa người viết và người đọc ở đây sớm hình thành một giao ước: trong khi các loại sách, mà các nhà nho coi trọng (được họ gọi chung là văn lý), thường khi có tính cách giáo huấn, thì tiểu thuyết không bị ràng buộc bởi cái ách đó.
Ngược lại, trước tiên nó phải có tính cách giải trí. Nó không được làm người ta mệt. Có thể, sau khi nghe đọc sách, người đọc cũng vân vi nghĩ được nhiều điều cao đẹp, nhưng lúc tiếp xúc với tác phẩm, cái chính là người ta được hồi hộp theo dõi mọi diễn biến xảy ra, lo cho nhân vật này, căm ghét bực bội vì nhân vật khác.

Có thể nói, sự tự do của người sáng tác tiểu thuyết rất rộng, chỉ có một quy phạm duy nhất mà họ phải tuân theo, là tạo nên được sự hấp dẫn. Suốt trường kỳ lịch sử, sự rộng rãi trong quy phạm như thế này cũng được các nhà tiểu thuyết khai thác triệt để, các loại tiểu thuyết nối nhau xuất hiện mà thường khi chỉ cần đọc các "nhãn hiệu" đặt bên cạnh đầu đề, người ta đã thấy một phần nội dung: Nào là tiểu thuyết thần ma, tiểu thuyết quái dị, tiểu thuyết truyền kỳ; bên cạnh tiểu thuyết nhân tình thế thái, lại có tiểu thuyết châm biếm, tiểu thuyết khiển trách, tiểu thuyết tài tử giai nhân v.v... (các thuật ngữ này đều lấy từ Lịch sử văn học Trung Quốc của Viện khoa học xã hội Trung quốc và Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc của Lỗ Tấn).

Một điều cũng nên chú ý là trong số sách được phổ biến rộng rãi một phần đáng kể là các tiểu thuyết võ hiệp. Tại sao như vậy? Có thể là vì loại truyện này linh hoạt sôi động, dễ theo dõi, nó là món ăn tinh thần hợp với khẩu vị của đám đông người đọc, cuộc sống vốn quá vất vả mà lại đơn điệu. Một điều cũng có thể nói chắc nữa là ở đây có lý do truyền thống: Trung Hoa là một dân tộc thượng võ, họ thích đưa những cuộc “quyết đấu” lên bình diện văn hoá. Không ai bảo ai, song dường như các nhà viết loại tiểu thuyết này đều nhận ra rằng đi vào miêu tả thế giới của những người hoặc tay không, hoặc cầm đủ thứ gươm đao để bảo vệ mình, và tiêu diệt kẻ thù, thật ra là một cách tốt nhất để mô hình hoá cuộc đời và giúp cho người ta nhận chân cái điều đơn giản: đời là một cuộc cạnh tranh khôn sống mống chết (hoặc nói như cách nói thời nay: đời là một cuộc chiến đấu .


Từ cuối thế kỷ XIX, trong cơn biến động chung của lịch sử thế giới, sau khi Trung Quốc bị nhiều nước phương Tây đến xâu xé, đất nước có truyền thống lịch sử lâu đời này lại bị lôi cuốn vào một cuộc vận động lớn là Âu hoá. Hướng về phương Tây, làm theo mẫu mực phương Tây, chẳng những âm nhạc, hội hoạ, sân khấu của Trung Hoa mà cả tiểu thuyết cũng có biến chuyển. Đại thể, có thể thấy hai khuynh hướng:

Một bên là các nhà văn hấp thụ những ảnh hưởng tốt đẹp từ Balzac, Dickens, Tolstoi viết nên những tiểu thuyết theo quy phạm mới. Đứng ở hàng đầu của loại tiểu thuyết gia này là những tên tuổi mà đây đó, ở Việt Nam, chúng ta đã biết: Ba Kim với Gia đình,  Mao Thuẫn với Nửa đêm, Lão Xá với Tường Lạc đà v.v...


ARTHUR CONAN DOYLE

Mặt khác, trong đám văn nhân len lỏi ở các đô thị nhỏ, viết cho những đám đông nghèo khổ đọc, nhiều người vẫn nuối tiếc các khuôn mẫu của tiểu thuyết cũ, nhất là khi người ta lại được tiếp thêm một dòng tiểu thuyết cũng có tính cách bình dân của phương Tây là tiểu thuyết trinh thám, mà Conal Doyle là một ví dụ. Và họ vẫn viết, theo quy phạm cũ, tuy ít nhiều đã có đổi khác.



Tiểu thuyết võ hiệp hiện đại- trong đó có chưởng- ra đời, là để lấp đầy cái khoảng không gian mà cả người viết lẫn người đọc vẫn cảm thấy trống vắng khi quá nhiều tác giả tiểu thuyết chạy theo xu thế Âu hoá.



Sau cái thời của những nhân vật sử dụng tới thập bát ban võ nghệ, là thời của các nhân vật phun kiếm qua lỗ mũi (ở Việt Nam, một người Trung Hoa sang lập nghiệp là Lý Ngọc Hưng đã viết hàng loạt tiểu thuyết khai thác triệt để loại võ công này, từ đó hai chữ kiếm hiệp đã có chỗ đứng riêng trong trí nhớ nhiều lớp bạn đọc).


