Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Quan thư


Ngày 28, tháng Mười, sinh nhật Võ nương. Bão Sơn Tinh trực chỉ miền Trung, rồi loanh quanh, dạo khắp bờ Đông hải, ghé về quê. Bữa tối cơm đèn đợi gió. Con trai, cháu nội ngoại gọi về rối rít, con rể đội mưa qua nhà, chúc mừng mẹ.

Suốt đêm nước sa, gió rít. Mười bông quỳnh đã hẹn, nở trong mưa bão. Sáng nay,  mưa tạnh bão tan, ta đốt trầm, nghe Chú Đại Bi đón ngày Rằm tháng Chín. Chép đăng lại bài Kinh Thi  do Khổng tử san định, tặng Võ nương. Định viết bài từ bữa qua, sáng mải dọn nhà, nhặt lá, thau sân, bây giờ mới toại.


Quan Thư 1.
關雎一
關關雎鳩,
在河之洲。
窈窕淑女,
君子好逑。

Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu.
Tản Đà dịch.
Quan quan cái con thư cưu,
Con sống con mái cùng nhau bãi ngoài.
Dịu dàng thục nữ như ai,
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.
Dịch nghĩa.
Đôi chim thư cưu hót họa nghe quan quan,
Ở trên cồn bên sông.
Người thục nữ u nhàn,
Phải là lứa tốt của bực quân tử (vua).

Chú giải của Chu Hy.
Chương này thuộc thể hứng.
quan quan : tiếng chim trống chim mái ứng họa nhau.
thư cưu : loài chim nước, lại có một tên nữa là vương thư, hình dạng giống như chim phù y, ngay trong khoảng Trường giang và sông Hoài thì có chim ấy. Chim này sống có đôi nhất định mà không hề lẫn lộn. Hai con thường lội chung mà không lả lơi, cho nên sách của Mao công có nói rằng: Đôi chim thư cưu tình ý chí thiết khăn vó đậm đà, nhưng lúc nào cũng giữ gìn cách biệt. Sách "Liệt nữ truyện" cho là người ta chưa từng thấy chim thư cưu sống dư cặp hay sống lẻ loi, là vì tính của nó như thế. Hà, tên thông dụng của những dòng nước chảy ở phương bắc.
châu : cồn đất ở giữa sông có thể ở được.
yểu điệu 窈宨 : là ý u nhàn, u tích yên lặng và nhàn nhã.
thục : hiền lành.
nữ : con gái chưa gả chồng, nói nàng Thái Tự, vợ vua Văn vương, lúc còn ở nhà với cha mẹ.
quân tử 君子: chỉ vua Văn vương.
hảo : đẹp lành.
cầu : đôi lứa.
Sách của Mao công nói chí là rất, tình ý rất tha thiết đậm đà.
hứng: là trước nói một vật gì để sau dẫn đến lời ca vịnh.
Vua Văn vương nhà Chu sinh có thánh đức, lại được bậc thánh nữ họ Tự để kết hôn. Nhưng người trong cung, lúc nàng Thái Tự mới đến, thấy nàng có đức hạnh u tịch, nhàn nhã và trinh chuyên, bèn làm bài thơ này rằng: Kìa đôi chim thư cưu nghe hót quan quan, đang ứng họa nhau ở trên cồn bên sông. Người thục nữ yểu điệu này há không phải là bạn lứa tốt của bậc quân tử Văn vương hay sao? Có ý nói nàng Thái Tự và vua Văn vương cùng hòa vui mà cung kính lẫn nhau, cũng như tình chí thiết đậm đà mà lúc nào cũng giữ gìn cách biệt của đôi chim thư cưu vậy.
Về sau hễ nói hứng thì ý văn cũng phỏng theo chương này.
Ông Khuông Hành nhà Hán nói rằng: Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu, là nói rằng nàng Thái Tự rất mực trinh thục không thay tiết tháo. Những rung cảm về tình dục không hề lẫn vào nghi dung, những ý vui riêng không hề lộ ra cử chỉ, có được như thế rồi mới có thể phối hợp với bậc chí tôn và làm chủ tế tông miếu. Vì đó là đầu mối của cương thường và của nền vương hóa. Giảng Kinh Thi như thế đáng gọi là người khéo nói vậy.

