Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Như Giọt Mưa.

Chắp tay sen
Ngay từ đầu tuần, hai người bạn đã ra đi. Đầu tiên là Ông Mạnh Hoạch "Vua gà Phạm Xá" (Phạm Hồng Hoạch). Thuở xưa, cùng học, lúc hàn vi, bạn chỉ có một bộ áo quần. Hôm đi lao động lớp, ướt cả, chiều phải nghỉ học. Nghĩ lại mà xót xa.
Chiều đầu tuần; nắng gay, nắng gắt. Khi bạn đi, trời giải cơn nồng ... Đỡ thương bạn hơn.
                    
Giữa tuần, lên Hà Nội tiễn đưa người bạn. Toán đặc biệt xưa: Ông Nguyễn Văn Tiến (Phan Anh), em trai VS NVH và ông già ozone NVK. Ông Tiến là tiến sỹ cao cấp Vật lý tại Pháp.
Bạn đã cho đất nước những ngọn đèn chiếu sáng thân thiện môi trường...

Trong nhà tang lễ BV Bạch Mai, nghe điếu văn của Ông Viện trưởng đọc; Văn Quynh cảm thán.
- Giá xưa, những người này và chúng mình không đi "Toán đặc biệt" mà đi làm "cán bộ" thì xã hội đỡ ... hơn nhiều lắm. Nghĩ lại buồn tênh...
*****                               
Đời là cõi tạm
                                      
Ngồi quán Sắc màu (Trần Đại Nghĩa- HN), đăng bài qua IPad, về nhà sửa lại.

Nhạc Trịnh có bài Ở trọ, rất Vô Thường.
    
 

Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
Cành tre ... í ... a
Dòng sông ... í ... a
Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời
í ... a ... í ... à ... í ... à ... a ... 




          

Tặng Tháng Năm


Khi vui ngắm núi làm vui
Khi buồn nhặt trái sim rơi đỡ buồn. 

Thứ Tư, 30 tháng 5, 2012

Bạn bè gửi bài

Bài do ông Đặng Duy Cường sưu tầm gửi cho tôi.                  

Tổ tiên người Nhật


Có một nhà nghiên cứu nhân chủng học người Nhật đi tìm nguồn gốc tổ tiên của dân tộc mình.
Ông ta đã đi khắp thế giới để tìm kiếm nhưng vô vọng. Cuối cùng, ông trở về châu Á và đặt chân đến Việt Nam. Ðến ga Huế, tình cờ ông nghe được hai người dân địa phương trò chuyện với nhau.
     
- Mi đi ga ni?
- Ừ, tau đi ga ni. Mi đi ga mô?
- Ga tê. Tau đi ga tê.
- Ga tê ga chi?
- Ga Lăng Cô tề.
- Răng đông như ri?
- Ri mà đông chi!
- Mi ra ga mô?
- Ra ga Nam Ô.
- Khi mô mi đi?
- Chừ chứ khi mô.
- Mi lo đi đi.
- Ừ, tau đi nghe mi!
    
Nhận ra cách phát âm ngôn ngữ của người dân địa phương ở đây không khác gì tiếng Nhật ngày nay, nhà nghiên cứu người Nhật đã mừng rỡ reo lên.
- A! Ðây chính là tổ tiên của người Nhật!



THI THƠ


Đầu năm tổ chức thi thơ

Chủ đề tư tưởng ước mơ sau này
Ba anh chung kết thơ hay
Trước ban giám khảo trình bày như sau.


           
                      
Thí sinh 1. Kiếp sau ước chẳng làm người

               Làm con gà trống cho đời tự do
               Sáng dậy thì gáy o o o
               Cả ngày đạp mái chẳng lo mất tiền.

Thí sinh 2. Kiếp sau ước chẳng làm người
               Làm con dê cụ lên đồi tung tăng
               Suốt ngày quan hệ lăng nhăng
               Thằng nào cũng biết chẳng thằng nào ghen

Thí sinh 3. Kiếp sau ước chẳng làm người
               Làm con lợn nọc giữa trời bao la
               Một ngày mấy bận trăng hoa
               Xe đưa xe đón trứng gà no nê

Giám khảo nhận xét:
              Ba anh mơ ước đơn sơ
              Tấm lòng trong trắng ý thơ chân tình
              Ước gì giám khảo chúng mình
              Kiếp sau cũng được hóa thành ba con
              Thí sinh xeo mắt trợn tròn
              Sức mình ước chỉ một con là vừa
              Ai ngờ giám khảo  trên cơ
              Một con còn ít ước mơ cả bầy.

Cuộc sống hạnh phúc


Bạn Đặng Duy Cường gửi.
         
                         
Đại Lai Lạt Ma thứ 14 đã có một câu nói nổi tiếng “Mục đích cuối cùng của cuộc đời mỗi con người là tìm kiếm hạnh phúc”. Con người từ khi có mặt trên trái đất là bắt đầu đi tìm hạnh phúc nhưng thường gặp nhiều hơn là bất hạnh. Có người dường như chỉ biết tới hạnh phúc khi đã không còn nó nữa. Vậy những điều gì làm nên hạnh phúc. Chúng ta hãy cùng nhau xem những điều gì sẽ làm nên chữ HẠNH PHÚC .

Sức khỏe.
1. Uống nhiều nước.
2. Ăn sáng như vua, ăn trưa như ông hoàng và ăn tối như kẻ ăn xin.
3. Ăn nhiều thức ăn mọc trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo trong nhà máy.
4. Sống với 3 N– Năng động, Nhiệt thành và Nhân ái.
5.Hãy học cách cầu nguyện.
6.Tham gia nhiều trò chơi hơn.
7.Đọc nhiều sách hơn năm cũ.
8. Ngồi yên lặng ít nhất 10 phút mỗi ngày.
9. Ngủ ít nhất 7 giờ mỗi ngày.
10. Đi bộ từ 10- 30 phút mỗi ngày và mỉm cười trong mỗi bước đi.

Nhân cách.
11. Đừng so sánh cuộc đời của bạn với cuộc đời của bất kỳ ai. Bạn không biết cuộc hành trình của họ như thế nào đâu. 
12. Đừng cho phép những ý nghĩ tiêu cực làm chủ tâm hồn bạn. Thay vào đó, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc hiện tại một cách tích cực. 
13. Đừng quá coi trọng bản thân bạn. Không ai để ý bạn ‎đâu.
14. Đừng phí năng lực quý ‎ báu vào chuyện ngồi lê đôi mách.
15. Hãy mơ nhiều hơn khi bạn còn đang thức. 
16. Ghen tỵ là phí thì giờ. Bạn đã có tất cả những gì bạn cần rồi.
17. Hãy học cách quên. Hãy quên những lỗi lầm của người khác đối với mình.
18.  Đừng thù ghét những người khác.
19. Hãy học cách tha thứ. Thậm chí tha thứ cho chính mình.
20. Không ai lãnh trách nhiệm về hạnh phúc của bạn ngoài bạn. 
21. Mỉm cười và cười nhiều hơn. 
22. Bạn không buộc phải thắng mọi cuộc tranh luận đâu.
Hãy đồng ‎ ý với việc không đồng ý. 