Tới chưởng thì bề ngoài võ công lại được giản lược một bước nữa.

Nói một cách thô thiển nhất thì chưởng là loại tiểu thuyết võ hiệp trong đó các ngón đòn đánh ra là từ bàn tay. Song những cuộc tìm kiếm, trả thù không vì thế mà giảm bớt tính quyết liệt, những cuộc tỉ thí không vì thế mà bớt đổ máu, ngược lại, con người võ hiệp Trung Hoa trước sau vẫn là một mô hình tối ưu, giúp cho người ta thấy những gian truân, nặng nhọc, đồng thời là những hào hứng kỳ lạ của cái gọi là kiếp người.


Trong bài tựa bộ Thuỷ hử, tác giả Thi Nại Am (đúng hơn, chỉ nên gọi ông là một trong những tác giả vì bộ tiểu thuyết này do nhiều người đóng góp, trước khi hoàn chỉnh) bộc bạch: “Truyện tôi viết đây, tôi mong cho ai ai xem cũng hiểu (...) than ôi! sinh ra đời rồi lại từ giã cuộc đời! Người đời sau bình phẩm sách này ra sao, làm gì có cách để biết. Mà kiếp sau lộn làm người khác xem sách này có nhẽ cũng quên là kiếp trước chính mình đã viết ra nó. Mà liệu kiếp sau ta có biết chữ, để đọc nổi sách như bây giờ? Thế thì hơi đâu mà quan tâm đến sách ta làm cho thêm bận trí!”.



Trước mắt chúng ta, người cầm bút viết văn hiện ra như một con người có chút hư vô, để hết tâm sức vào việc sáng tác, nhưng chỉ xem nó là một thứ trò chơi, không đánh giá nó quá cao, không tính chuyện gửi gấm gì hết. Song chính sự nhẹ nhõm đó lại giải phóng sức sáng tạo đến mức tối đa, khiến Thuỷ hử trở thành một kiệt tác của nền văn học Trung Quốc. Trong khi bao kẻ cầm bút suy nghĩ cứng nhắc, dù có nhét vào đầu óc hàng bồ chữ và tự cho mình là văn nhân tài tử, dùng những thể văn sang trọng cao quý như thơ, như phú để lập thân, rút cục cũng chỉ tạo ra thứ văn chương nhạt nhẽo vô vị, thì những La Quán Trung, Thi Nại Âm, Cao Ngạc, Ngô Kính Tử v.v... dám chọn cho mình một con đường khác: Họ làm việc ngay trên cái thể tài mà thiên hạ coi thường. Họ không ngại đằm mình vào giữa những chuyện tưởng như dông dài, bông phèng, đùa cợt. Nói như một câu danh ngôn phương Tây, dưới bàn tay họ, chú vịt què xấu xí đã trở nên con thiên nga xinh đẹp - từ trong vô số những tiểu thuyết đã được truyền tụng (riêng số được in, có người đã nói lên tới vài ngàn), rút cục Thuỷ hử, cũng như Hồng lâu mộng, Tây du ký, Kim Bình Mai... vĩnh viễn còn lại như những đài kỷ niệm trong lịch sử văn học, đứng ngang hàng với Ly Tao, Sử ký, thơ Đường v.v...



Một diễn biến tương tự cũng đã xảy ra, trong nền tiểu thuyết thông tục hiện đại. Ngoạ Long Sinh và Lương Vũ Sinh, Nghê Khuông và Mộ Dung Mỹ, Nam Kim Thạch và Gia Cát Thanh Vân, Độc Cô Hồng và Trần Thanh Vân... số tác giả viết chưởng ở Hồng Kông và Đài Loan trước đây không phải là ít, và ban đầu tên tuổi một người như Kim Dung dường như lẫn đi giữa bao ngòi bút lấy lẽ sống ở việc “mua vui cho thiên hạ”. Không phải là Kim Dung không ý thức nổi tình cảnh của mình. Đã nhiều lần, ông phải đứng ra biện hộ cho bản thân và cái thể tài mà mình sử dụng. Thế nhưng, ở đây lịch sử văn học vẫn có sự công bằng, rút cục nhà văn tài hoa và uyên bác này không lẫn đi giữa mọi người, ngược lại chẳng những tác phẩm được in ra với số lượng kỷ lục, mà bản thân ông được giới nghiên cứu công nhận như một nhà văn cổ điển. Với Kim Dung, tiểu thuyết Trung Quốc tìm được người nghệ nhân thành thục trong tay nghề. Thể tài đưa ông lên đài vinh quang, mà ông cũng giúp cho thể tài tự khẳng định.

II. Tính cách hiện đại



Như Pearl Buck trong câu chuyện nói trước Viện hàn lâm Thuỵ Điển (1938) đã ghi nhận, cái lạ của tiểu thuyết Trung Hoa là trong khi tồn tại trước tiên trên đường phố, như một thứ văn chương truyền miệng, nó lại thích phiêu lưu tới một khu vực đề tài mà đám đông dân thường không rành, song họ tò mò muốn biết, và sẽ truyền tụng nhau như một ít điều bí mật, đó là đề tài lịch sử. Người Trung Quốc vốn có ý thức sâu sắc về sự tồn vong của xứ sở như một quốc gia, và nền sử học của họ được hình thành thuộc vào loại sớm nhất trên thế giới. Nhưng bên cạnh loại lịch sử công khai, lịch sử chính thống, trong đời sống xã hội nơi đây thường vẫn lưu truyền những câu chuyện đồn đại, mà tiếng chuyên môn gọi là ngoại sử.