Quan thư 2.

關雎二

參差荇菜、 
左右流之。 
窈宨淑女、 
寤寐求之。 
求之不得、 
寤寐思服。 
悠哉悠哉、 
輾轉反側。


Sâm si hạnh thái,
Tả hữu lưu chi.
Yểu điệu thục nữ,
Ngụ mị cầu chi.

Cầu chi bất đắc,
Ngụ mị tư phục
du tai! du tai!
Triển chuyển phản trắc.


Dịch thơ.

So le rau hạnh lơ thơ
Hái theo dòng nước ven bờ đôi bên
U nhàn thục nữ chính chuyên
Nhớ khi thức ngủ triền miên chẳng rời.
Nếu cầu mà chẳng được người
Khi mơ khi tỉnh bồi hồi nhớ thương
Xa xôi trông nhớ đêm trường
Chiếc thân trằn trọc trên giường nào yên
.

Chú giải của Chu Hy.

Chương này thuộc thể hứng.
sâm si 參差: dáng dài ngắn không đồng đều nhau 
hạnh : rau tiếp dư, rễ mọc ở đáy nước, lá màu đỏ tía hình tròn, đường kính hơn một tấc, nổi trên mặt nước. hoặc tả hoặc hữu, vô định không thường, khi bên trái khi bên mặt lưu, thuận theo dòng nước mà hái lấy. hoặc ngộ hoặc mỵ, không lúc nào là không, khi thức khi ngủ đều nhớ đến nàng. 
bặc : nhớ. 
du : dài, xa xôi; triển : lăn nửa vòng; chuyển : lăn trọn vòng; phản : lăn qua lăn lại; trắc : lăn nghiêng; đều là nói nằm không yên giấc. 
Chương này nói vào lúc chưa cầu được nàng Thái Tự: rau hạnh cọng ngắn cọng dài không đều kia, phải thuận theo dòng nước sang bên tả sang bên hữu mà hái. Người thục nữ yểu điệu ấy, khi thức khi ngủ vua không quên lo cầu cho được nàng, vì nàng ấy với đức hạnh ấy trên đời không thường có vậy. Nếu cầu nàng mà không được thì không có ai phối hợp với vua để thành việc nội trị hoàn mỹ. Cho nên vua lo nghĩ sâu xa không xiết đến thế ấy.


Quan thư 3.

關雎三

參差荇菜、
左右采之。
窈宨淑女、
琴瑟友之。

參差荇菜、
左右芼之。
窈宨淑女、
鍾鼓樂之。

Sâm si hạnh thái,
Tả hữu thái chi.
Yểu điệu thục nữ,
Cầm sắt hữu chi.

Sâm si hạnh thái,
tả hữu mạo chi.
Yểu điệu thục nữ.
Chung cổ lạc chi.

Dịch thơ.

Vắn dài rau hạnh bên sông,
Kiếm tìm mà hái theo dòng đôi bên.
Được người thục nữ chính chuyên,
Mến nàng, cầm sắt đánh lên vang dầy. 
Bên sông rau hạnh vắn dài,
Đem về nấu chín mà bầy hai bên.
Được người thục nữ chính chuyên,
Để nàng vui thích, vang rền trống chuông.

Chú giải của Chu Hy.