Xã hội.
23. Hãy thăm viếng gia đình bạn thường xuyên.
24. Mỗi ngày, hãy mang lại điều gì tốt cho người khác.. 
25. Hãy dành thì giờ cho những người ngoài 70 và dưới 6 tuổi. 
26. Hãy cố gắng làm cho ít nhất ba người mỉm cười với bạn mỗi ngày.
27. Đừng tìm cách để biết những điều người khác nghĩ gì về bạn. 
28. Việc làm của bạn sẽ không săn sóc bạn khi bạn đau ốm đâu. Bạn bè mới làm việc ấy. Hãy liên lạc với nhau luôn. 

Đời sống.
29. Hãy làm chuyện đúng! 
30. Cho dù lâm vào một hoàn cảnh tồi tệ nhất thì cuối cùng nó cũng sẽ thay đổi. 
31. Hãy biết làm đẹp vì cuộc sống vốn tươi đẹp.
32. Hãy luôn tâm niệm “Điều tốt nhất sẽ đến.”
33. Mỗi sáng thức dậy, hãy cảm ơn Trời vì bạn vẫn đang sống.
34. Bạn có thực sự muốn hạnh phúc. Thế thì, hãy sống hạnh phúc đi.

Nhà thờ chi họ Võ Tá

Đường về Thịnh Xá.
Sơn Thịnh -Hương Sơn- Hà Tĩnh
Bao năm, giờ mới về quê vợ. Dù lần đầu mới được đặt chân tới nhưng thật thân thương, gần gũi bởi nó gắn liền với cuộc đời tôi. Mới thấy, đất quê, dù nghe thấy nhiều mưa nguồn, lũ lụt; nhưng đó là một vùng quê thật thà, gắn bó, yêu thương. Mới biết hơn nhiều cội nguồn họ vợ.
Phát từ Bắc phương Hà Hoàng thủy thiên thu bất diện.
Hàn ư Nam hướng Mộ Trạch, nguyện vạn kỷ trường lưu.
Nghĩa là.
Họ Võ Tá - Hạ Hoàng có nguồn gốc từ phương Bắc (huyện Đường An - Hải Dương).
Luôn hướng về Mộ Trạch (Hải Dương) nơi phát tích dòng tộc.
Do vậy có câu.
Thập ngũ tạo sĩ, thập bát quận công, cung kiếm gia thanh quang giám sách; đồng triều phụ tử, đồng khoa huynh đệ, thi thư thế nghiệp thọ sơn hà.
(Mười lăm tiến sĩ võ, mười tám quận công, nghiệp cung kiếm rạng sử sách; Cha con cùng triều, anh em cùng khoa, văn chương sự nghiệp mãi với non sông) 
Bến đò Linh Cảm
         
Nhà thờ chi họ Võ Tá (Thịnh Xá, Sơn Thịnh, Hương Sơn, Hà Tĩnh) do cụ Võ Tá Phong (1853-1937); đời thứ 7 từ khi Cụ Võ Tá Thực Rời làng Hạ Hoàng đến định cư, khởi dựng năm 1901.

                       
Họ Võ Tá làng Hà Hoàng - Võ Tá tộc Đại Tông, có 9 quận công, 27 tước hầu, 16 Tạo sĩ, (tức tiến sĩ võ) đều là danh tướng dòng Võ Tá ở làng Hà Hoàng, Thạch Hà, Hà Tĩnh; được tôn xưng là “Thạch Hà Thế Tướng” lẫy lừng suốt 180 năm thời Hậu Lê.
Dòng họ Võ (Vũ) làng Hà Hoàng thuộc huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) gốc ở làng Hoa Đường, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, Hải Dương. Là dòng họ có nhiều người được phong hầu, phong tước.
Vùng Thanh, Nghệ thời xưa đã ca ngợi họ Võ của làng Hà Hoàng rằng: “Người Nghệ An, gan Hà Hoàng” và “Trảo Nha chi Ngô, Thạch Hà chi Vũ (Võ)” (Họ Ngô ở Trảo Nha, họ Võ ở Thạch Hà có nhiều người tài giỏi) và tôn vinh dòng họ Võ đó là “Thạch Hà thế tướng”, nghĩa là: “đời đời nối tiếp nhau làm tướng là dân ở xã Hà Hoàng huyện Thạch Hà”.
            
Cổng nhà Ông Nội
Nhà thờ chi họ Võ Tá nguyên là ngôi nhà "tứ trụ", ba gian, làm bằng gỗ lim và mít. Bên cạnh có ngôi nhà "Long Lậm", năm gian làm nhà ở. Thời Cụ Võ Tá Phong, nhà là "Tứ Đại Đồng Đường" - bốn thế hệ cùng sinh sống.

Thuở ấu thơ (hai tuổi), mồ côi mẹ, vợ tôi về đây ở cùng Bà Nội.



Nhà Ông Nội
Ân khoa Mậu Thân-1878, Cụ Võ Tá Phong đỗ Nhị Trường nên dân làng gọi là Cụ Tú Sỹ. Do hoàn cảnh, Cụ không học thêm được, đi dạy học ở Quãng Ngãi.
Sau đó Cụ về Thịnh Xá sống cùng vợ con, làm nghề buôn bán.