Trong khi chính sử quan tâm tới những việc lớn, ở trên mặt tiền của những biến thiên xã hội, thì ngoại sử đi vào hậu trường “bếp núc” của cung đình, việc lập các ngôi vua đã trải qua đấu đá như thế nào, những ai tranh chấp với ai, đằng sau mỗi sự hưng vong đâu là những đòn đánh nham hiểm và những việc làm ám muội. Khó lòng nói rằng ngoại sử bao giờ cũng chính xác, hẳn nó đã bị méo mó đi do sự xuyên tạc khi vô tình khi cố ý của những người kể, song nó lại khiến người nghe thích thú, và giúp họ, qua đó, hiểu thêm về sự đời rắc rối.

Chính loại ngoại sử này có liên quan nhiều đến tiểu thuyết, từ các mẩu chuyện rời rạc chắp vá, người ta đã dựng lại thành những bộ tiểu thuyết “diễn nghĩa” mà dù chỉ một phần nhỏ được dịch ra tiếng Việt, song cũng đã cho bạn đọc ở ta có được một ý niệm liên tục về lịch sử nước Tầu (tạm liệt kê sơ bộ như sau: Phong thần, Hán Sở tranh hùng, Thuyết Đường, Tiết Đinh San chinh Tây, La Thông tảo bắc, Tống Nhạc Phi, Tống Địch Thanh, Thuỷ Hử, Càn Long du Bắc, Càn Long du Giang Nam, Thanh Cung mười ba triều v.v...).

Cho đến khi chuyển sang thời hiện đại, các loại tiểu thuyết khác nhau như kiếm hiệp, như chưởng đều tiếp tục khai thác cái thế mạnh này. Truyện của Kim Dung thường xoay quanh mối quan hệ giữa Trung Quốc với các dân tộc chung quanh, như người Khiết Đan, và trong một vài trường hợp, có dính đến vua Càn Long. Việc trở lại với lịch sử mang lại cho các trang sách một sắc thái cổ kính quen thuộc, trong khi vẫn dành chỗ thoải mái cho ngòi bút nhà văn lui tới để phô diễn những quan niệm riêng về những điều bạn độc quan tâm, về thế giới quanh ta, về kiếp nhân sinh, và bao chuyện cụ thể khác.


Thế giới , mối quan hệ giữa con người và thế giới



Trên nét lớn, người ta thể tạm dựng nên cái bộ khung chủ yếu làm nên cốt truyện của một cuốn tiểu thuyết võ hiệp cổ điển: Thiên hạ đang thái bình thì có một bọn gian thần dối vua hại nước, làm chuyện thoán nghịch. Các bậc công thần bị hại. Con em họ phải lẩn trốn đây đó, rồi tụ tập lại, bàn chuyện khôi phục chính nghĩa. Các tập sách thường khép lại với việc phái chính thống trở lại cầm quyền. Và một giai đoạn thịnh trị mới bắt đầu. Nhìn chung, khái niệm triều đình chính thống đóng vai trò trung tâm trong các tiểu thuyết võ hiệp cổ điển. Bởi triều đình là một thứ vật chuẩn, quy tụ những nỗ lực của “chúng anh hùng”, cũng tức là tạo nên một khuôn khổ cho mọi hành động. Người anh hùng trong truyện võ hiệp xưa có một mục đích lớn lao để mà tin, và toàn bộ cuộc đời của họ được tổ chức để thực hiện cho được mục đích đã định đó.



Về phương diện này mà xét, chưởng của Kim Dung không hổ là một sản phẩm của thế kỷ XX, nghĩa là một thời đại đa đoan phức tạp, nó đòi hỏi ở con người một nhận thức và một cách ứng xử thời trước không ai nghĩ tới. Thay cho triều đình, cái mà người ta bắt gặp trong chưởng là cả võ lâm, một cái tên khác để chỉ xã hội. Bề ngoài thì võ lâm bình thường không có chuyện gì. Nhưng trong lòng nó, biết bao xao động đang xô đẩy, mà cuộc vận động lớn nhất, là các phe phái đua nhau đi tìm những bí kíp người xưa để lại, những mong trùm lấp lên mọi môn phái khác. Có điều mọi mong mỏi loại đó chỉ là ảo tưởng. Theo như cách nói của một người mê chưởng là Đỗ Long Vân (trong cuốn Vô Kỵ giữa chúng ta, Sài gòn 1968), thì võ lâm giờ đây trở nên một thế giới vô cùng vô tận, và quan trọng hơn là đã mất trung tâm; cái thực thể xưa kia tưởng là thống nhất, nay thường xuyên chia năm xẻ bảy. Cho đến cách hiểu về các bí kíp cũng không nguyên vẹn nữa, mà có thể nói mỗi người có một cách hiểu riêng.



Hơn thế nữa, chẳng những cái đích để con người hướng tới khác đi, mà nay là lúc bản thân con người võ hiệp cũng đã đổi khác.