Chương này thuộc thể hứng.
thể (thái) : chọn mà hái lấy 
mạo : nấu chín mà dâng lên 
cầm : cây đàn 5 hoặc 7 dây; sắt : đàn 25 dây, đều là loại đàn dây tơ, loại nhạc khí nhỏ
vĩ (hữu)
: ý thân ái. 
chung : cái chuông, loại nhạc khí bằng đồng. 
cổ : cái trống, loại nhạc khí to bằng da. 
nhạo : ý rất thuận hòa vui vẻ. 
Chương này nói vào lúc tìm được nàng: rau hạnh cọng ngắn cọng dài không đều kia, phải chọn hái rồi nấu luộc mà dâng lên. Người thục nữ yểu điệu ấy đã cầu được rồi, phải thân ái để làm cho nàng vui, vì rằng người ấy với đức hạnh ấy trên đời không thường có vậy. Hôm nay mà cầu được nàng, thì đã được người để phối hợp với vua thành việc nội trị. Cho nên tỏ ý vui mừng tôn kính không xiết như thế vậy. 
Thiên Quan thư có 3 chương, 1 chương 4 câu và 2 chương 8 câu. 
Khổng tử nói rằng: “Thiên Quan thư vui mà không dâm, buồn mà không thương tâm”. Tôi cho rằng: “Lời ấy đối với thơ Quan thư này đúng với sự đoan chính của tính tình và sự điều hòa của thanh khí. Vì rằng đức hạnh như chim thư cưu, tình chí thiết đậm đà mà vẫn giữ gìn cách biệt, thì sự đoan chính về tính tình của bà Hậu phi Thái Tự hẳn đã có thể nhận thấy được một phần rồi. Đến việc thức ngủ lăn qua trở lại, đánh đàn cầm đàn sắt, khua chuông đánh trống, niềm vui buồn đã tột bực và đều không quá khuôn khổ phép tắc, thì sự đoan chính về tính tình của người làm thơ ấy lại có thể nhận thấy được cả toàn thể rồi vậy. Riêng sự điều hòa về thanh khí thì không thể nghe được. Tuy là đáng hận, nhưng học giả hãy thưởng thức nghĩa lý ở trong lời thơ ấy để bồi dưỡng tâm tính, thì cũng có thể nắm được căn bản của việc học Kinh Thi vậy." 
Khuông Hành nói rằng: “Phối hợp thành vợ chồng là mối đầu của việc phồn sinh của dân chúng, là nguồn cội của vạn phúc. Nghi lễ của hôn nhân được chính đáng thì về sau phẩm vật thỏa thuận và thiên mệnh mới hoàn toàn. 
Mạnh tử đã khảo luận Kinh Thi, lấy thiên Quan thư làm đầu, ý nói rằng trên hơn hết là bực cha mẹ dân, đức hạnh của bà Hậu phi phu nhân nếu chẳng ngang bằng với trời đất, thì không lấy gì mà thờ phụng thần linh để điều hòa sự thích nghi của vạn vật. Từ đời trước trở lại, việc hưng phế của ba đời Hạ, Thương, Chu chưa có bao giờ không do ở đấy vậy.


Quan thư hữu cảm (Chu Hy - 朱熹, Trung Quốc)
觀書有感

半畝方塘一鑑開,
天光雲影共徘徊。
問渠那得清如許,
為有源頭活水來。

Bán mẫu phương đường nhất giám khai, 
Thiên quang vân ảnh cộng bồi hồi. 
Vấn cừ na đắc thanh như hứa? 
Vị hữu nguyên đầu hoạt thuỷ lai.
Dịch thơ.
Nửa mẫu đầm vuông một tấm gương
Bồi hồi mây rỡn ánh trời quang
Hỏi sao đầm nước trong như thế? 
Vì ở đầu nguồn nước vẫn buông.

*****
楸下觀書 (Hoàng Đức Lương - 黃德梁- Việt Nam)
開卷深愔下, 
容光照自明。 
靜中心易動, 
落葉作秋聲。


Thu hạ quan thư

Khai quyển thâm âm hạ
Dung quang chiếu tự minh
Tĩnh trung tâm dị động
Lạc diệp tác thu thanh

Dưới bóng cây đọc sách
Dung mạo ánh sáng soi
Cảnh im, lòng dễ động
Lá rụng: tiếng thu rơi.

*****
vanthekt.


Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

西游记-天竺少女 Thiên Trúc Thiếu Nữ

Bách Tính Đích Sự Nhi Khiên Trước Tẩu - 百 姓 的 事 儿 牵 着 走



 百姓的事儿牵着
( 访 )
.