Gian thờ chính
Gian bên trái thờ Đức Thái Phó -
Khiêm Quận Công Võ Tá Đức -
Trác Vĩ thượng Đẳng tôn thần


Gian bên phải thờ con cháu ông nội.
Bản sao sắc phong của Vua Lê Dụ Tông Bảo Thái nhị niên (1721),
và Vua Lê Hiển Tông Cảnh hưng thất niên cửu nguyệt thập tam nhật (1746)
Phong cho Cụ Võ Tá Miện (Thao Quận Công)
Bản sao sắc Vua Lê Dục Tông - Bảo Thái lục niên (1725)
Phong cho Cụ Võ Tá Miện (Thao Quận Công)

Bản sao sắc Vua Lê Ý Tông -
Vĩnh Hữu lục niên tam nguyệt thập lục nhật (1740)
Phong cho Cụ Võ Tá Cơ (Vương Cơ Hầu)
Cụ Võ Tá Sính- Ông Nội
Năm 1926, Cụ Võ Tá Sính (Con trưởng Cụ Phong) Làm thêm phần hiên và lợp mái bằng ngói Tây (ngói Marseille của Pháp), hiện ngói vẫn còn sử dụng.                    
Năm 1978, mái hiên hỏng, được sửa lại.
Năm 1993, nền nhà được tôn cao thêm 0,5m để khắc phục ngập lụt.
Năm 2007, con cháu nội ngoại đóng góp tiền của, công sức tu tạo nhà thờ. Tầng trệt là nơi tiếp khách và ghi truyền thống; tầng trên là nhà thờ cũ.

Nơi hóa vàng, tiễn mã.

Hiên nhà thờ, trống chiêng xưa.


Ngói xưa, tầu bẩy, hồn tiên cổ

Thềm cũ nhà xưa, đạo lễ trung.





Tây Tạng giọt hoa trong nắng

Tây Tạng huyền bí
    
Cái lạ trong “Tây Tạng giọt hoa trong nắng” là sự phát hiện tính cách của người Tây Tạng và người đồng bằng miền Tây Nam Bộ có nhiều điều giống nhau. Nghe lạ và cũng khó tin, nhưng Văn Cầm Hải lý giải rất thuyết phục.
   
“... Không có sức mạnh của người mẹ Himalaya làm sao Mê Kông chuyển về Cửu Long 100 triệu tấn phù sa một năm với tốc độ 34.000m3/giây…          

... Tôi nhận ra, ngoài tính cách phóng khoáng, đời sống sinh hoạt của cư dân đầu sông và cuối sông Mê Kông cũng bao phần giống nhau... Điệu hát của người Tây Tạng chon von núi non, chỉ một âm tiết cũng đủ ngân dài mấy núi - Giọng ca tài tử người Nam Bộ lãng du sông nước, vài tiết điệu buồn dâng lên là biển cả thấy mênh mông.
            
... Rồi rượu! Gái trai Tây Tạng ngấm rượu Tsampa từ thuở da thịt chưa rám nắng thì miền Cửu Long, gái trai cũng chẳng nề hà hơi men...”
********* 
TÂY TẠNG - GIỌT HOA TRONG NẮNG
VĂN CẦM HẢI

                   
Yarlung Tsangpo River
Dòng Yarlung Tsangpo Khởi nguyên ở ngôi làng Datogka từ ngọn núi Namjagbarwa cao gần 8000m trên dãy Qomolangma hùng vĩ, lượn chảy qua 2057km núi đồi trùng điệp trước khi hợp lưu về Ấn Độ Dương, lúc ngược dòng lên cao 4500m, khi xoáy sâu gần 5500m, dòng sông Yarlung Tsangpo là vũ điệu hoành tráng nhất mà thiên nhiên ban tặng cho miền đất Tây Tạng hơn 40 triệu năm qua.
        
Cô gái Tộc Tạng chăn cừu
            
Bên dòng sông dài như mái tóc Ngân hà buông xuống mái nhà thế giới ấy, tôi còn gặp một dòng sông khác, tuy mới chảy qua 17 mùa xuân nhưng khó lòng ước đoán chiều kích rộng dài bởi đây là dòng sông tâm linh trong tấm lòng một người con gái xứ Tạng.
Như nàng nói, nàng là hóa thân của nữ đạo sư dòng Togdenmas vốn ẩn cư trong những hang động huyền bí. Vì linh thiêng, người cha lấy tên sông gọi tên nàng. Tôi đã gặp Yarlung Tsangshe, không phải dưới đồi hoa chantai mềm dịu, không phải trên đường phố Lhasa rì rầm lời chuyển kinh, không phải bên thềm điện Potala hùng vĩ, mà trong đêm giá lạnh ở một nhà thổ!
Từng bước chân tê buốt mang thân xác chứa chan những cơn gió khô lạnh khắc nghiệt miền cao nguyên, tôi bước vào nhà thổ trên đường Damra với mong ước được tẩy rửa mọi đớn đau vào thùng gỗ nhả đầy hương hoa hồng cảnh thiên, loại thuốc quí đứng vào hàng thứ tư trong số các biệt dược xứ Tạng.
- Anh tắm khô hay tắm ướt? - Giọng Tứ Xuyên, bà chủ nhà thổ chào tôi.
- Tắm ướt!
Người đàn bà Tứ Xuyên mỉm cười, dắt tôi vào phòng tắm trên căn gác. Một cô gái Tạng chờ sẵn. Những luồng hoa hồng nhạt cùng bụi thuốc màu hoàng thổ tung ra từ mười ngón tay. Phút chốc, thùng nước tỏa ra mùi hương xao xuyến đánh thức từng sợi thần kinh thanh mảnh của tôi tỉnh lại sau những ngày chống chọi quyết liệt với khí hậu cao nguyên. Người con gái Tạng điềm nhiên cởi áo. Tôi hốt hoảng. Trời ơi, cái thân xác rã rời của tôi làm sao chịu đựng nổi, dù là một nụ hôn huyền nhiệm Tarâ!
- Bà chủ nói với tôi rằng anh muốn tắm ướt!- Người con gái rơi xuống mặt tôi vài ba mẫu tự Anh ngữ khi nhìn thấy khuôn mặt tôi ửng lên cảm giác ngây ngô.