Gần như ngay từ khi sinh ra, nhân vật trong truyện võ hiệp cổ đã được quy định rõ rệt: họ thuộc về một dòng giống như thế nào, họ phải làm gì mới xứng đáng là người anh hùng. Trong quá trình hành động, ở họ, các ý niệm chính tà hết sức rạch ròi, giữa cái thực và cái giả có một sự tách bạch phân minh đến không ai lầm lẫn được.


Về phần mình, nhân vật chính trong chưởng Kim Dung, kể từ Trương Vô Kỵ trở đi, quả không có được cái may mắn đó. Trong không ít trường hợp, trước mắt chúng ta, là một thiếu niên thật thà, hoặc là nạn nhân của những ân oán trước đây, nay phải băn khoăn “giải mã” tức là đi sâu vào quá khứ của mình, nhờ đó khám phá ra thế giới. Nhưng quá trình học hỏi và hành động này không suôn sẻ như người ta mong đợi.

Càng đi sâu vào quá khứ để hiểu lại lai lịch mình, người ta càng nhận ra bao điều mù mờ, cũng như càng đi sâu vào thế giới, con người càng nhận ra sự xa lạ của thế giới.

Sự phân tuyến rành mạch chính tà không còn.

Những người thuộc chính phái cũng ghen tị, thù oán, tranh chấp với nhau, và khi cần họ cũng tàn tệ, độc ác sẵn sàng thanh toán nhau, dù vẫn luôn miệng nói đạo đức.

Trong khi đó, những kẻ thuộc tà phái, tuy có mang tiếng là bất nhân, độc ác, nhưng để bù lại, họ sòng phẳng rõ ràng trong quan niệm và ứng xử. Họ không làm ra vẻ thế này thế khác để làm mẫu cho thiên hạ. đôi khi chẳng qua vì ham hố đuổi theo mục đích, và muốn tranh quyền với cả tạo hoá, nên họ mang tiếng vậy.

Sau khi có dịp tiếp xúc với đủ loại chính tà, những nhân vật chủ đạo trong Kim Dung (thường khi là những con người thông minh, nhạy cảm, trong lòng đau đáu một niềm tha thiết, muốn nhận cho rõ bản chất cuộc đời) không khỏi cảm thấy đơn độc, tự nhủ chỉ còn có cách sống theo lương tri của mình, và tìm tới những ý tưởng vừa thiết thực, vừa siêu thoát.
Vượt qua nỗi hoang mang ban đầu, một nhân vật loại này đã đưa ra một lời nguyền, dùng làm phương châm xử thế: “ Thà làm chính tà còn hơn là nguỵ quân tử.”


Nói theo thuật ngữ của vật lý lượng tử, thế giới trong chưởng như vậy là một thế giới bị chi phối bởi nguyên tắc bất định, luôn luôn người ta có thể bắt gặp nó khác đi, nếu đứng ở những góc nhìn khác nhau. Và nói như Đỗ Long Vân, tiểu thuyết của Kim Dung chính là lời tự sự của một thuở giao thời, từ thời của ổn định, thanh bình, sáng thời của nghi vấn, bất trắc.




Nhân vật



Có lần nhân giải thích cách viết của mình, Kim Dung nhận xét: nói tới văn chương là phải nói tới bịa đặt. Thơ Lý Bạch có câu: Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn.Thời nhà Đường, làm gì có phương tiện một ngày đi hàng ngàn cây số như vậy? Thế thì chưởng mà ông xếp vào dòng tiểu thuyết lãng mạn - bịa đặt có gì là lạ!

Tuy nhiên, ông tin rằng những gì ông viết ra vẫn thuộc loại văn chương thứ thiệt, bởi lẽ, đọc tác phẩm của ông, người ta thấy rõ những con người. Hàng chữ sau đây được ông cho in đậm trong một bài viết: “Một bộ tiểu thuyết võ hiệp không xây dựng nổi một vài nhân vật cho ra trò, mà chỉ trông cậy vào tình tiết mạo hiểm vá víu, cùng những cuộc ác đấu kéo từ cuốn này qua cuốn khác, thì nhất định bộ tiểu thuyết võ hiệp đó không thể lôi cuốn bạn đọc”


Ở chỗ này, Kim Dung đã chạm tới một chỗ mạnh của bản thân, một thế mạnh thực thụ, mà không ai có thể phủ nhận.


Vương Ngọc Yến và Đoàn Dự, Trương Vô Kỵ và Hồng Thất Công, Chu Chỉ Nhược và Tạ Tốn v.v... Với những người không đọc chưởng, thì các tên này không gợi ra một ý niệm gì cả, nhưng với những người có dịp dừng lại ở những trang sách của Kim Dung, gắn với mỗi cái tên ấy là một tính cách, người này tiêu biểu cho lại ngay thẳng thật thà, kẻ kia là cái tên chung để gọi một mưu đồ ác độc v.v... Người ta đã có nhiều bằng chứng để xác nhận tính phổ biến của các nhân vật chưởng: Sau khi đọc xong sách của Kim Dung, một số bạn đọc của ông nhận ra rằng khá nhiều người đời rất giống với nhân vật của ông, và họ liền lấy tên nhân vật để gọi người đã gặp: ông A. là Mộ Dung Phục, ông B. có nhiều nét của Vi Tiểu Bảo. Ai người bề ngoài tỏ ra cao thượng nhưng bên trong giả dối là Nhạc Bất Quần. Còn Tả Lãnh Thiền thì dành để chỉ kẻ thích xưng hùng xưng bá, doạ dẫm người khác.