西 北事

殿




殿

殿 殿






BÁCH TÍNH ĐÍCH SỰ NHI KHIÊN TRƯỚC TẨU
(Khang Hy vi phục tư phỏng ký phiến vĩ khúc)
.
Xuân phát nha Hạ trừu huệ
Thu thiên mãn địa hoa
Đông Tây sự, Nam Bắc sự
Sự sự thuỳ đương gia
Xuất liễu cung tiến liễu điện
Trung gian minh nhãn biện trung gian minh nhãn biện
Nhập liễu hương trục liễu nguyện
Bách tính tài thị
Bách tính tài thị đầu thượng thiên
Kim ngõa Kim loan điện Hoàng thượng khán bất kiến
Nhất vãn Kim loan điện Hoàng thượng bất tọa điện
Nhất triêu xuất liễu kinh môn khẩu
Bách tính đích sự nhi khiên trước tẩu khiên trước tẩu
Tam Hoàng Ngũ Đế
Thiên thu bách đại
Vạn sự dân vị tiên.
.
Dịch nghĩa:
Việc của trăm họ đem lên hàng đầu
(Ghi lại chuyện Khang Hy mặc thường phục tự điều tra, khúc cuối)


Xuân đâm chồi, Hạ trổ bông
Trời Thu khắp mặt đất đầy hoa
Đông Tây có việc, Nam Bắc có việc
Việc việc ai đảm đương
Ra khỏi cung, không vào điện
Người trung kẻ gian nhìn thấy rõ ràng, người trung kẻ gian nhìn thấy rõ ràng
Đến thôn quê thỏa lòng mong mõi
Trăm họ vừa thấy
Trăm họ vừa thấy người đứng đầu
Ngói vàng Kim Loan điện Hoàng thượng thấy không nhìn
Một buổi Kim Loan điện Hoàng thương cũng không ngồi
Người đứng đầu triều đình xuất kinh ra ngoài
Việc của trăm họ đem lên hàng đầu, đem lên hàng đầu
Tam Hoàng Ngũ Đế
Ngàn năm trăm đời
Mọi việc vì dân trước nhất.

Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Am ni cô


AM NI CÔ


Mã Bảo Sơn



Trên núi có trúc, trúc là trúc tía. Dưới núi có am, am là am ni cô.

Trong am ni cô có hai ni cô, ni cô già năm mươi tuổi là sư phụ, ni cô trẻ mười sáu tuổi là đệ tử. Hai thầy trò ngày nào cũng làm bài tụng kinh và tiếp nhận đồ lễ của vài khách hành hương. Họ sống những ngày dài trong tiếng chuông buổi sớm và tiếng mõ ban chiều.

Trước am là một dòng sông, bên bờ sông có một mái nhà tranh, trước nhà tranh là một vạt ruộng vườn mới vỡ hoang. Một cặp vợ chồng trẻ, mủa xuân gieo cấy, mùa thu gặt hái trên thửa ruộng mảnh vườn. Ngày tháng cứ vui vẽ trôi đi trong tiếng nói tiếng cười của đôi vợ chồng.

Ở nơi vắng vẻ nến sáng lửa xanh, ni cô trẻ làm bài thường bị tiếng nói cười vui vẻ bay trên cánh đồng gây xáo trộn tâm tư. Cô thầm nghĩ, cuộc sống chồng cày ruộng, vợ dệt cửi thật là hạnh phúc.

Ni cô trẻ thường ra sông kiếm nước, nên hay gập đôi vợ chồng trẻ cày cấy ở ruộng. Lâu dần họ quen nhau, ngày mưa ngày gió, anh nông dân trẻ còn giúp ni cô gánh nước lên chùa. Một hôm, ni cô trẻ lại ra bờ sông kiếm nước, đôi vợ chồng trẻ cũng đang nghỉ giải lao ở bờ sông. Thế là có một cuộc nói chuyện thú vị.

Anh nông dân hỏi:
- Hàng ngày chú tiểu làm gì trong chùa?

Ni cô đáp:
Làm bài, tu đạo, cầu kiếp sau ...

Anh nông dân lại hỏi:
- Cầu nhân duyên mỹ mãn phải không?

Ni cô lại trả lời:
- Người tu hành thanh tâm, ít ham muốn.

- Cầu quan to lộc đầy phải không?

-Tăng ni kiêng cấm, danh lợi mờ nhạt.

- Vậy thì cầu vinh hoa phú quý chăng?

- Cửa Phật coi trọng yên tĩnh thanh thản...