Tôi chợt hiểu nụ cười bí ẩn của người đàn bà Tứ Xuyên. Hóa ra tắm khô là tắm cô đơn, còn tắm ướt là phải có kỹ nữ. Điệu tắm này tôi chưa hề gặp ngay cả những ngày lang thang dọc ngang kỹ nữ Amsterdam.
- Tôi muốn gọi tên cô?
- Yarlung! Anh có thể tắm trong dòng sông của thân thể tôi!
- Thu... chitxi! Cảm ơn - Tôi tập tễnh cảm ơn bằng ngôn ngữ Tạng. Tôi sẽ chết đuối dưới đáy sâu 5000m của con sông Yarlung Tsangpo.
Thuchitxi, tôi chỉ xin đứng bên sông!
Một nụ cười hồn nhiên đáp lời tôi. Một mảnh ớt thoáng đỏ kẽ răng. Tôi thoáng rùng mình. Người con gái trước mặt tôi không phải là kỹ nữ chuyên nghiệp! Có lẽ, từ một bữa ăn quê mùa nào đó trong ngôi làng ngoại ô Lhasa, Yarlung đã đến đây.
Tôi nhúng thân mình cùng những ý niệm buồn bã vào nước ấm. Và lạ thay, lần đầu tiên, sau những ngày vật vã đớn đau, tôi bỗng nhẹ người như giấc mơ tan vào bọt nước thơm tho. Tuyệt diệu! Hồng cảnh thiên!
Đợi cho mọi tế bào ngấm nước thuốc, tôi bắt đầu mở mắt và hiểu rằng người con gái kia đang chờ đợi điều gì. Tôi nói với Yarlung tôi không muốn mình như mọi du khách, chỉ xin nàng hãy tặng kẻ lạ này vài điệu múa Tạng.
- Múa ư?! Múa ở đâu? 
- Phải! Múa tại đây! Múa những điệu múa em thích.
- Vậy em sẽ múa cho anh xem vũ khúc 18 điệu tình của người Tạng!
Và trên sàn gỗ căn buồng chật hẹp của nhà thổ, tôi bắt đầu nhìn thấy linh hồn nữ thần Tarâ lớn dậy từ đôi chân hồng đỏ của người kỹ nữ Tạng. Yarlung trút bỏ áo khoác ngoài, cánh tay trần để lộ những vết roi còn mưng máu. 
Từ thân thể cô, cũng như những cô gái Tạng khác, nồng bay mùi rượu tsampa. Mùi rượu truyền thống xứ Tạng lên men không gian và rơi xuống thời gian đêm lạnh theo bước chân di ảo. Không theo nhịp 2/4 như vũ khúc Guoxie trong các bản làng Tạng, cả thân hình Yarlung như ngọn lửa lúc réo cháy, lúc ngậm ngùi đam mê, khi hoang hoải ngã xuống huyền bí.
Tôi đã cơ duyên được một vị lama cho phép chiêm ngưỡng điệu vũ do các lama trình diễn trong khuôn viên tu viện Tashilhunpo thành Shigatse, nơi ở vĩnh hằng của các vị panchen lama, dân gian gọi là phật tái sinh. Trên độ cao gần 4.000m, mặt trời sà xuống Shigatse, soi sáng tiếng tù và trầm hùng, ngân nga như biển dâng lên trời xanh tiết điệu nhiệm mầu những bước chân luân chuyển của hàng trăm chiếc áo hồng tía. Emaho!
              
Kỳ diệu thay! Tuyết trắng xanh. Nắng hanh vàng. Núi đượm nâu. Áo hồng tía. Tù và mênh mang cõi trời. Một chấm tôi như hạt điện tử rạng rỡ cảm thức, linh thiêng theo gió lãng du về kiếp trước dĩ vãng, kiếp sau tương lai!
Bây giờ, hạt điện tử hôm ấy lại lần nữa bừng lên cùng điệu múa tình của người con gái Tạng. Không nhạc nền, không âm thanh, nhưng không gian lặng im cùng những cánh hoa dập dìu thùng nước và tiếng vòng xuyến, khuyên đá xào xạc đôi tay đã nôn nao thành một thứ âm thanh vô ngôn, dịu dàng mà buông thả.
Đó là điệu vũ miêu tả cuộc giao hoan diễm lệ diễn ra sau cơn đại hồng thủy giữa Avalokiteshvara và nữ thần Tarâ hóa thân thành khỉ và con quỉ-cái-của-các-núi-đá. Từ cuộc giao hoan của họ đã sinh ra sáu con vật nửa người nửa khỉ. Theo thời gian biến thiên, lông lá rụng theo gió, chiếc đuôi mờ dần và chúng trở thành con người! Từ cánh tay, từ đôi chân, từ những con sóng mê hoặc linh hồn của Yarlung, khúc ca nguyên thủy lần hồi vang về Lhasa...
                 
"Bằng sức mạnh của những nỗi thèm khát, tôi yêu chàng,
tôi cháy lòng về chàng;
bằng sức mạnh của tình yêu ấy, tôi theo đuổi và cầu xin chàng
nếu chúng ta không cùng chung sống, tôi và chàng, tôi sẽ làm vợ những con quỉ đực
vô số quỉ con sẽ sinh ra
và mỗi sáng chúng sẽ nghiến ngấu nghìn lần nghìn sinh vật
còn tôi, khi mà quyền phép của những hành vi tiền kiếp bắt tôi chết
tôi sẽ rơi xuống hỏa ngục của những sinh linh..."
      
Người Tứ Xuyên
Người đàn bà Tứ Xuyên xòe tay đón nhận 100 tệ. Cánh cửa nhà thổ khép lại nhưng tôi lại muốn cùng Yarlung dạo phố đêm cao nguyên. Chúng tôi lang thang qua phố Bát Giác, vốn là một trong ba con đường chuyển kinh truyền thống của người Tạng. Bát Giác là đường “nội quyển”- vòng trong men theo chùa Đại Chiêu có lịch sử 1300 năm do công chúa Văn Thành Đại Đường xây cất trên một hồ nước; hai vòng “trung quyển” và “ngoại quyển” còn lại bao bọc Đại Chiêu tự, Dược Vương sơn, cung Potala... chạy vòng gần một nửa thành phố Lhasa.
          
Gió đêm từ Qomolangma chảy xuống khâu lạnh bước chân chúng tôi. Hồng cảnh tiên và thùng nước ấm đã trôi vào đêm buốt. Tôi bắt đầu cảm nhận vị mặn nhạt của dòng máu từ mũi chảy xuống đôi môi quầng thâm vì lạnh, vì thiếu oxy. Tôi mời Yarlung vào quán trà bơ, thứ trà đặc sản của người Tạng.
Để có một chén trà bơ, người ta đem bánh trà chưng thành một loại nước đặc, lấy ít bơ bỏ vào ống gỗ dài 1m, có đường kính chừng 10cm, cho thêm muối, dùng que khuấy đều làm sao cho trà và nước trộn lẫn. Lấy nước đó đổ vào bình gốm, đun nhẹ để dùng (trên cao nguyên áp suất không khí thấp này, nước chỉ sôi đến 600C).
                