Đối với một nhà tiểu thuyết, đấy là cả một vinh dự!


Vả chăng mặc dù là những con người của võ thuật, và có thể, trong khoảnh khắc, xuống một thế võ, giết chết cả ngàn sinh mạng song nói chung, họ vẫn có những vui buồn sướng khổ thông thường. Âu Dương Phong nao lòng khi nghe một đứa bé gọi là cha. Đoàn Dự vừa trông thấy Vương Ngọc Yến đã cảm thấy bị thu hết hồn vía. Hoàng Dược Sư đi khắp cùng trời cuối đất tìm con, và lúc nào cũng nhớ đến người vợ thuỷ chung sớm qua đời...

Lại nữa, nếu xét cho kỹ, người ta thấy các nhân vật trong chưởng, với tất cả sự đam mê sẵn có, làm bao nhiêu chuyện kinh thiên động địa, nhưng suy cho cùng, không phải bao giờ họ cũng làm chủ được số phận. Thường khi, họ trở thành một cái gì mà họ không bao giờ nghĩ tới.

Trong Thiên Long bát bộ, có một chi tiết rất nhỏ: một lần các chiến hữu thân thiết của Kiều Phong có dịp gặp gỡ, trong đó viên phó tướng của Kiều Phong dẫn tới người vợ rất đẹp.

Hầu như tất cả mọi người trong bàn tiệc hôm đó đều cùng trầm trồ khen ngợi, và nhất cử nhất động của họ đều bị chi phối bởi cái nhìn của người đàn bà này.
Chỉ có Kiều Phong với tâm thế của một bậc anh hùng cái thế, mải lo việc lớn, chả để ý đến người vợ của chiến hữu làm gì. Thế là trong lòng bà ta nảy sinh một mối hận thù, và bà ta thề sẽ phá tan cái băng đảng mà Kiều Phong đã dày công tập hợp. Dù tán thành hay không, cũng phải công nhận rằng cách cắt nghĩa lịch sử của Kim Dung như vậy khá táo bạo. Giữa cái tưởng như vô cùng lớn và cái tưởng như vô cùng bé, có một sự tiếp cận ngẫu nhiên, từ đó, tạo nên một sự bùng nổ trong hành động của con người mà không một lô gích thông thường nào cắt nghĩa nổi. Nhưng tất cả những bột phát tuỳ tiện không định trước đó lại có tính tất yếu, nó là cái bền vững nhất trong mỗi con người đang sống.



Võ công hay kỹ thuật ?



Ta cũng chớ nên quên tiểu thuyết của Kim Dung là sách chưởng và dù say mê với việc miêu tả sự muôn màu muôn vẻ của con người đến đâu, thì ông cũng phải đặt mối quan hệ của họ vào võ lâm. Nói cách khác, những quan niệm hiện đại của Kim Dung về thế giới còn phải được tìm cả trong các võ công, mà các nhân vật của ông sử dụng.

Nếu như đọc những Tuỳ Đường diễn nghĩa, hoặc Tam quốc, người ta được biết những ngón võ nổi tiếng như Sát thủ giản, Hồi mã thương, và đọc các bộ kiếm hiệp như Bồng Lai hiệp khách, Giao Trì hiệp nữ, đám học trò tiểu học chúng tôi còn nhớ những thế võ như Kim kê độc lập, Nguyên suý hồi trào... thì ở đây bạn đọc cũng được biết tới Nhất dương chỉ, nào Lạc anh quyền, nào Đả cẩu bổng, nào Lăng ba vi bộ. Khi cắt nghĩa sự hình thành của những võ công này, Kim Dung cho biết rằng thường chúng được gợi ý từ hai nguồn:


1/ những hiện tượng văn hoá truyền thống (có võ công dựa trên Kinh Dịch, có võ công lấy Phật học làm căn bản v.v...)



2/ những hiện tượng tự nhiên (có võ công mô phỏng một cảnh thác đổ, có võ công bắt chước thế chim bay v.v.)


Trong trường hợp thứ nhất, Kim Dung có dịp tự trình bày như một học giả uyên bác và tinh tế. Không phải ngẫu nhiên, đã có bạn đọc thú nhận rằng “đọc chưởng của Kim Dung, thấy có một sự khoái trá văn hoá không thể tìm thấy ở bất kỳ chỗ nào khác trong văn học Trung quốc hiện đại”


Ngược lại, trong trường hợp sau, người ta không chỉ thú vị với một trí tưởng tượng phong phú, mà còn cảm thấy mình như ở đây có một ít liên hệ với một môn học hiện đại là phỏng sinh học (nghiên cứu kỹ tự nhiên để hoàn chỉnh các loại máy móc, giúp chúng có chức năng đa dạng như tự nhiên).