Anh nông dân cả cười:
- Phải chăng chú tiểu còn cầu mong kiếp sau lại được làm chú tiểu?

Trong mắt ni cô trẻ càng mơ màng, mờ mịt. Cô nhìn am ni cô vắng vẻ dưới núi, thở dài thầm nghĩ: "Mình tu tâm dưỡng tính, nếu kiếp sau còn làm chú tiểu thì hôm nay còn cần cầu gì nữa?"

Ni cô trẻ khe khẽ lau giọt lệ trong vắt trên hai má, gánh nước về am. Trên bờ sông, cuộc đối thoại của hai vợ chồng vẫn còn tiếp tục, chỉ có điều tăng mùi vị trêu ghẹo.

Anh hỏi vợ:
- Nếu có kiếp sau thật, em cầu gì?

Chị đáp:
- Anh đoán xem ...

- Cầu quan to lộc đầy phải không?

Chị lắc đầu.
- Vậy thì cầu vinh hoa phú quý chứ?

Chị vừa lắc đầu vừa xua tay. Anh "ồ" một tiếng:
- Anh hiểu rồi, chắc chắn là em cầu kiếp sau làm một ni cô trẻ thanh tịnh ...

Chị giơ nắm tay nhỏ đấm lên ngực anh, nói:
- Bậy nào, bậy nào, anh bậy quá ...

Anh chộp luôn tay chị, hỏi dồn:
- Vậy rốt cuộc em cầu gì nào?

Chị đỏ ửng mặt, đáp:
- Không cần quan to, chẳng cần giàu sang, chỉ cầu kiếp sau nhân duyên tốt lành, chỉ cầu kiếp sau lại làm vợ anh!

Cuộc đối thoại trên bờ sông và cuộc vui đùa của đôi vợ chồng bên bờ sông đã làm xao động trái tim xuân của ni cô trẻ, tới mức cô cứ bần thần háo hức, không còn lòng dạ nào ngồi yên làm bài, không còn chăm chỉ tu đạo. Ni cô già nhận thấy học trò của mình đã hết duyên nơi cửa Phật, liền đưa cô ra khỏi am.

Ni cô trẻ bơ vơ không nơi nương tựa, tạm dừng chân trong gia đình anh nông dân nhà tranh vách nứa bên sông.

Ni cô trẻ không còn là ni cô nữa, vợ chồng anh nông dân liền gọi cô là Tiểu Nê.

Cùng vợ chồng anh nông dân trẻ, Tiểu Nê mặt trời mọc ra đồng, mặt trời lặn về nghỉ, cơm nhạt, trà thô của nhà nông khiến Tiểu Nê càng khỏe càng đẹp ra, mái tóc xanh mượt mà dần dần mọc trên đầu khiến cô trở thành một người thật xinh đẹp.

Người phụ nữ đã hoàn tục, thì có tính tình của người thường. Người phụ nữ có tính tình của người thường sẽ dễ dàng tạo ra những chuyện của con người bình thường. Mà chuyện của con người ta thì cứ na ná như nhau. Câu chuyện và chi tiết tầm thường đến mức không chịu nổi, xin miễn kể ra tỉ mỉ ở đây. Tóm lại như thế này: Có một hôm, ông mặt trời tỏa nắng rực rỡ xuống trái đất, con chi trên cây cũng hót líu lo vui tai. Chị chủ nhà đi chợ mua muối về, vừa bước vào trong ngôi nhà tranh đã kêu giãy nảy lên một tiếng, tiếp theo là tiếng khóc kéo dài. Tiếng khóc cứ bám riết lấy bước chân của người đàn bà như đang nổi cơn điên, loạng chà loạng choạng chạy ra bờ sông. Chị định nhảy xuống sông thì nước sông lại cạn. Chị lảo đà lảo đảo leo lên vách núi định nhảy xuống, song vách núi không cao, Sau đó, chị bỏ chạy vào am ni cô dưới chân núi.

Ở nơi vắng vẻ nến sáng lửa xanh, ni cô già sống những ngày hết sức tĩnh mịch, rất muốn biết người đàn bà đang đứng trước mặt mình có hy vọng gì đối với kiếp này và kiếp sau:
- Xin hỏi nữ thí chủ, chịu ở tạm thời hay ở lâu dài trong am nhỏ này?