Mỗi ngày người Tạng uống ba đến bốn bát trà bơ. Nếu được mời, không được uống một hơi mà phải nhấp từng ngụm. Mỗi cái nhấp môi của Yarlung đều gợi lên một cử chỉ lạ lẫm với tôi.
- Cha em nấu trà bơ ngon nhất đội âm công!- Bất giác Yarlung ràn rụa nước mắt- Anh biết âm công là ai không? Là những người xẻ xác người đấy!
Tôi gật đầu chia sẻ. Xứ Tạng, mỗi khi có người chết, đội âm công của cha nàng mang xác ra đầu núi. Họ điệu nghệ, từng nhát dao như múa lượn trên thân thể người chết để tìm ra nguyên do vì sao người ta chết. Châu Âu cách đây vài trăm năm chưa được phép mổ tử thi để nghiên cứu nhưng với Tây Tạng, đây là việc làm thường xuyên của hàng ngàn năm nay.
Khi đội âm công mổ xác, một bầy chim kền kền bay đến. Con đầu đàn bước lên và được hưởng quả tim, lần lượt cả đàn được hưởng thụ cho đến mảnh thịt cuối cùng. Rồi đến ngày cha của Yarlung cũng phải ra đi dưới vũ khúc dao cắt của những bè bạn.
Yarlung mồ côi từ một buổi sáng giữa bầy chim mang từng mảnh thịt cha mình hóa kiếp lên trời xanh. Ban ngày Yarlung đi bán hàng dạo trên phố Bát Giác, ban đêm nàng tắm ướt ở nhà thổ. Những vết sẹo tươi máu trên cánh tay Yarlung là hậu quả những trận đòn của bà chủ Tứ Xuyên.
- Tục điểu táng không man rợ như người dưới thế giới suy nghĩ- Yarlung chuyển vào tôi những ý niệm tự do- Khi đi qua đỉnh núi hay vực thẳm ngước nhìn đàn chim bay liệng trên cao, em ngỡ như từng mảnh thịt hóa thân của cha bay lượn khắp bầu trời.
- Tại sao em không đi làm một việc khác?
- Ngay khi em ra đời, ngay sau khi được ném xuống suối lạnh, thầy chiêm tinh đã cho hay số phận em là vậy. Nhưng có hề chi, em là một kiếp nạn của một vị sư nữ tái sinh trong em. Rồi mai đây em cũng sẽ trở thành vũ công trên không gian. Thầy chiêm tinh phán như thế!
                        

Om Mani Padme Hum
(Om, ngọc quý trong hoa sen, Hum)

             
Vũ công trên không gian! Đó chính là hình ảnh của Yeshe Tsogyel. Người đàn bà sinh vào năm 757 sau Công nguyên. Nàng lớn lên và yêu Padma Sambhava hay còn gọi là Liên Hoa Sinh, người khai sáng Phật giáo Mật tông xứ Tạng.
Chính Padma Sambhava dạy nàng Lý nhân quả để làm pháp môn thiền quán. Yeshe đi vào vực sâu núi thẳm, sống một đời mưa nắng, ăn hết hoa cỏ nàng chuyển sang ăn không khí cho đến khi xương trán nhô ra trên đỉnh mày nhưng nàng vẫn nhẫn nại đợi ngày hóa thành phật nữ.
- Yeshe và tinh thần mãnh liệt của người còn cao hơn núi. Huống chi đời em chỉ là một giọt hoa trong nắng. Nhẹ nhàng mà cũng nặng trĩu. Em rồi cũng tan thành nắng, biến thành hoa trên miền đất tràn đầy ánh sáng của những vũ điệu linh thiêng này.
                           
Tam bộ nhất bái
Trong quán trà phố Bát Giác, từ tấm lòng của Yarlung, tôi chợt nhìn thấy ánh sáng của những vì sao thầm thì cùng lời cầu nguyện Om mani padme hum huyền bí vang lên bên chùa Đại Chiêu, vang lên đôi môi thơm ngọt trà bơ...

... bất ngộ


Tầm ẩn giả bất ngộ
                   Giả Đảo

Tranh minh họa bài thơ của Giả Đảo.
Dòng chữ trên tranh: "Tùng hạ vấn đồng tử"
Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn: sư thái dược khứ,
chỉ tại thử sơn trung
Vân thâm bất tri xứ

Tạm dịch.
Dưới gốc tùng hỏi em bé.
Em nói: thầy đi hái thuốc rồi,
Chỉ tay vào núi rừng.
Mây dày chẳng biết (thày) ở chỗ nào.

寻隐者不
松 下 问 童 子
言 师 采 药 去
只 在 此 山 中
云 深 不 知 处

           

Lời bàn. Sau đó nhất định nhà thơ sẽ gặp ẩn sĩ. Đôi bạn tri âm tái ngộ chốn lâm tuyền.
               
Bình tranh vẽ.  Dưới cành tùng lâu năm la đà, em bé đang đi chăn ếch. Rất hài hước. Chưa nghe nói buộc ếch đi chơi, dây buộc vào cổ ếch thì buộc chỗ nào nhỉ? Thắc mắc vô ích vì đó là em bé! Trò chơi như vậy mới là trò của “em bé”, tư duy em bé.

Thứ Sáu, 25 tháng 5, 2012

Luận Anh Hùng

Tào Thào uống rượu luận anh hùng ...
                                 
Tào Tháo lấy tay trỏ vào Huyền Đức, rồi lại trỏ vào mình mà rằng.        
   - Anh hùng thiên hạ bây giờ chỉ có sứ quân với Tháo mà thôi.
                                                      

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Hội Toán 69 ĐHSP Hà Nội


                     
Năm 1969, tròn 17 tuổi, tôi vào học năm thứ nhất khoa Toán ĐHHSP Hà Nội II
(Hà Nội I là các khoa về môn xã hội). Nếu không có chiến tranh, năm 21 tuổi (1973), tôi TN ĐH cùng các Bạn, nhưng khi 20 tuổi (tháng Tư, 1972) nhập ngũ. Tháng 11/1975 học tiếp năm cuối, TN ĐH năm 1976.
                     
Ảnh lớp A15, kỳ hội khóa Toán 69,
tại Hải Phòng, ngày 6/1/ 2008

Hàng năm, từ năm 1994 đến nay, cứ đầu năm mới, khóa Toán69 của chúng tôi đều gặp mặt.
    

*****
Hội Toán 69 là gì?
                       

Hội viên Hội toán 69 ngày 8-1-2012
tại thị trấn Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Hội toán 69 là hội của những cựu sinh viên khoa toán thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhập trường năm 1969.
Trải qua hơn 40 năm học tập, rèn luyện, cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước cả trong thời chiến cũng như thời bình, ngày nay họ đều đã ở độ tuối về hưu, lên chức ông bà nội ngoại nhưng vẫn luôn nhớ về một thời đèn sách ở nơi sơ tán năm xưa: Thôn Tử Dương, xóm Cát, Miêng Thượng và Miêng Hạ thuộc huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội).
       