Ngay từ những tập đầu của Thiên Long bát bộ, tên tuổi Đoàn Dự đã gắn liền với cái võ công kỳ lạ là lục mạch thần kiếm. Nhưng cái oái oăm của Kim Dung trong trường hợp này, nó cũng là lý do khiến cho người ta hồi hộp theo dõi, là môn thần kiếm ấy của Đoàn Dự được “điều kiện hoá” cao độ. Không phải bao giờ nó cũng thuận theo ý muốn Đoàn Dự. Khi chàng bắt gặp một cảnh ngang trái (chẳng hạn thấy một kẻ cậy tài và khoẻ bắt nạt kẻ yếu hơn), và trong cơn bột phát, Đoàn Dự muốn làm một việc tử tế, thì bao giờ môn thần kiếm ấy cũng là vô địch. Nhưng khi chủ nhân của nó thiếu đi một lý do chính đáng (chẳng hạn, chỉ cốt phô phang với đời) thì món thần kiếm kia mất hẳn hiệu nghiệm. Thật là tức anh ách! Nhưng với người đọc, nó thật là chuyện thú vị! Và người ta tự hỏi làm sao mà một nhà văn có thể tự đặt ra một võ công kỳ lạ vậy, nếu không thấm nhuần ý tưởng về tính xác xuất, vốn là một phần của tư tưởng vật lý hiện đại.

Số lượng các từ ngữ lần đầu tiên được dùng trong chưởng, sau đó trở nên phổ biến khá nhiều. Chẳng hạn khi thấy một ai lánh bỏ sự đời, người ta bảo rằng anh ta dạo này rửa tay gác kiếm, còn nếu như anh ta trở lại hoạt động, tức là một dịp tái xuất giang hồ. Riêng tôi, trong kho từ ngữ này có một cụm từ mà tôi rất thích: tẩu hoả nhập ma. Nguyên do là trong truyện của Kim Dung do khát vọng muốn được hiểu biết, được từng trải, có những nhân vật lăn đi để học hết võ công này tới võ công khác. Nhưng không phải là các võ công hoàn toàn vô can, và có thể “lắp ghép” bừa bãi. Khi hai võ công trái ngược nhau được đặt cạnh nhau, hoặc nói rộng hơn, khi một người tính chuyện thu nạp cả những võ công ngược với tính cách bản thân, lập tức ở anh ta sinh ra hiện tượng giống như công thuốc, cái nọ xung đột với cái kia, không những không có lợi mà còn có hại, thậm chí có trường hợp con người trở thành tàn phế. Trong khi mang sắc thái rất riêng của võ công, ý niệm tẩu hoả nhập ma thật ra có tầm phổ biến rộng rãi, khi một người đọc những quyển sách mà anh ta không hiểu, rồi sinh ra nói năng bừa bãi, người ta cũng bảo anh ta ngộ chữ, hoặc bị tẩu hoả nhập ma. Mà cái căn cốt sâu xa để xây dựng nên ý niệm này lại có thể tìm ngay ở một ý tưởng của triết học thế kỷ XX: chủ nghĩa cấu trúc.

Trên nét lớn, có thể bảo võ công trong Kim Dung có những nét tương tự như kỹ thuật với con người hiện đại.




III. Những người viết văn có thể tìm thấy những gợi ý như thế nào từ truyện chưởng.?

Khoảng 1954 về trước, chợ Đồng Xuân có một dãy quầy hàng bán ở ngay mặt tiền, và muốn mua gì, mọi người có thể không cần vào chợ mà đứng ngay trên vỉa hè tuỳ ý lựa chọn. Một trong những quầy đó, ở góc phố Hàng Khoai, dành cho sách báo. Cố nhiên chữ nghĩa bán ở đây chỉ là loại hàng tầm tầm, trong đó có một thứ mà vào tuổi tôi lúc ấy, không ai không thích: kiếm hiệp. Còn nhớ, để câu khách và cũng là tiện cho người mua vặt, sách của ông Lý Ngọc Hưng in ra theo từng tay mười sáu trang một, mỗi tay ứng với một hồi. Những lúc chờ tàu điện về với gia đình ở Thuỵ Khuê, tôi chỉ ngóng tàu đến chậm, để lướt thật nhanh qua các tay sách.  Nguyên suý hồi trào, Hạng Vương cử đỉnh Ngọc Kỳ Lân Vân Đằng Giao và Kim Hồ Điệp Trúc Thuý Quỳnh, Bồi thành lực sĩ Sích Như Lân chi mộ, Uy liệt vương Võ Trấn Phương kiến thiết... tên người tên đất, tên các thế võ đọc ban ngày, đêm về xủng xoảng trong đầu óc, khiến cho về sau, có hồi học chữ Hán với cụ Tiếp là cụ đồ dạy ở lớp đệ thất trường Chu Văn An 1955-56, nhiều từ tôi chỉ nghe phát âm mà đã biết nghĩa, lúc bình tĩnh ngồi nghĩ mới hay mình đã vỡ lòng ở sách của ông Lý Ngọc Hưng.



Dẫu sao, nhớ lại thời đọc kiếm hiệp, về sau tôi vẫn thấy trong đó có chút lý do chính đáng: trẻ con bao giờ chả thế!