Chị đáp:
- Ở lâu dài, xin thầy thu nhận con làm đệ tử, thưa thầy!

Ni cô già lại hỏi:
- Chị vào cửa Phật cầu quan to lộc đầy phải không?

Chị lắc đầu. Ni cô già lại hỏi:"Cầu vinh hoa phú quý chứ?" Chị vẫn lắc đầu.

- Vậy cầu kiếp sau có được nhân duyên mỹ mãn chăng?"

Lời ni cô già chưa dứt, thì nước mắt đau đớn của chị đã tuôn trào ...

Trên núi có trúc, trúc là trúc tía. Dưới núi có am, am là am ni cô. Trong am có hai ni cô, một ni cô già một ni cô trẻ mới đến, ngày nào họ cũng làm bài, tụng kinh, cầu kiếp sau ...

CÓ MỘT TẤM LÒNG NHƯ THẾ


Ông bà Võ Phiến đi bộ qua Hội quán Golf Club(Hình Dân Huỳnh)

Về hưu mới có điều kiện đọc văn học miền Nam trước 1975.
Nhà văn Phạm Thị Hoài, trong bài viết “Tư cách trí thức Việt Nam” được đánh giá thuộc hàng kinh điển có nói:
“Công bằng mà nói thì ở một giai đoạn ngắn của lịch sử, tức là ở đầu thế kỷ 20 trong cả nước, và từ năm 1954 đến năm 1975 ở miền Nam, đã có một cơ hội để cặp bài trùng trí thức và quyền lực có thể tách nhau ra được, và quả thực cũng có tách nhau ra phần nào. Nhưng đấy là một khoá học tiếc thay rất ngắn, quá ngắn để trí thức Việt Nam vượt ra khỏi cái vòng kiềm toả và tự kiềm toả bằng quyền lực chính trị để trở thành một lực lượng độc lập như giới trí thức ở các xã hội dân chủ hiện đại.”

Bài viết của Phạm Xuân Nguyên viết về một nhà văn như thế, nhà văn Võ Phiến. Ta biết tấm lòng của Ông với quê nhà sau bốn mươi năm lại đã xôn xao, phập phồng về hình ảnh đất nước quê hương. Ta biết thêm về tên gọi núi sông thần linh đạo giáo, chứa chan tình yêu con người đất Việt. Dập dìu cánh bay con én mùa xuân hay con chim yến trời Nam.

Diễn giải cũng là một cách để nói lòng yêu.

Tháng Chín rồi
Ngày mỏng quá ngày ơi
Sắc xanh là sắc da trời
Mong manh là khói lặng lời là mây...

CÓ MỘT TẤM LÒNG NHƯ THẾ

Phạm Xuân Nguyên

tranh Lê Thị Quế Hương
Tôi nhớ mãi một bài báo đọc được trên tạp chí Bách Khoa trong quá trình tìm hiểu về văn học miền Nam trước 1975. Bài báo nói chuyện những địa danh ở miền Nam Bộ lại luôn mang tên người, những thôn ấp kênh rạch được gọi là xóm Ông Đồ, ấp Trùm Thuật, sông Ông Đốc, ngọn Ông Trang, rạch Biện Nhan, núi Bà Đen... Núi sông được gọi theo tên con người, mà lại là những người dân chân chất, bình thường, những con người chân lấm tay bùn, không phải những vĩ nhân, nhân vật lịch sử.

Thật lạ lùng. Ở miền Bắc thì con người phải mượn tên sông núi để ghi danh mình như Tam Nguyên Yên Đổ, ông Tú Vị Xuyên, cụ Nguyễn Tiên Điền, còn trong Nam con người cho núi sông mượn tên mình trước bạ. Mới đọc đến đó tôi đã khoái quá. Nhưng tác giả chưa dừng ở đó. Trong Nam tên núi tên sông là tên người, nhưng người Nam lại rất lắm tín ngưỡng, thờ lắm thần, lập lắm đạo. Cớ sao vậy? Câu trả lời của tác giả chốt lại trong một từ: đất mới. Nam Bộ là miền đất mới, người Việt vào đó khai khẩn phải tự tạo ra tất cả mọi thứ cho cuộc sống của mình, từ tên gọi núi sông đến thần linh đạo giáo. Kết luận lại, tác giả gọi đó là “đất của con người”. Và đó cũng là tên của bài báo tôi đọc được.