Kể từ năm 1994 tới nay, họ vẫn tổ chức họp mặt hàng năm với sự tham gia của hàng trăm người đều đặn, coi đó là dịp để các thành viên của Hội gặp gỡ, giao lưu và chia sẻ những kỷ niệm buồn, vui, những thăng trầm của cuộc sống đã qua hay hiện tại. Hội được tổ chức một cách đơn giản với Tiêu chí  TỰ NGUYỆN VÀ VUI VẺ, mong muốn lúc nào cũng được mở rộng cửa đón tất cả các bạn ở khắp mọi miền đất nước.

Chân dung Nhạc Bất Quần


Nhạc Bất Quần là một nhân vật lớn trong bộ tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Kim Dung. Nguyên Trung Hoa có năm ngọn núi (ngũ nhạc) nổi tiếng: Tung Sơn, Thái Sơn, Hằng Sơn, Hành Sơn và Hoa Sơn, mỗi ngọn núi có một kiếm phái. Nhạc Bất Quần là chưởng môn nhân phái Hoa Sơn, có ngoại hiệu là Quân tử kiếm.
                     
Về ngoại hình, Quân tử kiếm Nhạc Bất Quần là một "thư sinh có năm chòm râu dài, mặt đẹp như mặt ngọc, chính khí hiên ngang khiến người phải đem lòng ngưỡng mộ". Con người ấy đã trên sáu mươi tuổi nhưng nhờ tu luyện nội công nên nhìn qua, chỉ mới như cỡ bốn mươi. Ngoại hiệu của y là Quân tử kiếm cho nên không bao giờ đánh lén, đánh sau lưng người khác, ăn nói mực thước, không bao giờ lên tiếng tranh biện với ai. Ngược với cái tên Nhạc Bất Quần (không chơi với ai), y kết giao với rất nhiều bạn hào sĩ giang hồ chính phái.
Về tài năng, con người ấy là sư tôn một danh môn, có môn Tử hà công thâm hậu, sáng lập ra một Hoa Sơn kiếm pháp lấy nội công làm căn cơ, học và thấm nhuần những tư tưởng của người quân tử trong triết học đạo Nho, trở thành biểu tượng đẹp đẽ của chính phái, ghét tà phái và bọn tàn ác như kẻ cừu thù. Mỗi khi Nhạc Bất Quần xuất hiện trong phần đầu của Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung thường dùng hai chữ "tiên sinh" để ca ngợi Nhạc Bất Quần.
                               
Thế nhưng, toàn bộ những hào quang trên đây chỉ là những điều trá nguỵ, giả tạo. Từng bước, từng bước một, Kim Dung đã lột mặt nạ của Quân tử kiếm Nhạc Bất Quần, chỉ ra cho chúng ta thấy tính cách tàn bạo, thủ đoạn độc ác, âm mưu thâm hiểm của nhân vật này. Kim Dung xây dựng y như một hình mẫu "ngụy quân tử", loại người nguy hiểm và khó đối phó hơn cả "chân tiểu nhân". Tôi đã đọc 12 bộ tiểu thuyết của Kim Dung và thật sự kinh sợ nhân vậy nguỵ - Quân tử kiếm Nhạc Bất Quần. Những âm mưu, thủ đoạn của Nhạc Bất Quần vượt xa những tư duy thông minh của những cái đầu thông tuệ nhất.
                 
Nắm được nguồn tin phái Thanh Thành của Dư Thương Hải sắp tấn công Phước Oai tiêu cục ở Phúc Châu, Nhạc Bất Quần lẳng lặng cho nhị đệ tử Lao Đức Nặc dẫn con gái mình là Nhạc Linh San xuống Phúc Châu mở một quán rượu để theo dõi tình hình. Biết nhị đệ tử Lao Đức Nặc là đệ tử của Tả Lãnh Thiền chưởng môn phái Tung Sơn, vào "nằm vùng" trong nội bộ phái Hoa Sơn của mình, Nhạc Bất Quần vẫn làm ngơ như chẳng biết, lại còn giả vờ tin tưởng Lao Đức Nặc, giao cho hắn những nhiệm vụ khác. Đợi cho phái Thanh Thành tàn sát hết Phước Oai tiêu cục, bắt ông bà Lâm Chấn Nam đưa về núi Hành Sơn để tra hỏi cho ra bộ Tịch tà kiếm phổ của dòng họ Lâm, Nhạc Bất Quần âm thầm theo dõi. Nguyên Nhạc Bất Quần có một đại đệ tử tính tình rất phóng khoáng tên là Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung vì cứu nàng Nghi Lâm - một nữ ni cô thuộc phái Hằng Sơn nên phải kết giao với một tay thanh danh tàn tạ là Điền Bá Quang. Trong một dịp tình cờ, Lệnh Hồ Xung được nghe hai vị Lưu Chính Phong của phái Hành Sơn (chính phái) tấu nhạc cùng một người bạn là Khúc Dương trưởng lão của Ma giáo. Trước khi họ chết, họ đã tặng cho Lệnh Hồ Xung bộ cầm phổ và tiêu phổ Tiếu ngạo giang hồ. Lệnh Hồ Xung lại gặp và nhận lời di chúc của ông bà Lâm Chấn Nam trước khi chết: "Xin Lệnh Hồ Xung hiền điệt báo cho con ta hay dưới hầm một căn nhà cũ trong ngõ Hướng Dương có vật gì thì đó là vật tổ truyền của nhà họ Lâm, cần phải giữ gìn cho cẩn thận. Tằng tổ y là Viễn Đồ Công có để lại lời giáo huấn hết thảy con cháu bất luận là ai cũng không được mở coi mà sinh tai hoạ ghê gớm". Vật đó chính là Tịch tà kiếm phổ, một kiếm phổ ác độc của dòng họ Lâm!
                         
Phong cảnh Hoa Sơn
Lâm Bình Chi, con trai của ông bà Lâm Chấn Nam, đi từ Phúc Châu lên Hành Sơn tìm kiếm cha mẹ. Đợi cho Lâm Bình Chi lâm nguy, Nhạc Bất Quần mới ra tay giải cứu, và nhận gã làm đệ tử của phái Hoa Sơn. Nhân danh luật lệ của phái Hoa Sơn, Nhạc Bất Quần còn ra lệnh biệt giam đại để tử Lệnh Hồ Xung trên ngọn Ngọc Nữ phong. Ở đó, Lệnh Hồ Xung học được Hoa Sơn kiếm pháp với thái sư thúc tổ Phong Thanh Dương và học được đường Độc Cô cửu kiếm oai trấn giang hồ. Loại kiếm pháp này đi ngược lại kiếm pháp của Nhạc Bất Quần: lấy kiếm thế như nước chảy mây trôi làm căn cơ (kiếm tông) trong khi Nhạc Bất Quần lấy nội công làm căn cơ (khí tông).
                         