Đến như chuyện mê chưởng thì mới thật lạ. Khi mới bắt đầu làm quen với Kim Dung, bản thân đã ít nhiều ăn chịu với nghề viết văn và nói chung là có được phần nào ý thức về công việc của mình. Vậy mà vẫn không sao cưỡng nổi thứ văn chương thoạt nhìn ma mị đó! Có điều, có phải riêng tôi đâu, ở tạp chí Văn nghệ quân đội nơi tôi từng công tác, một ngòi bút nổi tiếng sắc sảo như Nguyễn Khải, một người ranh ma như Xuân Sách cũng mê chưởng, và mỗi lần ngốn hết một bộ sách của Kim Dung là các anh lại ngồi vừa vân vi lý giải sự đời trong đó, vừa liên hệ với những chuyện vẫn nghe trong đời sống hàng ngày, để bình luận thêm. Còn nhớ là với thói quen thích đùa bỡn và tự chế giễu, Nguyễn Khải có lần còn cảm thấy mình có chất của Mộ Dung Phục, một trong những nhân vật hiếm hoi của Kim Dung từ chối tình yêu, vì chỉ sợ sa chân vào đó là rơi vào phù phiếm, trong khi đời mình còn bao nhiêu việc phải làm! Và trong những câu chuyện bên Hội Nhà văn mà Nguyễn Khải thường mang kể lại cho anh em ở 4 Lý Nam Đế, anh cũng không quên lưu ý là dạo này, nào ông Kim Lân, nào ông Trọng Hứa... đang quay cuồng về chưởng ra sao.



Hàng ngũ những người mê chưởng tôi quen thì có thể kể ra khá dài: Nghiêm Đa Văn và Lâm Quang Ngọc, Hà Ân và Trần Hoàng Bách v.v.... Sách người này đọc chưa xong, người kia đã chờ mượn, cả bọn dắt dây nhau mà thích thú và cảm phục.
Một số thu hoạch tôi nêu lên ở trên, có liên quan tới không biết bao nhiêu cuộc luận bàn chúng tôi đã dành cho tiểu thuyết Kim Dung trong buổi đầu gặp gỡ đó.
Còn bài học mà chưởng gợi ý đối với nghề viết văn, có phần đến sau hơn một chút, nhưng không phải vì thế mà kém phần sâu sắc.



Một trong những sức ép mà những người cầm bút hiện nay phải chịu, mỗi khi viết văn, là bên cạnh văn chương, lúc nào cũng có vô số thứ lôi cuốn bạn đọc. Công chúng giờ đây được chiều chuộng bởi đủ thứ thú vui: nào điện ảnh, nào truyền hình, nào các đêm biểu diễn ca nhạc, trong khi ấy, thời gian của họ phải nói là ngày càng trở nên eo hẹp. Lẽ tự nhiên, mọi người dễ đi tới kết luận rằng một lối viết hiện đại có nhiều phần đồng nghĩa với một lối viết ngắn gọn chặt chẽ, cốt gây ấn tượng. Thế nhưng, trong một lần trò chuyện với nhà văn Võ Quảng về chuyện “dài và ngắn”, loanh quanh một hồi, rồi cả hai chúng tôi cùng ngớ ra: tiểu thuyết Trung Hoa cổ điển có bao giờ ngắn gọn? Chẳng phải cái ấn tượng đầu tiên của một người khi liếc qua một cuốn chưởng nhàu nát, là sao cảm thấy nó dông dài đến mức lê thê, hết tập này sang tập khác, để rồi về sau mê mẩn với nó tới cùng? Kết luận: sự dài dòng không phải là một cái tội, nếu như có vẻ dài dòng đấy, mà thiên hạ không bỏ được sách của mình, thì đó lại là điều đáng hãnh diện.

Ở các lớp dạy viết văn, những người muốn đi vào nghề cầm bút sớm được nghe cả một định nghĩa kinh điển: văn chương là nghệ thuật ngôn từ, và nếu không làm được, thì ai người theo nghề này, cũng tin chắc rằng đáng trọng nhất là những cây bút biết dừng lại để chăm sóc cho từng câu từng chữ. Song đối với tiểu thuyết võ hiệp nói chung, với chưởng nói riêng, hình như không phải vậy. “Từ thuở xa xưa, những người đi kể tiểu thuyết cho thiên hạ đã sớm phải ghi nhận rằng giọng văn mà họ thưởng thức hơn cả là một giọng văn dễ dãi, rõ ràng và giản dị, với những chữ thông thường hàng ngày” (Pearl Buck). Đến chưởng, cái luật lệ đó vẫn được duy trì, và đây có lẽ là lý do để một số người dè bỉu nó. Nhưng có một số người khác đã tự mình đặt câu hỏi: văn chương tự nó không phải là mục đích. Nếu như thứ văn chương bề ngoài có vẻ dễ dãi như văn Kim Dung thích hợp với nội dung câu chuyện và điều tác giả muốn nói với bạn đọc thì tại sao ta lại không chấp nhận? Chẳng những thế, nếu thân tình hơn với tác giả, và thấu đáo hơn trong thưởng thức, người ta sẽ nhận ra rằng thật ra thứ văn ấy có vẻ đẹp riêng, cái duyên dáng riêng, và sự hấp dẫn của nó là thứ hấp dẫn của cái gì không cần tô điểm cầu kỳ. Ai có kinh nghiệm đều biết rằng viết được loại văn đó không phải dễ.