Toàn bài toát lên một sự ngợi ca con người Việt Nam đi mở đất, nối dài bờ cõi. Toàn bài chan chứa lòng yêu con người Việt Nam tràn trề sức sống và biết sống trong mọi hoàn cảnh, môi trường. Giọng văn như kể chuyện, một lối văn nói, khiến người đọc thấy gần gũi, chan hòa. Tôi đọc xong bài ngó tên tác giả thấy hai chữ Tràng Thiên. Ngày tháng ghi dưới bài viết là vào năm 1972.

Từ đó tôi chú tâm đọc những bài khác cùng loại của cùng tác giả. Nói thật là càng đọc được càng thích thú, khoái cảm, càng thấy mình hiểu thêm nhiều điều trong cuộc sống quanh mình, ở trên đất nước mình, nhất là về phía Nam, càng kích thích mình chú ý hơn đến những cái thường ngày để mà tìm hiểu. Ông Tràng Thiên đã lấy những cái mắt thấy tai nghe ra để diễn giải, cắt nghĩa, suy luận, phỏng đoán về một từ ngữ, một mùi vị, một món ăn, một tiếng cười, tiếng chửi của người Việt toàn thể, của người Việt miền Nam, đặng để mà hiểu hơn từ đó yêu hơn. Theo ông ta thấy được “những ve vẩy phấp phới của tà áo dài là niềm vui hợp lý chúng ta tự thưởng cho mình bên cạnh những lao tác nhọc nhằn”. Theo ông, ta hiểu vì sao, theo cách hiểu của ông, người Việt lại có “cuộc chiến bằng mồm” tức là chửi, mà là chửi tục. Theo ông, ta mới biết thương con én quá chừng, giống chim gắn với mùa xuân, được nói đến trong thơ ca, vậy mà người ta lại không hề quan tâm đến nó, bằng chứng là nó không có được một cái tên gọi tiếng Việt, “én” chỉ là do “yến” của tiếng Hán đọc chại mà ra. Nghe thế ta giật mình.

Biết bao thứ bình thường quanh ta, ta sống hàng ngày với những thứ đó, ta coi chúng là quen thuộc, gần gũi, vậy mà bỗng chốc ta ngớ ra khi muốn biết ý nghĩa chúng ra sao, tại sao chúng lại có cách gọi tên, cách dùng như chúng. Ta vô tình. Ta thờ ơ. Ta sống buông xuôi mặc lòng. May nhờ có các nhà văn như Nguyễn Tuân, Thạch Lam hồi trước, và Vũ Bằng, Tràng Thiên gần đây, ta mới được cảm nhận đầy đủ, tinh tế những thứ ta sống hàng ngày, những nơi ta từng đến từng qua. Họ để ý quan sát. Quan sát rồi họ chú tâm suy nghĩ. Suy nghĩ rồi họ tìm cách diễn giải. Diễn giải cũng là một cách để nói lòng yêu.

Ông Tràng Thiên yêu lắm đất nước mình là Việt Nam, quê hương mình là Bình Định, cố đô mình là Huế. Vâng, “yêu quá, có thể nào khác được / có thể nào khác được nếu mình yêu” (Thanh Thảo). Những bài viết về quê hương đất nước của Tràng Thiên là được viết ra trong một thời kỳ gian lao, ác liệt trên mảnh đất chữ S khi chiến tranh gầm thét và xé nát đất đai, thể xác, phong hóa, tập tục. Giữa cảnh bom đạn chết chóc, viết về cái ăn cái mặc, cái khóc cái cười, cái cảm cái nghĩ, dường như là cách ông nhà văn này chống chọi với bạo lực, dường như ý ông muốn cất giữ những nét văn hóa riêng của dân tộc cho khỏi bị tàn phá, hủy hoại của vũ khí.