Biết được điều ấy, Nhạc Bất Quần vu cáo Lệnh Hồ Xung đã lấy được Tịch tà kiếm phổ, sai Lao Đức Nặc giám sát gã và sau đó ra thông báo đuổi gã ra khỏi phái Hoa Sơn vì tội "kết giao với Ma giáo" (Điền Bá Quang). Sự thật là Nhạc Bất Quần đã cướp đoạt tấm cà sa có chép Tịch tà kiếm phổ của họ Lâm. Lão nuôi tham vọng lên ngôi Minh chủ Ngũ Nhạc kiếm phái để từ đó lập ra Ngũ Nhạc phái (bỏ chữ kiếm) và sử dụng Lệnh Hồ Xung như một con cờ thí để đánh lạc hướng của các địch thủ khác. Biết Tả Lãnh Thiền, chưởng môn phái Tung Sơn, cũng có tham vọng như mình, đưa Lao Đức Nặc vào nằm vùng trong phái Hoa Sơn, nên lão đã chép bản kiếm phổ giả, tạo điều kiện cho Lao Đức Nặc đánh cắp về cho Tả Lãnh Thiền luyện chơi.
                      
Kiếm phổ giả và kiếm phổ thật khác nhau ở chỗ nào? Đó là một câu ghi trên kiếm phổ: "Võ lâm xưng hùng. Dẫn đao tự cung" (Muốn xưng hùng võ lâm, phải biết lấy đao tự thiến). Đúng như lời Lâm Chấn Nam di chúc: "Bất luận là ai cũng không được cởi mở ra coi mà sinh tai hoạ ghê gớm". Lâm Viễn Đồ (tức Viễn Đồ Công) ông nội của Lâm Chấn Nam, có con rồi mới luyện Tịch tà kiếm phổ. Khi dặn Lệnh Hồ Xung nói lại với Lâm Bình Chi câu ấy, ông Lâm Chấn Nam chỉ lo con trai mình nóng lòng trả thù cho cha mẹ, phải "dẫn đao tự cung" thì dòng họ Lâm phải tuyệt tự. Nhạc Bất Quần chép "tặng" Tả Lãnh Thiền cả bộ kiếm phổ, chỉ không chép câu "Dẫn đao tự cung" cho nên kiếm phổ của Tả Lãnh Thiền luyện là giả! Riêng Nhạc Bất Quần có kiếm phổ là lão "dẫn dao tự cung" mặc dù lão chỉ có Nhạc Linh San là con gái duy nhất. Mà với nhà nho ngày trước "Bất hiếu hữu tam,vô hậu vi đại" (bất hiếu có ba điều, trong đó không có con trai nối dõi là điều bất hiếu lớn nhất). Biết là như thế nhưng tham vọng của Nhạc Bất Quần lớn quá, lão quyết tự làm cho mình tuyệt tự.
                                     
Lệnh Hồ Xung lưu lạc giang hồ, kết bạn với một cô gái cực kỳ xinh đẹp. Cô gái ấy là Nhậm Doanh Doanh, con gái của Nhậm Ngã Hành, giáo chủ Triêu dương thần giáo (tức Ma giáo). Anh bị trọng thương mất hết công lực; Doanh Doanh phải cõng anh lên chùa Thiếu Lâm chịu để cho các nhà sư cầm tù mình để các nhà sư cứu mạng Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung được khỏi bệnh. Khi hiểu ra mối thâm tình của Doanh Doanh, anh quyết cùng bọn hào sĩ giang hồ tiến lên chùa Thiếu Lâm đòi thả Doanh Doanh ra.
                           
Trong buổi gặp gỡ tại chùa Thiếu Lâm, lần đầu tiên trong đời, Lệnh Hồ Xung rút kiếm ra đấu với sư phụ. Độc Cô cửu kiếm của anh hơn hẳn Hoa Sơn kiếm pháp của Nhạc Bất Quần. Nhạc Bất Quần sử đi sử lại ba chiêu Lãng tử hồi đầu (chàng lãng tử quay đầu lại), Thương tùng nghênh khách (những cây tùng xanh đón khách) và Tiêu Sử thừa long (Tiêu Sử cưỡi rồng mà bay). Ý của Nhạc Bất Quần đã rõ: lão khuyên Lệnh Hồ Xung nên trở về phái Hoa Sơn và lão sẽ gả Nhạc Linh San cho Lệnh Hồ Xung để Lệnh Hồ Xung có thể ung dung khoái hoạt như Tiêu Sử cưỡi rồng mà bay. Lệnh Hồ Xung nào không hiểu ý sư phụ. Nhưng anh dứt khoát phải cứu mạng Nhậm Doanh Doanh. Và đây cũng là lần đẩu tiên trong đời, kiếm pháp do Phong Thanh Dương phe Kiếm tông truyền thụ thắng lợi trước kiếm pháp phe Khí tông của Nhạc Bất Quần. Nhạc Bất Quần giận lắm, lão đá Lệnh Hồ Xung một cước và cái đá khiến lão gãy xương cẳng chân.
                      
Thực ra, chuyện gãy chân chỉ là một màn kịch tuyệt khéo mà chỉ có Nhạc Bất Quần mới nghĩ ra được. Lúc bấy giờ, lão đang đấu trước mặt Tả Lãnh Thiền, kẻ thù chính sau này của lão. Lão chưa tiện giở Tịch tà kiếm pháp ăn cắp của họ Lâm ra mà chỉ dùng Hoa Sơn kiếm pháp. Khi Hoa Sơn kiếm pháp bị Lệnh Hồ Xung đánh bại, lão nổi nóng đá Lệnh Hồ Xung khiến chân lão phải gãy. Chuyện gãy chân đó là do lão tự vận công mà làm gãy để cho Tả Lãnh Thiền phải mất cảnh giác, cho rằng công lực của lão không đáng kể. Quả nhiên, Tả Lãnh Thiền đã rơi vào bẫy khổ nhục kế của Nhạc Bất Quần.
                 