Dẫu sao, câu chuyện về dài hay ngắn, cần trau chuốt cho kỹ lưỡng hay cứ để cho văn tự nhiên tuôn trào trên trang giấy vẫn còn là chuyện nhỏ, so với những vấn đề lý luận lớn hơn, mà do tầm phổ biến rộng rãi và lâu dài của nó, tác phẩm của Kim Dung đã gợi ra và đáng được suy nghĩ tiếp.



Mỗi khi có dịp tâm sự với bạn đọc, nhà văn này thường vẫn kể là có không ít người viết thư cho ông, tỏ ý thắc mắc rằng sao trong tiểu thuyết của mình, ông bịa đặt ghê gớm thế. Thì ra, lối thưởng thức văn chương trong sự ràng buộc với cái thực đã thâm căn cố đế ở nhiều người, và khi suy nghĩ về vấn đề này người ta thường vẫn bị các bậc thày của văn học phương Tây ám ảnh. Rằng, tác phẩm này, diễn tả thành phố Paris đúng đến từng chi tiết. Rằng, trong tác phẩm kia, có những tài liệu có thể dùng làm dữ kiện tham khảo cho các nhà nghiên cứu kinh tế. Kể ra, đó cũng là những nhận xét xác đáng, có điều, nếu coi đó là phương hướng đuy nhất, để văn học đi theo, thì không đúng. 

Trong văn học phương Tây, thế kỷ XIX, không chỉ có Balzac mà còn có Stendhal, một người hướng mọi nỗ lực sáng tạo của mình vào việc biểu hiện tâm hồn của con người, ngoài chuyện đó ra, những chi tiết lặt vặt đối với ông chả là gì cả, hoặc cũng có quan trọng tí chút, song không phải là cái đích khiến ông phải quá để tâm săn sóc. Nhìn sang tiểu thuyết phương Đông cũng thấy một tình trạng song hành tương tự. Ở đây, có những cuốn truyện dài với nhiều chi tiết chân thực, như Hồng lâu mộng, nhưng một cuốn khác, như Tây du, lại hoàn toàn dựa trên bịa đặt, có phải vì vậy, mà bảo là cuốn thứ hai kém cuốn thứ nhất đâu? Nghiêm túc mà nói, phải nhận những Liêu Trai chí dị, Tây du nói về đời sống theo các cách riêng của nó, và người ta vẫn có thể bảo rằng những tác phẩm này có giá trị hiện thực mà không có gì là nguỵ biện cả.

Chưởng Kim Dung, đi theo truyền thống đó.


Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, một nhà hoạt động sân khấu song lại rất mê văn học, và cũng mê chưởng, mới đây kể với tôi rằng ông đã phải suy nghĩ nhiều, khi có lần nghe một người lái xe nhận xét:

- Đọc chưởng của Kim Dung, thấy cái gì cũng bịa, sau cuối cùng lại thực, trong khi xem kịch của anh A. đọc truyện của anh B, viết bây giờ, biết thêm nhiều chi tiết thực, mà toàn bộ cứ giả khượt.



Ở đây, có lẽ nên tham khảo thêm một ý kiến của nhà văn Mỹ la tinh Huan Carlos Onetti. 
Ông này cho rằng “có nhiều cách nói dối, nhưng cách tởm lợm nhất là nói toàn bộ chi tiết thực, chỉ che giấu, hay là làm sai lạc cái hồn của hiện thực”.


Phỏng theo cách nói của Onetti, có thể bảo trong chưởng có một “cái hồn” thực, cái hồn này là cái tinh thần toát ra từ đời sống tác giả nắm bắt được và muốn chia sẻ với bạn đọc.


Có một khía cạnh nữa, làm nên tính cách hiện đại của chưởng, mà lại liên quan đến mỹ cảm đến cách viết, đó là cái bề ngoài xù xì luộm thuộm của nó, cái lối bịa đặt rất gần với ma giáo tà đạo của nó.


Thế kỷ XX của chúng ta là thế, dù ở phương đông hay phương tây, nay là lúc những gì trinh trắng, thật hạt, thuần nhất, thiêng liêng... đã bị phôi pha đi nhiều, lẽ tự nhiên là trong văn học dễ sinh ra những hiện tượng bề ngoài không bình thường, thậm chí quái dị.
Mà quần chúng đông đảo thường lại dễ bị lôi cuốn bởi những cái đó.

Đôi khi nhà văn phải dám mạnh dạn chấp nhận thách thức, tức là không sợ đi chung một chuyến đò với những gì pha tạp và thoạt nhìn như là thấp kém kia, hơn thế nữa, biết mang lại cho chúng một tầm cao mới, vẻ đẹp mới.
Còn nếu như việc làm đó là xa lạ, chẳng bao giờ hợp với các gu trời cho ở ta đi nữa, thì, trong khi không tìm cách làm theo, ít ra ta cũng nên rộng lượng hơn, cởi mở hơn, phóng khoáng hơn, trong nhìn nhận và đánh giá.
Ngoài trời lại có trời, đó là một trong nhiều ý tưởng xuyên suốt các bộ chưởng của Kim Dung, và càng ngày nó càng được nhiều người cho là có lý.



1997