Ông thương Mẹ Việt Nam, bấu víu vào Mẹ; “Gọi Mẹ Việt Nam, Mẹ cúi xuống kiểm điểm từng địa phương, từng phần tử trong đám con đàn cháu lũ Việt Nam chắc chắn Mẹ sẽ không đến nỗi tuyệt vọng đâu. Đã đành, nhiều lúc con trẻ hành động ngông cuồng rồ dại quấy phá Mẹ không ít, làm Mẹ điêu đứng thẫn thờ cũng nên, nhưng Mẹ hãy xem có những gương mặt khả ái, những tấm lòng nhiệt thành, sau hai mươi năm điêu linh vẫn còn những kẻ kiên nhẫn siêng năng, sau nhiều suy sụp ngả nghiêng xã hội vẫn còn những tâm hồn đứng đắn lành mạnh nhờ được hun đúc trong một truyền thống tốt đẹp tự lâu đời”.

Vậy là tôi đã đọc Tràng Thiên ở mảng viết này của ông từ những bài lẻ trên báo chí đến cả tập sách được đặt tên Đất nước quê hương. Ngay khi đọc xong bài “Đất của con người” nói trên tôi đã kể lại cho nhiều người như một phát hiện của tác giả về vùng đất phía Nam và tôi đã rất muốn in lại bài viết đó cho nhiều người cùng đọc. Nay thì không chỉ bài viết đó mà còn nhiều bài viết khác của Tràng Thiên đã được in lại thành tập Quê hương tôi vừa xuất bản.

Tập sách đưa lại nhiều hiểu biết về môn đất nước học, văn hóa học, và cả những kiến thức về du lịch, nhưng trên hết là một tình yêu, một tấm lòng. Cầm tập sách tôi vui mừng gặp lại một người quen chưa từng gặp mặt nhưng đã cho tôi đồng hành trên con đường văn hóa văn chương. Một nhà văn nổi tiếng về tạp bút tạp luận mà Tràng Thiên là bút hiệu được lấy từ câu thơ nổi tiếng của Vương Bột đời Đường:

“Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc”
(Cánh cò bay với chiều sa / Sông thu lẫn với trời xa một màu).

Ở phương trời xa ngoài đất nước trong cõi người đã đi gần chín phần mười thế kỷ Tràng Thiên hẳn mừng khi biết tấc lòng của mình với quê nhà sau bốn mươi năm lại đã xôn xao, phập phồng.

Nhưng Tràng Thiên là ai vậy mà nãy giờ tôi cứ lòng vòng loanh quanh mãi không nói ra? Xin thưa: Tràng Thiên là Võ Phiến, một nhà văn tên tuổi của văn học phía Nam thời đoạn 1954-1975 hiện nay đang sống ở Mỹ. Ông tên thật Đoàn Thế Nhơn, sinh 1925, quê Bình Định. Mẹ Việt Nam đang vui mừng đón những đứa con phiêu tán trở về. Dẫu ra đi trong hoàn cảnh nào, dẫu ở những phương trời nào, đất nước quê hương vẫn là nơi người đi muốn trở về, sau rốt. Võ Phiến được in lại trong nước, dù đang phải dưới bút danh Tràng Thiên, là một tin vui cho tác giả, cho độc giả, là một ích lợi cho văn hóa, văn học nước nhà. Rồi đây những cái có ích như vậy, những cái thực sự là giá trị văn chương, học thuật của cả một đội ngũ những người cầm bút, rộng ra là những người sáng tạo văn học nghệ thuật, của một nửa nước phía Nam thời 1954-1975 chắc sẽ được xuất hiện trở lại nhiều hơn. Văn học còn dè dặt, nhưng âm nhạc thì đã tưng bừng hơn, với sự trở về nước của những giọng ca từng nổi tiếng, quen thuộc, như Chế Linh mới đây, và Khánh Ly tới đây.

“Thì Tổ Quốc chật hẹp gì cho trăm con cùng nương náu
Chúng ta không chung một đoạn đường nhưng chung một tương lai” (Chế Lan Viên).
Và đó là một phúc lớn.


2.9.2012