Hoa Sơn
Mọi âm mưu thủ đoạn của Nhạc Bất Quần đều được tiến hành rất khéo, dưới một bộ mặt nhân danh người quân tử, khiến mọi người hiểu lầm. Nhưng duy nhất có một người hiểu rõ mưu đồ của lão. Người đó là bà Ninh Trung Tắc, vợ của Nhạc Bất Quần. Hơn ai hết, bà biết chồng đã "dẫn đao tự cung" để luyện Tịch tà kiếm phổ vì từ khi luyện kiếm phổ, lão không hề chăn gối với bà! Nguy hiểm hơn, bà khám phá ra tâm tình lão đang biến đổi, trở thành người ái nam ái nữ, độc ác, thủ đoạn. Sáng nào, khi rũ chăn, bà cũng thấy những sợi râu của chồng rụng, và tiếng nói của lão ngày càng trở nên eo éo, do sự biến đổi phái tính. Bà khuyên lão đừng vu cáo Lệnh Hồ Xung nữa, từ bỏ giấc mộng làm minh chủ Ngũ nhạc phái và vứt bỏ tấm áo cà sa có chép Tịch tà kiếm phổ của dòng họ Lâm. Giả vờ nghe lời vợ, Nhạc Bất Quần vứt tấm áo cà sa xuống thung lũng núi Hoa Sơn.
                                             
Nhưng tấm áo cà sa đó đã không mất. Có một người đã nhặt được tấm áo đó sau nhiều năm rình rập ở căn phòng của Nhạc Bất Quần. Người đó là Lâm Bình Chi, con của ông bà Lâm Chấn Nam. Bình Chi đã nghi sư phụ đoạt được tấm áo cà sa của nhà mình và đã luyện được Tịch tà kiếm pháp của nhà mình. Hắn âm thầm theo dõi thầy và chụp được tấm áo cà sa bị vứt bỏ. Thế là quên mất lời dặn dò của cha, hắn vội vã "dẫn đao tự cung" ngay khi mới mười chín tuổi để luyện Tịch tà kiếm phổ!
                     
Một ngày nhìn ra hẻm núi, Nhạc Bất Quần không còn thấy tấm áo cà sa nữa. Lão biết có một ai đó đã lấy được kiếm phổ và "ai đó" chính là Lâm Bình Chi. Lão đánh tiếp một bước cờ thật cao: gả Nhạc Linh San, con gái yêu của lão cho Lâm Bình Chi. Vài đêm sau, lão dò hỏi Nhạc Linh San, hỏi con gái có "hạnh phúc" không. Nhạc Linh San nói dối lão rằng cô rất hạnh phúc. Thực ra từ khi "dẫn đao tự cung", Lâm Bình Chi đã trở thành một tay thái giám thì còn làm ăn gì được. Đêm nào hắn cũng ngủ riêng và thù ghét Nhạc Linh San ra mặt. Chính câu nói dối của Nhạc Linh San đã cứu mạng gã Lâm Bình Chi. Nếu cô nói rằng sau sau ngày cưới, Lâm Bình Chi chưa hề làm chồng cô đêm nào thì Nhạc Bất Quần sẽ biết ngay là Lâm Bình Chi đã luyện Tịch tà kiếm phổ và đã giết Lâm Bình Chi rồi.
                                                 
Bộ mặt thật của Nhạc Bất Quần chỉ hiện ra trong lần đại hội Ngũ nhạc kiếm phái trên ngọn Tung Sơn. Lão đẵ sử dụng Tịch tà kiếm pháp thứ thiệt đánh với Tịch tà kiếm pháp giả mạo của Tả Lãnh Thiền, đâm mù được đôi mắt Tả Lãnh Thiền bằng những ngón tay dịu dàng như thủ pháp một cô gái đang dùng kim thêu. Lão lên ngôi minh chủ Ngũ nhạc phái, đúng như dự kiến ban đầu. Bấy giờ, Lệnh Hồ Xung đã trở thành chưởng môn phái Hằng Sơn; lại được lão o bế, vỗ về khác xa với ngày đuổi Lệnh Hồ Xung ra khỏi môn phái. Bằng cái nhãn giới của người nhạy cảm, Doanh Doanh đã nói nhỏ vào tai tình lang Lệnh Hồ Xung ba tiếng nhận xét về Nhạc Bất Quần: "Nguỵ quân tử". Và chỉ đến lúc ấy Lệnh Hồ Xung mới cảm thấy cụm từ trên thật phù hợp với con người mà anh đã từng yêu mến, kính ngưỡng bấy lâu nay.
                                                  
Mọi chuyện về cuộc đời Nhạc Bất Quần kết thúc đúng như tinh thần chung của tiểu thuyết phương Đông: kẻ gieo gió phải gặt bão. Quân tử kiếm Nhạc Bất Quần trở thành một kẻ mất hết nhân tính, bỏ vợ, bỏ con, xa lánh học trò, rượt đuổi theo giấc mơ trở thành minh chủ võ lâm Trung Hoa. Nhưng than ôi, Tịch tà kiếm pháp của hắn không thể thắng được Độc Cô cửu kiếm mà Phong Thanh Dương đã truyền thụ cho Lệnh Hồ Xung. Để trừ hậu hoạ cho tình lang, Nhậm Doanh Doanh bóp mũi Nhạc Bất Quần, buộc lão phải há miệng uống một viên Tam thi não thần đan, thứ thuốc độc dùng để khống chế kẻ khác của Triêu Dương thần giáo. Cuối cùng lão bị tiểu ni cô Nghi Lâm đâm một kiếm qua đời. Còn Lâm Bình Chi, một kẻ tiểu nguỵ quân tử, phong cách ung dung nho nhã đúng y khuôn Nhạc Bất Quần sư phụ? Hắn cũng nổi điên, giết vợ là Nhạc Linh San. Đôi mắt bị đui mù, hắn theo Lao Đức Nặc về với Tả Lãnh Thiền. Giấc mơ Tịch tà kiếm phổ tàn lụi và thay vào đó là tiếng đàn sáo hài hoà trung chính của bộ cầm phổ-tiêu phổ Tiếu nhạo giang hồ trỗi lên.
                             
Năm 1996, trả lời câu hỏi của nhà báo Lê Văn Nghĩa trên tạp chí Kiến thức ngày nay, nhà báo Trần Bạch Đằng phát biểu, đại ý: nếu trên một hòn đảo cô độc, ông sẽ đem theo bộ Tiếu ngạo giang hồ để làm bạn vì ông rất ghét Nhạc Bất Quần và yêu Lệnh Hồ Xung. Suy nghĩ của ông Trần Bạch Đằng cũng là suy nghĩ của thế hệ độc giả đọc Tiếu ngạo giang hồ. Nhưng than ôi, giữa cuộc sống của chúng ta, những tay "Quân tử kiếm" cỡ Nhạc Bất Quần còn khá bộn! 
(sưu tầm)
         
Độc cô cửu kiếm đấu Tịch tà kiếm phổ.